Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập giá dự thầu trong đấu thầu mua sắm thiết bị tại công ty thiết bị y tế tw1 - hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập giá dự thầu trong đấu thầu mua sắm thiết bị tại công ty thiết bị y tế tw1 - hà nội": http://123doc.vn/document/1054218-mot-so-bien-phap-nham-hoan-thien-cong-tac-lap-gia-du-thau-trong-dau-thau-mua-sam-thiet-bi-tai-cong-ty-thiet-bi-y-te-tw1-ha-noi.htm


Từ những vấn đề trên đây có thể thấy thực chất của đấu thầu thể hiện ở các
khía cạnh sau:
* Thứ nhất: Đấu thầu là việc ứng dụng phơng pháp xét hiệu quả kinh tế
trong việc lựa chọn các đơn vị cung cấp thiết bị hàng hoá (các nhà thầu). Phơng
pháp này đòi hỏi sự so sánh, đánh giá giữa các nhà thầu trên cùng một phơng
diện (nh kỹ thuật, tài chính) và phải diễn ra theo một quy trình và căn cứ vào một
hệ thống các tiêu chuẩn nhất định để chọn lấy nhà thầu đủ khả năng sau đó lại so
sánh tiếp. Kết quả cuối cùng là chủ đầu t sẽ chọn đợc nhà thầu đáp ứng một cách
tốt nhất các yêu cầu của bên mời thầu.
* Thứ hai: Đấu thầu là việc tổ chức hoạt động cạnh tranh trên hai phơng
diện:
- Cạnh tranh giữa chủ đầu t (bên mời thầu) và nhà thầu (các đơn vị cung
cấp thiết bị hàng hoá).
- Cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Các quan hệ cạnh tranh này xuất phát từ quan hệ mua bán (cung - cầu)
trong đó ngời mua là chủ đầu t và ngời bán là các nhà thầu. Tuy nhiên hoạt động
mua bán này khác với hoạt động mua bán thông thờng ở chỗ: chủ đầu t bán việc
nhng phải trả tiền, nhà thầu mua việc nhng nhận đợc tiền. Ngời bán muốn bán
việc với giá rẻ nhất bởi vì họ phải trả tiền thanh toán cho ngời mua. Ngời mua lại
mong muốn mua đợc giá cao để tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho họ. Mặt khác
theo lý thuyết hành vi thì trong một vụ mua bán bao giờ ngời mua cũng cố gắng
để mua đợc hàng hoá với mức giá thấp nhất ở chất lợng nhất định, còn ngời bán
lại cố gắng bán đợc mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể. Do đó nảy sinh sự
cạnh tranh giữa ngời mua (chủ đầu t) và ngời bán (nhà thầu). Mặt khác, do hoạt
động mua bán này lại diễn ra chỉ với một ngời mua và nhiều ngời bán nên giữa
những ngời bán (các nhà thầu) phải cạnh tranh với nhau để bán đợc sản phẩm
của mình. Kết quả là thông qua việc tổ chức hoạt động cạnh tranh sẽ hình thành
giá thầu.
Trong việc lựa chọn nhà thầu có thể đợc thực hiện theo hai hình thức chủ
yếu sau:
- Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi là hình thức không hạn chế số lợng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phơng tiện thông tin đại chúng
và ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với các gói thầu lớn phức tạp về
5
công nghệ, kỹ thuật bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà thầu
có đủ t cách và năng lực tham gia dự thầu.
Hình thức này hiện nay đang đợc khuyến khích áp dụng nhằm đạt đợc tính
cạnh tranh cao trên cơ sở có sự tham gia của nhiều nhà thầu. Tuy nhiên hình thức
này chỉ đợc áp dụng đối với các loại thiết bị hàng hoá thông thờng không có yêu
cầu đặc biệt về công nghệ và kỹ thuật cũng nh không mang tính bí mật và tuỳ
theo từng dự án cụ thể trong phạm vi một địa phơng, một vùng, khu vực, toàn
quốc hay quốc tế.
- Đấu thầu hạn chế:
Đấu thần hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
Hình thức này hiện nay chỉ đợc áp dụng một trong các trờng hợp sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu đáp ứng đợc yêu càu của hồ sơ mời thầu nhng
tối thiểu phải có 3 nhà thầu có khả năng tham gia.
+ Các nguồn vốn sử dụng để mua thiết bị hàng hoá có yêu cầu cần tiến
hành đấu thầu hạn chế.
- Do yêu cầu về tiến độ giao hàng để thực hiện dự án đợc ngời có thẩm
quyền quyết định đầu t chấp nhận.
- Do tính chất của hàng hoá thiết bị cần mua sắm đòi hỏi phải tiến hành
đấu thầu hạn chế.
Để tiến hành việc thực hiện đấu thầu thì chủ đầu t có thể áp dụng các ph-
ong thức chủ yếu sau:
* Đấu thầu một túi hồ sơ (một phong bì)
Khi đấu thầu theo phơng thức này nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ
thuật, tài chính, giá bó thầu và những điều kiện khác trong một túi hồ sơ chung.
* Đấu thầu hai túi hồ sơ (Hai phong bì)
Khi đấu thầu theo phơng thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ
thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm.
Túi hồ sơ về kỹ thuật sẽ đợc xem xét trớc để đánh giá, xếp hạng. Nhà thầu đợc
xếp hạng thứ nhất về kỹ thuật sẽ đợc xem xét tiếp túi hồ sợ đề xuất về tài chính.
Trong trờng hợp nhà thầu không đáp ứng đợc các yêu cầu về tài chính và các
điều kiện của hợp đồng, bên mời thầu phải xin ý kiến của ngời có thẩm quyền
quyết định đầu t, nếu đợc chấp thuận mới đợc mời nhà thầu tiếp theo để xem xét.
6
* Đấu thầu hai giai đoạn.
Phơng pháp này áp dụng cho những dự án lớn, phức tạp về công nghệ và
kỹ thuật. Trong quá trình xem xét, chủ đầu t có điều kiện hoàn thiện yêu cầu đòi
hỏi của thiết bị hàng hoá về mặt công nghệ, kỹ thuật và các điều kiện tài chính
của hồ sơ mời thầu.
- Giai đoạn thứ nhất: Các nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và phơng án tài
chính sơ bộ (cha có giá0 để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng
nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chính
thức chuẩn bị và nộp đề xuất kỹ thuật của mình.
- Giai đoạn thứ hai: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai
đoạn thứ nhất nộp đề xuất kỹ thuật đã đợc bổ sung hoàn thiện trên cùng một mặt
bằng kỹ thuật và đề xuất đầy đủ các điều kiện tài chính, tiến độ thực hiện, điều
kiện hợp đồng, giá bó thầu để đánh giá và xếp hạng.
* Chào hàng cạnh tranh.
Phơng thức này chỉ áp dụng cho các gói thầu mua sắm thiết bị hàng hoá
có quy mô nhỏ và đơn giản, mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 bản chào giá của ba
nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu của bên mời thầu. Nhà thầu đáp ứng yêu
cầu và có giá bó thầu đợc đánh giá thấp nhất sẽ đợc xem xét trao hợp đồng.
* Mua sắm trực tiếp.
Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp ngời có thẩm quyền quyết định
đầu t cho phép đối với các loại thiết bị hàng hoá có nhu cầu gấp để hoàn thành
dự án mà trớc đó các loại vật t thiết bị này đã đợc tiến hành đấu thầu và đợc ngời
có thẩm quyền quyết định đầu t cho phép thực hiện.
* Mua sắm đặc biệt.
Đợc áp dụng cho các trờng hợp đặc biệt (Ngoài các phơng thức nêu trên)
để thực hiện đợc phơng thức này chủ đầu t phải xây dựng phơng án thực hiện
trình Thủ tớng Chính phủ xem xét và quyết định.
1.1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu mua bán hàng hoá thiết bị
Đấu thầu mua bán hàng hoá là một trong các phơng thức hoạt động thơng
mại. ở phơng thức này so với các phơng thức khác có một số đặc điểm đáng lu ý
sau:
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá thờng đợc áp dụng trong những tr-
ờng hợp mua sắm hàng hoá thiết bị có khối lợng lớn, quy cách phẩm chất phức
7
tạp, có yêu cầu kỹ thuật và công nghệ cao đã đợc ngời mua xác định trớc và nêu
đầy đủ rõ ràng trong hồ sơ mời thầu đến các nhà thầu.
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá là một phơng thức giao dịch đặc
biệt, chỉ diễn ra ở một địa điểm, trong thời gian xác định. Thời gian và địa điểm
của mỗi cuộc đấu thầu thờng đợc nêu rõ trong thông báo mời thầu trên các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng.
- Đối tợng mua bán không nhất thiết phải là những hàng hoá thiết bị có
sẵn mà mua bán dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật. Từ đó ngời bán sẽ xác định đợc
hàng hoá thiết bị cần bán cho ngời mua dựa vào các tiêu chuẩn kỹ thuật này.
- Trong đấu thầu chỉ có một ngời mua nhng có nhiều ngời bán và giá hình
thành là giá thấp nhất giữa các nhà thầu tham gia đấu thầu.
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá đã tạo đợc môi trờng cạnh tranh bình
đẳng lành mạnh giữa các nhà thầu với nhau. Giá mua sắm thiết bị thấp nhất là
giá mong muốn của chủ đầu t.
1.1.2 Vai trò của đấu thầu mua bán trong hoạt động mua bán của
doanh nghiệp.
Nh đã đề cập ở phần trên, có thể thấy đấu thầu là một phơng thức để quản
lý và thực thi hoạt động mua bán thiết bị hàng hoá. Tuy đây không phải là phơng
thức duy nhất nhng mang tính phổ biến và đợc thực hiện trên nhiều lĩnh vực.
Việc vận dụng rộng rãi phơng thức đấu thầu trong lĩnh vực mua bán thiết bị hàng
hoá không những ở nớc ta mà còn ở nhiều nớc trên thế giới là vai trò to lớn của
nó. Vai trò này đợc thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu dới đây ???? cả hai chủ
thể: Chủ đầu t và nhà thầu:
1.1.2.1 Đối với chủ đầu t.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu t sẽ lựa chọn nhà thầu có khả năng đáp ứng
đợc tốt nhát các yêu cầu tài chính giá cả, kỹ thuật, tiến độ đặt ra của hàng hoá.
Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu t vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu t, đồng
thời vẫn bảo đảm đợc chất lợng và tiến độ giao hàng. Vì trong đấu thầu có sự
cạnh tranh gay gắt giữa các nhà thầu, chỉ một mặt hàng nhng lại có nhiều nhà
thầu tham gia và nhiều khi giữa các nhà thàu sự chênh lệch về khả năng là không
đáng kể nên cạnh tranh càng gay gắt. Do đó chủ đầu t chọn nhà thầu nào có giá
thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lợng và tiến độ. Hình thức này giúp chủ đầu t
nắm đợc quyền chủ động hoàn toàn tránh tình trạng phụ thuộc vào một nhà thầu.
8
Chỉ khi đã có sự chuẩn bị đầu t kỹ lỡng về tất cả mọi mặt chủ đầu t mới mời thầu
và tiến hành đấu thầu cung cấp hàng hoá thiết bị.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu t phải đánh giá các hồ sơ dự thầu. Điều này
đòi hỏi các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu của chủ đầu t phải tự nâng cao
trình độ về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu thực tế. Kết quả là nâng cao trình độ,
năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên.
1.1.2.2 Đối với nhà thầu
- Hoạt động đấu thầu đợc tổ chức theo nguyên tắc công khai và bình đẳng
nhờ đó các nhà thầu sẽ phát huy đợc tính năng động trong tìm kiếm cơ hội tham
gia dự thầu. Họ phải tích cực tìm kiếm các thông tin mời thầu trên các phơng
tiện thông tin đại chúng, gây dựng mối quan hệ tốt với các tổ chức trong và
ngoài nớc. Tự tìm cách tăng cờng uy tín của mình để có cơ hội dự thầu và trúng
thầu tạo công ăn việc làm và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Việc tham gia đấu thầu, trúng thầu và thực hiện dự án đầu t theo hợp đồng
làm cho nhà thầu tập trung đồng vốn của mình, từ đó có quyết định đúng tăng năng
lực cung cấp máy móc thiết bị khi yêu cầu của các chủ đầu t là khác nhau.
- Tham gia đấu thầu là một quá trình phức tạp, những yêu cầu của chủ đầu
t và công việc nh lắp đặt bảo hành, chuyển giao công nghệ sẽ giúp cho các nhà
thầu hoàn thiện về tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, nâng cao trình
độ và năng lực của cán bộ công nhân viên của mình.
- Nhờ hoạt động đấu thầu còn giúp nhà thầu mở rộng thị trờng tiêu thụ
phát triển các mối quan hệ tốt với khách hàng. Đồng thời bảo đảm an toàn và
hạn chế rủi ro bán một cách có lợi nhất.
1.2 Giá dự thầu và các nhân tố tác động tới công tác lập
giá dự thầu.
1.2.1 Giá dự thầu và các yếu tố cấu thành chi phí trong giá dự thầu.
1.2.1.1 Khái niệm về giá dự thầu.
Khi tham gia dự thầu thì công việc mà nhà thầu nào cũng phải làm là cho
ra đợc một giá dự thầu. Đây là công việc hết sức quan trọng, mất nhiều công sức
nhất và nó quyết định đến khả năng thắng thầu của các nhà thầu. Nhất là đối với
đấu thầu mua sắm thiết bị hàng hoá. Bởi vì các thiết bị hàng hoá đều có một cấu
hình chung thống nhất và tiêu chuẩn kỹ thuật tơng đơng nhau do vậy mà giá dự
9
thầu đóng vai trò quyết định trong dự thầu của các nhà thầu. Vì vậy việc hiểu giá
dự thầu là gì ? Nó khác với các giá khác trong đấu thầu nh thế nào là điều mà
mỗi nhà thầu đều phải hiểu khi dự thầu. Theo Nghị định 88/Chính Phủ về việc
ban hành quy chế đấu thầu ngày 1/9/99 thì:
- Giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ đi
phần giảm giá (nếu có) gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu.
Nh vậy có thể thấy giá dự thầu là giá do các doanh nghiệp tham gia tranh thầu
lập ra dựa trên yêu cầu của hồ sơ mời thầu, các quy định chung, kinh nghiệm
thực tế và ý đồ chiến lợc tranh thầu. Giá dự thầu có nhiều mức khác nhau nó tuỳ
thuộc vào chủ quan của mỗi nhà thầu. Thờng thì các nhà thầu tự lập đơn giá trên
cơ sở điều kiện của mình và giá cả thị trờng. Vì vậy mà nhà thầu phải ghi rõ từng
chi phí theo mẫu của bên mời thầu, nếu không những chi phí này không đợc bên
mời thầu thanh toán. Nhìn chung giá dự thầu thờng thấp hơn giá xét thầu là mức
giá do chủ đầu t dự kiến trớc để xét thầu. Nếu thắng thầu thì giá dự thầu trở
thành giá ký hợp đồng và đó là giá cả mua bán qua lại giữa bên mời thầu và bên
dự thầu.
1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành chi phí trong giá dự thầu.
Trong đánh giá và xét thầu các chủ đầu t thờng quan tâm đến 4 loại tiêu
chuẩn sau: tiêu chuẩn tài chính giá cả, tiêu chuẩn kỹ thuật chất lợng, tiêu chuẩn
kinh nghiệm và tiêu chuẩn tiến độ giao hàng. Nếu cha tính đến các tiêu chuẩn
khác thì nhà thầu nào có giá bó thầu thấp nhất và điều kiện tín dụng thích hợp thì
nhà thầu đó có khả năng cạnh tranh và thắng thầu cao. Bởi vậy bất cứ nhà thầu
nào khi tham gia dự thầu đều phải hiểu rõ các yếu tố chi phí cấu thành nên giá
dự thầu để có biện pháp giảm thiểu các yếu tố này để tăng khả năng thắng thầu.
Tuy vậy, với mỗi doanh nghiệp có rất nhiều yếu tố chi phí cấu thành nên giá dự
thầu. ở đây chỉ đi sâu vào một số yếu tố chi phí chính cấu thành nên giá dự thầu.
1.2.1.2.1 Dự toán các loại chi phí trong giá dự thầu.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay diễn ra cả ở
trong và ngoài nớc. Bởi vậy nguồn gốc của các thiết bị hàng hoá đem dự thầu
cũng có nguồn gốc cả trong và ngoài nớc. Chính vì vậy cần phân ra làm hai loại:
* Với hàng hoá thiết bị nhập từ nớc ngoài.
- Giá bản thân thiết bị hàng hoá đợc chào là giá CIF hoặc CIP tại biên giới
hoặc tại nơi đến trong phạm vi nớc của nhà thầu. Trong điều kiện hiện nay phần
lớn các doanh nghiệp của Việt Nam kinh doanh xuất nhập khẩu đều chọn phơng
thức giao hàng này. Vì theo phơng thức này ngời bán có nghĩa vụ giao hàng tại
10
một địa điểm đợc xác định trong hợp đồng. Toàn bộ các chi phí liên quan đến
việc giao hàng ngời bán phải chịu. Chỉ khi hàng đã đợc trao cho ngời mua thì ng-
ời bán mới hết nghĩa vụ. Giá này đợc tính nh sau:
CIF = C + I + F
Trong đó: C: giá bán thân hàng hoá.
I: Cớc phí vận chuyển.
F: Phí bảo hiểm.
* Cớc phí vận chuyển gồm hai loại:
+ Cớc phí vận chuyển với tàu chợ do bản thân các chủ tàu, công hội hàng
hải quy định trớc trong các biểu cớc tàu chợ. Loại cớc này thờng cố định cho nên
có thể dự toán và lập kế hoạch tính toán chi phí vận chuyển và chi phí công vụ.
+ Cớc phí vận chuyển với tàu chuyến đợc quy định trên cơ sở thoả thuận
giữa chủ tàu và ngời thuê tàu trong hợp đồng. Do vậy nó thờng xuyên biến động
nên khó có thể dự đoán và lập kế hoạch tính toán chi phí vận chuyển và chi phí
công vụ.
* Phí bảo hiểm do ngời bán phải trả cho ngời mua. Phí này đợc tính theo
công thức:
F = Số tiền bảo hiểm x Phí suất bảo hiểm (r)
- Các thiết bị hàng hoá đợc chào giá là giá FOB hoặc FCA (giao cho ngời
vận tải) tuỳ theo từng trờng hợp. Phần lớn phơng thức giao hàng này chỉ đợc áp
dụng trong các hợp đồng xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì theo phơng thức này ngời
bán sẽ hết nghĩa vụ cũng nh chi phí sau khi giao hàng cho ngời mua lên phơng
tiện vận chuyển tại nớc ngời bán. Vì vậy giá này có thể coi là giá gốc của hàng
hoá thiết bị tại nớc ngời bán.
- Giá thiết bị hàng hoá chào giá là giá CFR (tiền hàng và cớc phí vận
chuyển đến cảng đích quy định của ngời mua)
Khi chào giá nhà thầu sẽ căn cứ vào từng loại thiết bị hàng hoá đem đấu
thầu đợc mua theo phơng thức giao nhận nào mà xác định giá chào thầu thích
hợp và giá này phải đợc ghi rõ ràng trong biểu giá dự thầu. Tuy nhiên nếu chủ
đầu t yêu cầu quy đổi về cùng một loại giá thì có thể thấy mối quan hệ giữa các
loại giá trên theo công thức:
CIF =
CIF =
Trong đó: r: là phí suất bảo hiểm.
11
- Cớc phí bốc dỡ hàng hoá: thông thờng có 3 cách mà ngời mua và chủ tàu
có thể thoả thuận trong hợp đồng thuê tàu.
+ FI (Free in) ngời vận chuyển đợc miễn chi phí bốc hàng và chịu trách
nhiệm về chi phí dỡ hàng.
+ FO (Free out) ngời chủ phơng tiện vận chuyển đợc miễn chi phí dỡ, phải
chịu trách nhiệm bốc hàng.
+ FIO: Ngời vận chuyển đợc miễn chi phí bốc và dỡ hàng.
- Các chi phí liên quan đến vận chuyển, bảo quản, bảo hiểm và các chi phí
khác trong nớc liên quan đến việc giao thiết bị hàng hoá từ cảng đến nơi nhận
cuối cùng nếu đợc quy định trong bảng dữ liệu đấu thầu.
- Chi phí cho các dịch vụ có liên quan nh: chi phí kiểm nghiệm thủ tục hải
quan, chi phí mở L/C, phí uỷ thác đã liệt kê trong bảng dữ liệu đấu thầu.
- Thuế nhập khẩu và thuế VAT (Nếu có)
* Đối với hàng hoá thiết bị trong nớc của nhà thầu.
- Giá thiết bị hàng hoá chào giá là giá EXW (giao tại xởng sản xuất) giá
này có thể xuất ở kho bãi, phòng trng bày hoặc tại cửa hàng của ngời bán. Nh đã
quy định trong bảng dữ liệu đấu thầu, kể cả các khoản thuế nhập khẩu, thuế
VAT đầu vào, các khoản thuế khác đã trả hoặc phải trả với các chi tiết hoặc
nguyên vật liệu dùng cho sản xuất hoặc lắp ráp thiết bị hàng hoá trớc đây đã
nhập từ nớc ngoài.
- Các chi phí liên quan đến vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, bảo hiểm liên
quan đến việc vận chuyển hàng hoá thiết bị đến nơi nhận.
- Các chi phí liên quan nh lắp đặt, hớng dẫn chuyển giao công nghệ thiết
bị hàng hoá cho ngời mua.
- Thuế VAT và thuế khác nhà thầu phải trả khi cung cấp thiết bị hàng hoá
nếu đợc trao hợp đồng.
1.2.1.2.2 Mức lãi mà nhà thầu dự kiến thu đ ợc.
Mức lãi này không phải đợc xác định theo một định mức nào cả mà phụ
thuộc vào chủ quan của nhà thầu. Thờng thì mức lãi này đợc tính theo một tỷ lệ
phần trăm nhất định so với giá dự thầu của hàng hoá thiết bị. Nhng do giá dự
thầu hàng hoá thiết bị thờng là lớn nên chỉ cần một tỷ lệ lãi nhỏ thì giá trị thu đ-
ợc cũng rất lớn.
Giá do nhà thầu chào sẽ phải cố định trong quá trình thực hiện hợp đồng
của nhà thầu và không bị ảnh hởng bởi sự biến động cho bất kỳ nguyên nhân
12
nào. Do vậy tất cả các chi phí phát sinh nhà thầu phải đa vào. Chủ đầu t sẽ không
thanh toán các chi phí nhà thầu không đa vào mà nhà thầu phải chịu. Do vậy mà
lãi dự tính của nhà thầu đa vào phải dựa trên các yếu tố nh:
- Tỷ suất lợi nhuận các mặt hàng mà nhà thầu đã thực hiện trong thời gian
qua có tính đến biến động của giá và các điều kiện khác.
- Lãi suất tiền gửi ngân hàng và chỉ số trợt giá.
1.2.2 Các nhân tố tác động tới công tác lập giá dự thầu.
1.2.2.1 Các nhân tố thuộc quan hệ cung cầu.
Công tác lập giá dự thầu suy cho cùng chính là việc đa ra một giá dự thầu
tuy nhiên việc đa ra mức giá này lại phụ thuộc vào sự biến động của tình hình
cung - cầu về hàng hoá thiết bị đa ra đấu thầu. Chính sự biến động của quan hệ
này đã ảnh hởng trực tiếp tới việc quyết định đa ra giá dự thầu của nhà thầu. Ta
có thể thấy tác động của nó tới công tác lập giá dự thầu của nhà thầu nh sau:
- Số lợng các nhà thầu tham gia tranh thầu. Đây là nhân tố có ảnh hởng rất
lớn tới công tác lập giá dự thầu nhiều khi làm thay đổi hoàn toàn mức giá dự
thầu dự kiến của nhà thầu. Nếu số lợng các nhà thầu tham gia dự thầu càng đông
thì quyết định đa ra một mức giá tranh thầu cao sẽ là rất khó khăn và khi đó cơ
hội thắng thầu sẽ rất khó vì giá dự thầu tỷ lệ nghịch với khả năng thắng thầu.
Hơn nữa càng đông nhà thầu thì tính chất cạnh tranh sẽ càng quyết liệt điều này
sẽ gây khó khăn cho các nhà thầu trong việc thu thập thông tin về đối thủ tranh
thầu làm cho việc đánh giá giá dự thầu sẽ càng khó khăn từ đó ảnh hởng tới việc
đa ra chiến lợc tranh thầu hợp lý của nhà thầu.
- Vòng đời của hàng hoá dự thầu: phụ thuộc vào ngành, công nghệ và thị
trờng gắn với từng giai đoạn của chu kỳ sống nhà thầu sẽ phải có quyết định về
giá khác nhau. Nhà thầu sẽ không thể đặt giá cao đối với những thiết bị hàng hoá
đang ở giai đoạn suy thoái. Nhiều khi với những hàng hoá này nhà thầu sẽ chọn
giải pháp lãi thấp hoặc không có lãi để tiêu thụ đợc nhằm làm giảm chi phí do sự
ứ đọng vốn giả tạo gây nên.
- Cầu có khả năng thanh toán của bên mời thầu: Rõ ràng là khi cầu về một
loại hàng hoá nào đó càng cao thì càng có thuận lợi trong việc nâng giá. Nhng
trong dự thầu thì rất khó có thể nâng giá cao đợc vì nó còn phụ thuộc vào nguồn
vốn thanh toán của bên mời thầu. Hiển nhiên nhà thầu sẽ không thể đa ra một
mức giá quá cao vợt quá mức quyết toán đợc duyệt của bên mời thầu, vì vậy vấn
13
đề đặt ra là nhà thầu phải đa ra một mức giá hợp lý vừa đảm bảo khả năng thắng
thầu vừa hợp lý đối với bên mời thầu.
2.2.2 Các nhân tố thuộc về yếu tố chi phí.
Bên cạnh các nhân tố cung - cầu tác động đến giá dự thầu của nhà thầu thì
bản thân nhân tố liên quan đến các yếu tố cấu thành nên chi phí dự thầu cũng có
ảnh hởng rất lớn tới giá dự thầu vì sự thay đổi của giá dự thầu liên quan đến sự
thay đổi của các yếu tố chi phí cấu thành nên giá dự thầu. Ta có thể thấy ảnh h-
ởng của chúng nh sau:
- Lãi suất tín dụng: Trong nền kinh tế thị trờng bất kỳ doanh nghiệp nào
không phải lúc nào cũng có điều kiện tài chính thuận lợi. Lúc này sẽ phát sinh
quan hệ tín dụng khi đó sẽ hình thành lãi suất tín dụng. Nh vậy lãi suất tín dụng
là tỷ lệ % tính theo một thời hạn xác định (ngày, tháng, quý, năm) dùng làm căn
cứ để tính toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả hoặc nhận đ-
ợc (đối với chủ thể cho vay) để điều hoà lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan
hệ tín dụng. Vì vậy đối với nhà thầu khi phát sinh quan hệ họ phải trả lãi suất
cho những khoản mà họ vay. Chính vì vậy nếu những khoản vay này dùng để
mua hàng hoá thiết bị dự thầu hoặc có liên quan đến dự thầu thì lãi suất cao hay
thấp sẽ tác động đến giá dự thầu tăng hay giảm.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ giữa giá trị đồng tiền nớc
này với giá trị đồng tiền nớc khác. Về thực chất nó biểu thị sức mua tổng hợp
của hai loại đồng tiền qua tất cả các loại hàng hoá dịch vụ. Trong thơng mại thì
tỷ giá hối đoái là cần thiết để xác định giá cả của hàng hoá xuất nhập khẩu. Sự
dao động của tỷ giá hối đoái có ảnh hởng đến hầu hết các hoạt động kinh tế đối
ngoại. Khi tỷ giá giảm tức giá trị đồng nội tệ giảm làm cho giá hàng hoá nhập
khẩu tăng. Ngợc lại tỷ giá tăng giá trị đồng nội tệ tăng thì giá hàng hoá nhập
khẩu giảm. Đấu thầu mua sắm thiết bị càng không nằm ngoài sự ảnh hởng của
sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nó tác động đến giá cả của hàng hoá xuất nhập
khẩu chính là ảnh hởng đến giá bỏ thầu. Vì vậy trong công tác lập giá dự thầu
đòi hỏi các nhà thầu phải chú ý đến vấn đề này.
- Lạm phát: Bất kỳ một dự án đầu t nào cũng cần phải có thời gian nhất
định để thực hiện. Lạm phát làm giảm giá trị đồng tiền theo thời gian. Chính vì
vậy nó tác động không nhỏ tới giá bó thầu.
- Thuế: Trong quá trình thực hiện công tác lập giá dự thầu nhà thầu phải
tính cả chi phí là thuế vào giá dự thầu. Bởi vậy thuế cao hay thấp đều có tác động
làm tăng hay giảm giá dự thầu cũng nh lãi mà nhà thầu nhận đợc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét