Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

phân tích, đánh giá hiệu quả thực thi danh mục và áp dụng trên thị trường chứng khoán việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phân tích, đánh giá hiệu quả thực thi danh mục và áp dụng trên thị trường chứng khoán việt nam": http://123doc.vn/document/1047753-phan-tich-danh-gia-hieu-qua-thuc-thi-danh-muc-va-ap-dung-tren-thi-truong-chung-khoan-viet-nam.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũng
hàm nghĩa rằng một khi đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính
xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình.
3.4. Nguyên tắc trung gian
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch được thực hiện thông qua
tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường chứng khoán
sơ cấp các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua
từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, các nhà môi giới mua,
bán chứng khoán giúp các khách hàng.
3.5. Nguyên tắc tập trung
Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị
trường OTC, có sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước.
4. Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán
4.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người tổ chức thực hiện huy động vốn
thông qua thị trường chứng khoán, nhà phát hành là người cung cấp các
chứng khoán – hàng hóa của thị trường chứng khoán.
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phương.
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các
trái phiếu …
4.2. Nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là người thực sự mua và bán chứng khoán
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham
gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy
nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi
ro càng lớn và ngược lại.
Các nhà đầu tư có tổ chức thường xuyên mua và bán chứng khoán với
số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức này thường có các bộ phận gồm
nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các
quyết định đầu tư.
4.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo
lãnh phát hành, môi giới, quản lý quỹ đầu tư, tư vấn chứng khoán.
Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạng
hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán.
4.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khóan…
5. Hàng hóa tham gia thị trường Chứng khoán
5.1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp đối với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần.
- Cổ phiếu thường: Nếu một công ty chỉ được phép phát hành một loại
cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu thường. Cổ phiếu thường mang lại cho cổ
đông các quyền sau:
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Quyền hưởng cổ tức: Cổ phiếu thường không quy định cổ tức tối
thiểu hay tối đa mà cổ đông được nhận. Tỷ lệ cũng như hình thức chi trả cổ
tức cho cổ đông tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và vào chính
sách của công ty.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông thường chỉ được nhận những
gì còn lại sau khi công ty trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như thuế, nợ, và
cổ phiếu ưu đãi.
• Quyền mua cổ phiếu mới
• Quyền bỏ phiếu
- Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi thường không cho cổ đông quyền bỏ phiếu, song lại
định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá.
Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được lượng cổ
tức cố định theo tỷ lệ đã định. Trong trường hợp công ty không có đủ lợi
nhuận để trả theo tỷ lệ đó, nó sẽ trả theo khả năng có thể, nhưng một khi cổ
đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông thường cũng chưa được trả.
5.2. Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát
hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho
vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể,
và phải hòan trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
- Trái phiếu công ty là những trái phiếu do công ty phát hành để vay
vốn dài hạn .
- Trái phiếu chính phủ là những trái phiếu do Chính phủ phát hành
nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làm
công cụ điều tiết tiền tệ.
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Trái phiếu công trình là những trái phiếu do Chính phủ trung ương
hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn cho những mục
đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công
trình phúc lợi công cộng.
5.3. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là chứng khoán cho phép người nắm
giữ chứng nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể
đổi nó lấy một chứng khoán khác.
Thông thường cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổ phiếu thường
và trái phiếu cũng được chuyển đổi thành cổ phiếu thường.
5.4. Các công cụ phái sinh
Các công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở
những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu… nhằm nhiều mục tiêu khác
nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
- Quyền lựa chọn
- Quyền mua trước
- Chứng quyền
- Hợp đồng kỳ hạn
- Hợp đồng tương lai
II. QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ DANH
MỤC ĐẦU TƯ
1. Khái niệm về quản lý danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư chứng khoán : Là các khoản đầu tư của một cá nhân hoặc
tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, đầu
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các loại tài sản khác. Mục đích của
danh mục đầu tư là giảm rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là xây dựng một danh mục các
loại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất nhu cầu của chủ đầu tư và
sau đó thực hiện theo dõi điều chỉnh các danh mục này nhằm đạt được những
mục tiêu đầu tư đề ra. Yếu tố quan trọng đầu tiên mà chủ đầu tư quan tâm là
mức độ rủi ro mà họ chấp nhận, và đây là cơ sở để công ty thực hiện quản lý
danh mục đầu tư, quản lý quỹ xác định danh mục đầu tư sao cho lợi tức thu
được là tối ưu với rủi ro không vượt quá mức chấp nhận đã định trước.
Công ty quản lý danh mục đầu tư : là công ty chuyên nghiệp chịu trách
nhiệm đối với danh mục đầu tư chứng khoán của cá nhân hoặc tổ chức đầu tư.
Công ty được hưởng phí quản lý danh mục đầu tư và có quyền tự quyết định
việc lập danh mục đầu tư cho khách hàng trong khuôn khổ và hạn chế thỏa
thuận với khách hàng. Rủi ro, lợi nhuận cũng như thua lỗ của danh mục đầu
tư đều do khách hàng được hưởng hoặc gánh chịu trong phạm vi đã thỏa
thuận với công ty quản lý danh mục đầu tư.
Bản chất của quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là định lượng mối
quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng thu được từ danh mục đó.
Tóm lại, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là quá trình
quản lý tài sản của một định chế hoặc của một cá nhân đầu tư bao gồm từ việc
định giá, phân tích chứng khoán, lựa chọn đầu tư, theo dõi các kết quả đầu tư
và phân bổ vốn đầu tư, và đánh giá kết quả đầu tư.
Việc phân bổ tài sản là việc lựa chọn một tỷ lệ đầu tư trong danh mục
phân bổ cho các loại tài sản chính nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn cao
nhất với một mức rủi ro thấp nhất có thể. Tuy nhiên trong quá trình đầu tư,
người quản lý có thể thay đổi các tỷ lệ đã định này nhằm tận dụng cơ hội xuất
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiện tại thời điểm đó nhằm đạt được mức lợi tức cao hơn nữa. Ví dụ, nếu
người quản lý nhận định rằng triển vọng đối với cổ phiếu là khả quan hơn đối
với trái phiếu trong thời gian tới, người quản lý có thể tăng đầu tư cổ phiếu và
giảm đầu tư trái phiếu trong danh mục của mình. Đồng thời, trong cùng một
loại tài sản, người quản lý có thể lựa chọn các chứng khoán có lợi tức mong
đợi lớn hơn mức trung bình của loại tài sản đó.
2. Vai trò của nghiệp vụ quản lý danh mụcđầu tư đối với nhà đầu tư
Nếu thị trường là hiệu quả thì câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà đầu tư
trong thực tế phải tốn công sức trong việc lựa chọn cổ phiếu cho danh mục
đầu tư cho họ? Tại sao họ không thiết kế một danh mục đầu tư theo đúng các
chỉ số có trên thị trường?
Một số các lý do sau đây giải thích vai trò cần thiết của quản lý danh
mục đầu tư:
• Sự cần thiết trong việc tạo lập một danh mục đầu tư được đa dạng
hóa theo đúng yêu cầu của nhà đầu tư. Thậm chí trường hợp giá cả của mọi
chứng khóan được định giá đúng với giá trị của nó nhưng mỗi chứng khoán
này vẫn chứa đựng rủi ro mang tính chất cá biệt của công ty. Những rủi ro
này chỉ có thể loại bỏ thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Vai trò
quản lý sẽ phát huy tác dụng để tạo ra một danh mục đầu tư phù hợp với mức
rủi ro hệ thống mà nhà đầu tư mong muốn.
• Quản lý danh mục đầu tư còn chịu tác động của tâm lý nhà đầu tư
đối với rủi ro.
• Việc lựa chọn các chứng khoán để đầu tư phải tính đến ảnh hưởng
của thuế. Những nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn có
trong danh mục của mình những chứng khoán giống như các nhà đầu tư chịu
thuế suất thấp.
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có những nhu cầu riêng trong
chính sách lựa chọn danh mục đầu tư liên quan đến mức rủi ro phải gánh chịu.
3. Một số mô hình quản lý danh mục đầu tư
Như đã phân tích ở trên, khái niệm danh mục đầu tư (portfolio) là khái
niệm chỉ một tập hợp các tài sản tài chính của nhà đầu tư. Mối quan hệ của
portfolio và các chứng khoán đơn lẻ là hiệu quả của từng chứng khoán sẽ
phản ánh vào hiệu quả hoạt động nói chung của portfolio đang xét. Tuy nhiên,
đối với các nhà đầu tư chứng khoán, lợi suất tổng thể của cả portfolio mới là
quan trọng bậc nhất.
3.1. Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz
Mô hình là bước đi đầu tiên của quản lý danh mục đầu tư: xác định một
hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp các danh mục này sẽ có một
đường cong biên hiệu quả các danh mục chứng khoán rủi ro, thường được gọi
là đường cong biên hiệu quả.
Danh mục P có N tài sản với tỷ trọng :
1 2
( , , , )
N
w w w w=
Véc tơ lợi suất các tài sản:
1 2
( , , , )
N
R r r r=
Lợi suất danh mục :
1
. ( , )
N
p k k
k
R w r R W
=
= =

(quy ước : R,V,W,…là vectơ cột; R’,V’,W’,…là vectơ hàng )
Phương sai của danh mục:
2
1 1
'. .
N N
p i j
i j
w w ij W V W
σ σ
= =
= =
∑∑
Bản chất của việc xác định hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả là:
tại mỗi mức rủi ro nhất định, chỉ quan tâm đến các danh mục có lợi tức lớn
nhất. Hoặc ngược lại, danh mục đầu tư quan tâm là danh mục có mức rủi ro
thấp nhất đối với mỗi mức lợi tức dự tính. Trên thực tế hai phương pháp xác
định này đều cho kết quả như nhau.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước đầu tiên là phải xác định các cơ hội rủi ro – lợi tức của nhà đầu
tư, thông qua việc tổng hợp và tóm tắt bằng việc xác định đường cong biên
rủi ro tối thiểu (minimum variance frontier) của các chứng khoán rủi ro.
Đường cong biên này là kết quả sơ đồ hóa các danh mục có độ rủi ro tối thiểu
đối với mỗi mức lợi suất dự tính. Nếu có được số liệu về lợi tức dự tính,
phương sai, hệ số đồng phương sai, chúng ta có thể tính toán được một số
danh mục đầu tư có rủi ro tối thiểu cho mỗi mức lợi tức dự tính. Phép tính này
có thể được thực hiện dễ dàng sử dụng các hàm Solver của chương trình
Excel.
Để định lượng mức độ biến thiên của chứng khoán trong danh mục đầu
tư được đa dạng hóa, ta dùng công thức tính hệ số tương quan (correlation
coefficient, ký hiệu là
ρ
):
Công thức cho hai cặp chứng khoán:

1 2
1 2
1 2
cov( , )
( , )
.
r r
r r
ρ
σ σ
=
1 2
( , ) 1r r
ρ
= −
: mối tương quan âm tuyệt đối
1 2
( , ) 1r r
ρ
= +
: mối tương quan dương tuyệt đối
Công thức cho cả danh mục đầu tư :

2
1 2

p
p
N
σ
ρ
σ σ σ
=
Hệ số tương quan của cả danh mục P dương thể hiện lợi nhuận của các
chứng khoán có trong danh mục có quan hệ cùng chiều nhau, và hệ số tương
quan dương càng lớn thì các chứng khoán đó càng có dao động giống nhau.
1
p
ρ
= +
nghĩa là các chứng khoán trong danh mục hoàn toàn có dao động
giống nhau.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hệ số tương quan
p
ρ
âm chỉ sự dao động ngược chiều của các chứng
khoán trong danh mục.
p
ρ
càng lớn nghĩa là các chứng khoán trong danh mục
có dao động ngược chiều nhau càng nhiều. Khi nó đạt giá trị -1, các chứng
khoán trong danh mục quan hệ hoàn toàn ngược chiều nhau.
Khi
0
p
ρ
=
thì các chứng khoán trong danh mục P là không có tương
quan với nhau.
Nếu hệ số tương quan của các chứng khoán trong danh mục đầu tư (hay
tương quan của danh mục đầu tư) nhỏ hơn 1 thì danh mục đầu tư sẽ đạt hiệu
quả đa dạng hóa. Sự phân biệt giữa đường thẳng và đường cong trên đồ thị
chính là hiệu quả của đa dạng hóa đầu tư trong danh mục. Khi hai tài sản có
dao động hoàn toàn giống nhau, các danh mục gồm hai tài sản này không có
hiệu quả đa dạng hóa mà chỉ đơn thuần là sự phân bổ vốn giữa các tài sản có
rủi ro giống nhau.
Người đầu tư không thể lựa chọn điểm nằm phía trên của đường cong,
vì người đó không thể làm cho lợi nhuận ước tính của tài sản đầu tư tăng lên,
cũng không thể làm cho rủi ro của tài sản đầu tư giảm xuống. Bên cạnh đó,
người đầu tư cũng không muốn chọn danh mục đầu tư dưới đường cong – lựa
chọn lợi nhuận thấp hơn, rủi ro cao hơn. Người đầu tư càng có mức ngại rủi
ro cao thì sẽ càng có xu hướng chọn các danh mục gần MVP- danh mục có
phương sai hay độ lệch chuẩn nhỏ nhất.
Tìm danh mục MVP : giải hệ phương trình tuyến tính:
V.x = [1]
Với V là ma trận covar của danh mục
Ta được nghiệm của hệ là:
1 2
( , , , )
N
x x x x=
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đặt :
1
i
i
N
i
i
x
w
x
=
=

(
1,i N=
)
=> danh mục cần tìm là :
* * * *
1 2
( , , , )
N
P w w w=
Bảng 1: Danh mục MVP
Đoạn cong từ S đến MVP chỉ ra rằng nếu ta càng thêm tỷ trọng của tài
sản rủi ro vào danh mục thì lợi suất ước tính của danh mục sẽ tăng thêm trong
khi độ lệch chuẩn giảm đi. Điều này được giải thích bởi hiệu quả của đa dạng
hóa đầu tư. Lợi nhuận của hai tài sản có mối quan hệ ngược chiều nhau nên
khi thêm một tỷ lệ nhỏ tài sản rủi ro vào danh mục là tạo ra rào chắn rủi ro
cho danh mục. Đoạn cong từ chứng khoán S đến MVP luôn luôn xuất hiện
trong trường hợp hệ số tương quan nhỏ hơn 0. Trong trường hợp hệ số tương
quan lớn hơn 0, đoạn cong này có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện. Dĩ
nhiên nhiên đoạn cong này không kéo dài mãi, vì khi ta thêm nhiều tài sản rủi
ro vào danh mục thì đến một tỷ lệ nào đó độ lệch chuẩn cao của chứng khoán
rủi ro sẽ kéo độ lệch chuẩn của toàn danh mục lên.
14
P
r
2
P
σ
B
A
1
A
MVP
S

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét