LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng thu, chi và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu, chi bhxh tại bhxh huyện tứ kỳ – tỉnh hải dương": http://123doc.vn/document/1052914-thuc-trang-thu-chi-va-cac-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-thu-chi-bhxh-tai-bhxh-huyen-tu-ky-tinh-hai-duong.htm
BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của
BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh tế của mỗi nớc.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH (bên nhận nhiệm
vụ BHXH) thông thờng là cơ quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ.
Bên đợc BHXH là ngời lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng
buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con ngời
nh ốm đau, TNLĐ - BNN Hoặc cũng có thể là những tr ờng hợp xảy ra không
hoàn toàn ngẫu nhiên nh: tuổi già, thai sản Đồng thời những biến cố đó có thể
diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những
biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung đ-
ợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu,
ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của ngời
lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này
đã đợc tổ chức ILO cụ thể hoá nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của ngời già, ngời
tàn tật và trẻ em.
3. Đối tợng của BHXH.
BHXH rađời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế
hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Từ năm 1883, ỏ nớc
Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nớc châu Âu
và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH.
Svth:Vũ Thị Bắc 5 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
Tuy ra đời lâu nh vậy, nhng đối tợng của BHXH vẫn còn nhiều quan điểm
cha thống nhất. Đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tợng BHXH với đối tợng
tham gia BHXH.
Chúng ta đều biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm
hoặc bị mất đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
làm vì các nguyên nhân nh ốm đau, tai nạn, già yếu v.v Chính vì vậy, đối t ợng
của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biền động giảm hoặc mất đi
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những ngời lao động
tham gia BHXH.
Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tuy
vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này
có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó.
Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối
với các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng. Việt Nam cũng
không vợt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng nh vậy là cha bình đẳng giữa tất
cả những ngời lao động.
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài ngời lao động
còn có ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dới sự bảo trợ của Nhà nớc.
Ngời sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo
hiểm cho ngời lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp
của ngời lao động và ngời sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản lý, sử
dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với ngời lao động. Mối quan
hệ ràng buộc này chính là đặc trng riêng có của BHXH. Nó quyết định sự tồn tại
và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững
4. Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây
- BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ
gặp phải những biến cố làm giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm. Sự bảo
đảm thay thế, bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao
động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện
Svth:Vũ Thị Bắc 6 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc
mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ
thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng quy
định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính
chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia
BHXH.
Tham gia BHXH bao gồm những ngời lao động và sử dụng lao động, họ
thuộc tất cả các ngành nghề lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, quỹ này dùng để
trợ cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số
lợng những ngời này thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những ngời tham
gia đóng góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối
lại thu nhập theo tất cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những ngời
khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện
chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- BHXH góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất,
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sử dụng
lao động trả lơng hoặc tiền công. Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc
khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc
sống của họ và gia đình họ luôn đợc bảo đảm ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời
lao động luôn yên tâm, tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó họ rất tích
cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức
năng này biểu hiện nh một đòn bẩy kinh tế kích thích ngời lao động nâng cao
năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
- BHXH gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động, giữa
ngời lao động với xã hội.
Trong thực tế lao động sản xuất, ngời lao động và ngời sử dụng lao động
vốn có những mâu thuẫn nhất định về tiền lơng, tiền công, thời gian lao động
Svth:Vũ Thị Bắc 7 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ đợc điều hoà và giải quyết. Bởi vì
thông qua quỹ tiền tệ tập trung mà ngời lao động và chủ sử dụng lao động đóng
góp thì rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải đảm bảo cuộc sống ổn định
và giới chủ cũng có lợi, tránh đợc những xáo trộn ảnh hởng đến quá trình kinh
doanh vì phải chi ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn do rủi ro xảy ra
đối với ngời lao động. Nh vậy cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động đều
thấy có lợi và đợc bảo vệ khi tham gia BHXH. Từ đó giúp họ hiểu nhau hơn và
gắn bó lợi ích đợc với nhau. Đối với Nhà nớc và xã hội, chi cho BHXH là cách
thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhng vẫn giải quyết đợc khó khăn về đời
sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh
tế, chính trị xã hội đợc phát triển và an toàn hơn.
5. Tính chất của BHXH
BHXH gắn liền với đời sống của ngời lao động, vì vậy nó có một số tính
chất cơ bản sau:
* Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
Nh ở phần trên đã trình bày, trong quá trình lao động sản xuất ngời lao
động có thể gặp nhiều biến cố rủi ro, khi đó ngời sử dụng lao động cũng rơi vào
tình cảnh khó khăn không kém nh: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề
tuyển dụng và hợp đồng lao động luôn phải đợc đặt ra để thay thế Sản xuất
càng phát triển, những rủi ro đối với ngời lao động và những khó khăn đối với
ngời sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ
thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nớc phải đứng ra can
thiệp thông qua BHXH. Và nh vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính khách
quan trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi nớc.
* BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian. Tính
chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình
thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ
BHXH. Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến
mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho ngời lao động
* BHXH vừa mang tính kinh tế, tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ.
Svth:Vũ Thị Bắc 8 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
Tính kinh tế thể hiện ở chỗ quỹ BHXH muốn đợc hình thành, bảo toàn và
tăng trởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải đợc quản lý chặt
chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên đợc tính toán cụ thể dựa
trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp ngời lao động tham gia BHXH. Quỹ
BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho ngời lao động theo các điều kiện của BHXH.
Thực chất, phần đóng góp của mỗi ngời lao động là không đáng kể nhng quyền
nhận đợc là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với ngời sử dụng lao động, việc tham gia
đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng.
Xét dới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để
trang trải cho những ngời lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với
Nhà nớc, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ
BHXH còn là nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống đảm bảo xã hội, vì vậy tính xã hội
của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi ngời lao động trong xã hội đều có
quyền tham gia BHXH. Và ngợc lại, BHXH phải có trách nhiệm BHXH cho mọi
ngời lao động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch
vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính
chất xã hội hoá của nó ngày càng cao.
II. Những quan điểm cơ bản về BHXH và sơ lợc lịch sử phát
triển của BHXH.
1. Quan điểm cơ bản về BHXH.
Khi thực hiện BHXH, các nớc đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức
độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và
định hớng phát triển kinh tế xã hội của nớc mình. Đồng thời, phải nhận thức
thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây.
1.1 Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận quan trọng
nhất trong chính sách xã hội.
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao
động và gia đình họ, khi ngời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm
Svth:Vũ Thị Bắc 9 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
hoặc bị mất khả năng lao động, mất việc làm. ở nớc ta, BHXH nằm trong hệ
thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nớc. Thực chất, đây là một trong
những loại chính sách nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu hiển
nhiên của con ngời, nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao động, an toàn xã
hội Chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn minh, tiền lực và sức mạnh
kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Trong một chừng mực
nhất định, nó còn thể hiện tính u việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức thực
hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của
ngời lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
1.2 Ngời sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho ngời
lao động.
Ngời sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá
nhân có thuê mớn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và có
trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với ngời lao động mà mình
sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Ngời sử dụng lao động muốn ổn định và
phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc phải chăm lo đầu t để có máy móc
thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống cho
ngời lao động mà mình sử dụng. Chủ sử dụng ngoài việc trả lơng theo thoả thuận
cho ngời lao động còn phải có trách nhiệm BHXH cho họ để đảm bảo cuộc sống
ổn định cho ngời lao động. Chỉ có nh vậy, ngời lao động mới yên tâm, tích cực
lao động sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, góp phần nâng cao năng
suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
1.3 Ngời lao động đợc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với BHXH,
không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
Điều đó có nghĩa là mọi ngời lao động trong xã hội đều đợc hởng BHXH
nh tuyên ngôn nhân quyền đã nêu, đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và
quyền lợi trợ cấp BHXH. Ngời lao động khi gặp rủi ro không mong muốn và
không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro
của bản thân. Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ
Svth:Vũ Thị Bắc 10 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
cho mình là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh
chịu trực tiếp và trớc hết. Điều đó có nghĩa là bản thân ngời lao động phải có
trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
Tuy nhiên, nghĩa vụ và quyền lợi của ngời lao động về BHXH còn tuỳ
thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, vào các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã
hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Nhìn chung, khi sản xuất phát triển, kinh tế tăng
trởng, chính trị xã hội ổn định thì ngời lao động tham gia và đợc hởng trợ cấp
BHXH ngày càng đông.
1.4 Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào các yếu tố.
- Tình trạng mất khả năng lao động
- Tiền lơng lúc đang đi làm
- Ngành nghề công tác và thời gian công tác
- Tuổi thọ bình quân của ngời lao động
- Điều kiện kinh tế xã hội của đất nớc trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lơng lúc
đang đi làm, nhng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh nguyên
tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những ngời lao động tham gia BHXH. Trợ cấp
BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lơng. Mà tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử
dụng lao động trả cho ngời lao động khi họ thực hiện đợc những công việc hoặc
định mức công việc nào đó. Nghĩa là, chỉ ngời lao động có sức khoẻ bình thờng,
có việc làm bình thờng và thực hiện đợc những công việc nhất định mới có tiền l-
ơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc đợc mà trớc đó có
tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng
do lao động tạo ra đợc. Nếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì không
một ngời lao động nào phải cố gắng tìm kiếm việc làm và tích cực làm việc để có
lơng, mà ngợc lại sẽ lợi dụng BHXH để đợc nhận trợ cấp. Hơn nữa, cách lập quỹ
BHXH theo phơng thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH
bằng tiền lơng lúc đang đi làm. Và nếu vậy thì chẳng khác gì ngời lao động bị
rủi ro, qua rủi ro của mình dàn trải hết cho những ngời khác.
Svth:Vũ Thị Bắc 11 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm.
Tuy nhiên do mục đích bản chất và phơng thức BHXH thì mức trợ cấp thấp nhất
cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu.
1.5 Nhà nớc quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực
hiện chính sách BHXH.
BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là nhân tố
ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế xã hội . Chính vì vậy, vai trò
của Nhà nớc là rất quan trọng. Nếu không có sự can thiệp và quản lý vĩ mô của
Nhà nớc thì mối quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động sẽ không
đợc duy trì bền vững, mối quan hệ 3 bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ.
Hơn nữa, BHXH đợc thực hiện thông qua một quy trình: Từ việc hoạch
định chính sách, giới hạn về đối tợng, xác định phạm vi bảo hiểm cho đến đảm
bảo vật chất và việc xét trợ cấp v.v Vì vậy, Nhà n ớc phải quản lý toàn bộ quy
trình này một cách chặt chẽ và thống nhất.
Trớc hết, phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là khâu
đầu tiên và quan trọng nhất. Sự quản lý của Nhà nớc về vấn đề này thể hiện ở
việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thực
hiện. Sau đó là hớng dẫn, kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân thực hiện
chính sách.
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nớc phụ thuộc
vào chính sách BHXH do Nhà nớc quy định. Có những mô hình về bảo đảm vật
chất cho BHXH do NSNN cung cấp thì vai trò quản lý Nhà nớc là trực tiếp và
toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do ngời sử dụng lao động, ngời lao động
và Nhà nớc đóng góp thì Nhà nớc tham gia quản lý.
Để quản lý BHXH, Nhà nớc sử dụng các cộng cụ chủ yếu nh luật pháp và
bộ máy tổ chức. Nhìn chung, hầu hết các nớc trên thế giới, việc quản lý vĩ mô
BHXH đều đợc Nhà nớc giao cho Bộ lao động hoặc Bộ Xã hội trực tiếp điều
hành.
Svth:Vũ Thị Bắc 12 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
2. Sơ lợc lịch sử phát triển của BHXH
2.1 Trên thế giới.
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIV, khi nền công nghiệp và kinh
tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Từ năm 1883, ở
nớc Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Năm 1884, các
hiệp hội giới chủ thiết lập và quản lý quỹ rủi ro nghề nghiệp. Năm 1889, mở
sang hình thức bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm bệnh tật đồng thời có sự quản lý và
tài trợ của chính quyền đặc biệt có sự đóng góp của giới chủ. Lúc này BHXH có
một đặc điểm mới: Việc đóng góp phí là do 3 bên và yêu cầu tham gia bắt buộc
đối với ngời lao động trong doanh nghiệp. Đến đây BHXH đã thực sự hình thành
và gần hoàn thiện nh ngày nay. ở Đức BHXH đã thể hiện đợc tính u việt và tác
dụng to lớn của mình, chính vì vậy nó nhanh chóng hình thành và phát triển rộng
rãi ở các nớc Châu Âu.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nhiều nớc ở Châu Phi, Châu á và vùng
Caribe sau khi giành đợc độc lập cũng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH.
BHXH là một trong những loại hình BHXH ra đời khá sớm và đến nay đã
đợc thực hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. So với các loại hình bảo hiểm khác
đối tợng, chức năng và tính chất của BHXH có những đặc điểm khác biệt do bản
chất của nó chi phối.
Ví dụ: Theo các tạp chí BHXH năm 2000, 2001, 2002 viết về tình hình thực
hiện BHXH ở một số nớc nh sau:
a. ở nớc Mỹ:
- Đối tợng tham gia: ở Mỹ tất cả những ngời trong độ tuổi lao động là công
dân Mỹ có thu nhập, kể cả những ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp
thuộc hộ gia đình và lao động tự cung, tự cấp có thu nhập trên mức thu nhập tối
thiểu (do Nhà nớc quy định mức tối thiểu) đều phải nộp thuế (một hình thức
đóng BHXH) hay còn gọi là thuế lơng cho quỹ BHXH.
- Quỹ BHXH:
Svth:Vũ Thị Bắc 13 Bảo hiểm 44A
Gvhd: Th.s Nguyễn Ngọc Hơng
Nguồn tài trợ cho các chế độ trợ cấp BHXH là từ thuế phúc lợi xã hội mà
chính quyền liên bang thu. Trong số tiền lơng của ngời lao động, chính quyền sẽ
khấu trừ bớt số tiền thuế cố định. Sau đó đa các khoản thu này vào các quỹ
BHXH. Mức khấu trừ cụ thể:
+ Ngời sử dụng lao động: 13.65%
+ Ngời lao động: 7.56%
Tổng cộng: 21.3%
Để đợc hởng trợ cấp, mức đóng BHXH phải nộp đến một mức nào đó.
Chính quyền Liên bang Mỹ có cách tính thống kê từng ngời đã nộp đủ tiền thuế
hay cha. Kể từ năm 1993, một ngời đóng BHXH nếu nộp đủ 590$ thì đợc một
điểm hởng thụ. Mỗi ngời phải có đủ 40 điểm trong 10 năm trớc khi nghỉ hu.
Nh vậy, cơ chế thu BHXH ở Mỹ là vừa theo tỷ lệ trích nộp, vừa phải thu
đến một ngỡng do chính quyền quy định, cơ chế này có vẻ đơn giản. Mặt khác
tỷ lệ đóng góp cũng không quá cao.
- Các chế độ BHXH.
+ Trợ cấp hu trí
+ Trợ cấp tử tuất
+ Trợ cấp y tế
+ Trợ cấp thơng tật.
b. ở nớc Pháp.
- Đối tợng tham gia.
BHXH ở Pháp có mầm mống từ thế kỷ 19, cùng với sự cứu trợ công cộng
và tơng hỗ. Hiện nay, đối tợng tham gia BHXH là những ngời lao động có thu
nhập trong tất cả các thành phần kinh tế ( Chính phủ quy định mức gọi là có thu
nhập).
- Quỹ BHXH:
Nguồn tài trợ quỹ BHXH đợc xác định theo một cơ chế hết sức phức tạp.
Cụ thể nh sau:
Svth:Vũ Thị Bắc 14 Bảo hiểm 44A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét