Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

nghề truyền thống


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghề truyền thống": http://123doc.vn/document/542520-nghe-truyen-thong.htm




Những mùa Trung Thu gần đây, nắng Sài Gòn không lung linh sắc màu
vì vắng bóng những chiếc lồng đèn tre giấy kiếng. Thế nhưng, sâu
trong lòng thành phố vẫn có một nơi mà đến mấy đời người dân vẫn
“chung thủy” với nghề làm lồng đèn: “Xóm lồng đèn”
Gọi là “xóm” nhưng những nhà làm lồng đèn nằm rải rác từng cụm nhỏ
trong nhiều conhẻm ở 2 khu giáo xứ Phú Bình và Tân Phú Hòa
(P.Phú Trung – Q.Tân Phú và P.5 - Q.11, TP.HCM). Nơi đây còn có
tên là “khu Phú Bình” với nghề làm lồng đèn có nguồn gốc từ người
dân nhập cư từ làng Báo Đáp (xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh
Nam Định). Anh Quyền ngày ngày chạy xe ôm, đến độ thu về thì cùng
gia đình gồm 3 cặp anh chị em nhà vợ lao vào sản xuất lồng đèn. Mùa
thu là mùa kiếm tiền cũng là “mùa sum vầy”, cả nhà quây quần vừa
làm vừa kể chuyện tiếu lâm rôm rả. Không khí náo nhiệt khác hẳn
ngày thường mỗi người đi làm mỗi nơi. Hai vợ chồng tâm sự: “Có
theo nghề mới hiểu được những đêm phải thức trắng để làm lồng đèn
cho kịp giao, ngồi lâu tê cứng mình mẩy, bẻ kẽm sưng vù cả tay” .
XÓM LỒNG ĐÈN

Ít nhà làm những chiếc lồng đèn đặc sắc vì tốn nhiều thời gian,
công sức, nhất là ngưng trệ việc sản xuất lồng đèn loại thường
để bỏ mối. Lồng đèn to nên kẽm dùng làm khung phải to và
cứng, đòi hỏi nhiều sức để uốn nắn. Ít người đặt hàng nên lồng
đèn không có khuôn khung sẵn mà người thợ phải tự canh bẻ
khung rất khó khăn. Ở tiệm lồng đèn Thu Hà (P.Phú Trung,
Q.Tân Phú), lồng đèn rồng cao 1,2 – 1,7m có giá đến hơn 1 triệu
đồng/cặp vì mỗi chi tiết của “rồng” đều được làm tỉ mỉ. Từng
chiếc vảy được sơn kim tuyến óng ánh, mang rồng được trang
trí bằng lông thỏ bay phất phơ Còn lồng đèn nàng tiên cá, tuy
khung là tổng thể vòng ngoài nhưng người thợ phải làm khuôn
che để phun màu mịn từng chi tiết của cơ thể “nàng tiên” rồi mới
vẽ nét thêm lên. Lồng đèn tiên cá không dùng giấy kiếng lợp
khung mà dùng giấy can để “da thịt nàng tiên” không trong suốt
như giấy kiếng. Làm lồng đèn còn khó ở khung tre: tre non mềm
nhưng hay gẫy còn tre già uốn dẻo tốt nhưng thớ tre dễ tưa
trông xấu xí.Tre dùng làm lồng đèn phải là loại lồ ô, đốt dài. Chẻ
tre cũng phức tạp: tre non chẻ dầy, tre già chẻ mỏng, thanh tre
phải đều tăm tắp
Nhưng nghề đang mai một !

Gốm cổ Thăng Long danh bất
hư truyền
Thành cổ Hà Nội lung linh hơn
trong nắng tháng tám và cũng
trầm mặc, quyến rũ hơn bởi du
khách tới đây được thưởng
thức nét tinh tế, thanh thoát,
đậm chất dân gian của hàng
trăm hiện vật gốm Thăng Long
được chọn lọc suốt 900 năm
qua, thể hiện sự tài hoa, khéo
léo của những nghệ nhân, thợ
thủ công vùng đất Bát Tràng -
một làng khoa bảng, làng văn
hiến của đất kinh kỳ xưa, đến
nay vẫn giữ được nghề, thậm
chí trở thành mặt hàng xuất
khẩu khá uy tín.


Từ tháp đất nung đến những chóe, đỉnh, lư hương, long đình, đài sen,
chân đèn, bình vôi, chum, hũ, âu, thạp, hộp phấn, lọ hoa, đĩa kiểu gốm
của thế kỷ XI, XII đẹp cả về kiểu dáng, hình trang trí đắp nổi, từng
được chốn cung đình xưa chọn làm đồ dùng, làm quà bang giao với
Trung Quốc; đến với gian gốm sành xốp, hoa nâu thời Lý - Trần, có
thể thấy một bước tiến xa hơn cả về hình dáng đồ vật, hoa văn trang
trí và chất men trắng ngà, hoa nâu, men ngọc. Bước sang thời Lê sơ,
dòng gốm hoa lam lại cực thịnh, nhiều chủ đề sinh hoạt văn hóa tinh
thần, sản xuất của người xưa đã trở thành đề tài cho các nghệ nhân
sáng tác trên nền gốm.

Làng gốm Bát Tràng - Hà Nội cho tới nay mới có 15 người được
phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân làm gốm” và tại cuộc triển lãm
“Gốm Thăng Long” nhân dịp Quốc khánh 2-9 năm nay, nghệ nhân
Trần Độ đã gây ấn tượng sâu đậm cho du khách khi “thổi hồn” vào
những chiếc đỉnh uy nghi, tác phẩm “Rùa hóa long” sinh động, ấm 3
chân theo mẫu thời Mạc rất lãng mạn, trữ tình; nghệ nhân Vũ Đức
Thắng tinh tế trong từng nét đắp, vẽ trang trí; thợ giỏi Trần Văn Hợp
tạo nên một bộ sưu tập hoành tráng với những sản phẩm gốm óng
ánh men túy hồng, men da báo, huyết dụ, hột xoài, men kết tinh, rất
trang nhã, sang trọng, phù hợp với cuộc sống đương đại; gốm Bảo
Quang lại thiên về những sản phẩm mang tính điêu khắc, gợi nhiều
suy tưởng Bàn tay, khối óc sáng tạo của người thợ thủ công thêm
lần nữa được tôn vinh, một nét đẹp thanh lịch trong di sản văn hóa
của người Tràng An được minh chứng.


Lưu Hoàng: Nghề sơn mài truyền thống

Xã Lưu Hoàng (Ứng Hòa) có nghề làm tranh
sơn mài truyền thống lâu đời, nhưng đã có
một thời gian dài, sản phẩm làng nghề không
tìm được thị trường tiêu thụ nên bị mai một
dần.

Những năm gần đây, nghề làm tranh sơn mài
Lưu Hoàng lại dần có bước phát triển trở lại,
hứa hẹn sức bật mới không chỉ cho nghề
truyền thống mà còn cho quá trình vươn lên
phát triển kinh tế của địa phương.


Xã Lưu Hoàng có diện tích tự nhiên 396,6ha với 5.200 nhân
khẩu; dân số tập trung tại 4 thôn Nội Lưu, Cáp Hoàng, Ngoại
Hoàng, và Thanh Bồ. Nằm xa trung tâm của tỉnh và huyện, vị trí
địa lý không thuận lợi nên đến nay, cả xã mới chỉ có duy nhất
một công ty đặt cơ sở sản xuất tại địa phương. Công nghiệp hầu
như không có, ngành nghề phụ kém phát triển nên kinh tế của
Lưu Hoàng gặp rất nhiều khó khăn. Đời sống nhân dân chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, xã lại thuộc vùng
chiêm trũng, mưa nắng thất thường khiến cấy trồng chẳng dễ
dàng gì. Chính vì vậy, người lao động thiếu việc làm, cả xã
thường xuyên có tới 700-800 lao động phải rời quê ra các vùng
đô thị làm thuê hoặc đi buôn bán nhỏ nhưng cuộc sống cũng
không cải thiện được là bao. Theo con số thống kê mới nhất, cả
xã hiện còn tới 159 hộ thuộc diện hộ nghèo, chiếm 14,6% dân
số, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt gần 3,5 triệu
đồng/năm. Trăn trở đi tìm lời giải cho bài toán thoát nghèo, xã
Lưu Hoàng đã đề ra chủ trương đẩy mạnh phát triển CN, TTCN,
trong đó đặc biệt quan tâm đến khôi phục lại những ngành nghề
truyền thống của địa phương.


Một trong những nghề tồn tại ở Lưu Hoàng lâu đời là làm
tranh sơn mài, vì vậy, hướng đi trong phát triển kinh tế mà
Đảng ủy, Chính quyền xã lựa chọn là khôi phục nghề sơn
mài cho nhân dân, bằng cách giúp bà con tìm đầu ra, khôi
phục phát triển. Đây là nghề một thời phát triển thịnh
vượng, mang lại đời sống khá giả cho người làm nghề.
Ông Kiều Thanh Sơn, người đã có trên 30 năm gắn bó với
nghề cho hay: Nghề làm tranh sơn mài xuất hiện ở Lưu
Hoàng từ trước những năm 1945, đến năm 1960, nghề
thực sự có bước phát triển mạnh mẽ. Khi đó, Lưu Hoàng
đã thành lập cả một HTX tiểu thủ công nghiệp chuyên sản
xuất mặt hàng tranh sơn mài xuất khẩu đi nhiều nước
Đông Âu. Tuy nhiên, đến cuối những năm 80 thế kỷ XX,
đất nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, khối Đông Âu tan rã, sản
phẩm sơn mài cũng giống như bao làng nghề khác không
có đầu ra nên HTX phải ngừng sản xuất, xã viên không còn
gắn bó với nghề truyền thống nữa. Cả xã chỉ có một số ít
người tâm huyết giữ nghề thì chọn giải pháp đi làm thợ
thuê ở các làng nghề truyền thống khác.

Nghề dệt thổ cẩm của người Thái (Sơn La)
Cơm Lam, Rượu Cần, Múa Xoè… ấy là những đặc sản
nổi tiếng mà bạn có dịp thưởng thức vào những dịp
lên thăm Sơn La. Một thứ đặc sản khác của vùng đất
này mà du khách không thể không nhắc tới là thổ
cẩm. Đó là món quà kỷ niệm quý giá, mang đậm nét
đẹp của vùng sơn cước. Sơn La nổi tiếng với những
cô gái Thái xinh đẹp, múa xoè hay. Hơn thế nữa, họ
còn rất khéo tay trong việc làm thổ cẩm.
Đến nơi nào của Sơn La bạn cũng có thể dễ dàng tìm
thấy một chiếc khung cửi dệt vải thổ cẩm. Các cô gái
Thái trước khi về nhà chồng phải biết dệt thổ cẩm và
thêu thùa. Bằng chứng là trước khi về làm dâu họ phải
tự tay làm tặng bố mẹ chồng một bộ chăn đệm, trong
đó có một chiếc khăn Piêu tặng mẹ chồng. Điều này
nói lên rằng, người Thái coi thổ cẩm là một phần trong
đời sống vật chất và tinh thần của mình.


Đến bản Thèn Luông, Yên Châu, Sơn La, vào thăm một gia
đình người Thái, bạn có dịp chiêm ngưỡng những chồng chăn
đệm sặc sỡ, được trang trí bằng thổ cẩm. Đó là kết quả công
sức bao tháng ngày của các bà, các chị người Thái bản Thèn
Luông. Người Thái bản Thèn Luông tự hào vì sản phẩm vải
thổ cẩm của mình. Cầm trên tay mảnh vải thổ cẩm bạn có thể
cảm nhận được màu xanh của cây cối, màu vàng, trắng, hồng,
đỏ của hoa rừng, màu vàng rực rỡ của ánh nắng mặt trời.
Những đường nét hoa văn trên mảnh vải thổ cẩm thể hiện nét
đẹp tâm hồn của người phụ nữ Thái.

Những người phụ nữ Thái, hàng ngày vất vả với việc làm
nương rẫy, ruộng vườn, có thời gian rảnh rỗi là họ dành cho
việc làm thổ cẩm. Vì thế mỗi đường nét thêu trên mảnh vải còn
thấm đượm tình yêu lao động, yêu quê hương, đất nước của
người phụ nữ Thái. Đó còn là đức tính cần cù, hay lam, hay
làm và khéo léo của người Thái. Vì thổ cẩm được dệt hoàn
toàn bằng tay nên độ chặt, lỏng, mềm cứng của sản phẩm đều
có thể theo ý muốn của người làm ra nó. Họ có thể dệt nên
những miếng thổ cẩm để trang trí cho từng loại sản phẩm mà
họ cần.


Tính cách và tuổi tác được thể hiện rất rõ trên những sản phẩm thổ
cẩm của người Thái. Với những cô gái Thái đang yêu thì không thể
giấu nổi tình cảm của mình bằng những gam màu sáng chủ đạo. Còn
những người phụ nữ lớn tuổi thì thiên về những gam màu trầm, về
những đường nét rắn rỏi và đậm nét suy tư.

Nghề dệt thổ cẩm của người Thái Sơn La đã có từ rất lâu đời. Trước
đây, khi kinh tế chưa phát triển, sản phẩm thổ cẩm được làm ra chủ
yếu để phục vụ nhu cầu trong gia đình, làm của hồi môn khi con gái về
nhà chồng, và một phần để trao đổi theo phương thức vật đổi vật, phụ
thêm cho kinh tế gia đình. Ngày nay, kinh tế thị trường đã phát triển,
thổ cẩm đã có mặt trên thị trường, thậm chí nó còn được người tiêu
dùng ở các thành phố lớn yêu thích. Nhưng không phải lúc nào người
tiêu dùng ở thành phố cũng có thể mua được thổ cẩm của những
người dân tộc, đặc biệt là của người Thái. Vì nhiều sản phẩm thổ cẩm
đang bán ở các thành phố được dệt bằng các thiết bị công nghiệp nên
chất lượng kém, chỉ dùng một hai lần đã có hiện tượng xô vải, bạc
màu… Trong khi, thổ cẩm của người Thái dùng đến lúc sờn đường
thêu và hỏng vải nhưng các đường nét hoa văn vẫn gần như còn tốt.
Thổ cẩm của người Thái và nhiều dân tộc khác chất lượng khá tốt
nhưng lại không đủ để cạnh tranh trên thị trường. Vì hầu hết các sản
phẩm thổ cẩm đều được làm thủ công. Khung dệt thổ cẩm thô sơ,
được các bà, các chị tạo nên từ những thanh tre, ống nứa. Cách làm,
công cụ thủ công như vậy nên sản phẩm tạo ra không được nhiều.
Phần lớn chỉ là mặt chăn, mặt gối, riềm chăn đệm, ri đô, khăn Piêu…


Thổ cẩm của người Thái Sơn La với những hoạ tiết hoa văn
phong phú, nhã nhặn đã chiếm được cảm tình của nhiều khách
hàng trong nước và quốc tế. Nhưng hiện nay, Sơn la chưa có
được những làng chuyên dệt thổ cẩm. Do sản xuất còn manh
mún, tự phát nên nhiều sản phẩm tạo ra không phù hợp với thị
hiếu của khách hàng. Hội Khoa học kinh tế tỉnh Sơn La đã cùng
với các bản làng có nghề dệt thổ cẩm tìm ra hướng đi mới cho
ngành sản xuất này. Trước hết là việc đầu tư có hiệu quả vào
trang thiết bị sản xuất, thay đổi mẫu mã sản phẩm trên cơ sở
những mô tuýp truyền thống, kết hợp với những nét hiện đại, tạo
cơ hội để các gia đình các làng bản có nghề truyền thống được
tham gia các hội trợ để tham khảo nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu
dùng, nhằm cho ra đời các sản phẩm thích hợp.

Giữ được nghề dệt thổ cẩm là giữ được những nét văn hoá cổ
truyền của người Thái. Nếu biết kết hợp giữa tính dân tộc và tính
hiện đại thì nghề dệt thổ cẩm ở Sơn La sẽ tạo được những mặt
hàng kinh tế cao, có giá trị trên thị trường. Người Thái Sơn La tự
hào vì có sản phẩm thổ cẩm. Qua bao đời nay đã chứng tỏ một
điều thổ cẩm là thứ không thể thiếu trong đời sống vật chất và tinh
thần của người Thái. Nó là biểu tượng của văn hoá Thái.


Làng dệt lụa Nha Xá, Hà Nam

Nếu so sánh với lụa Hà Đông thì tiếng tăm của sản
phẩm vải, lụa Nha Xá được xếp hàng á hậu. Từ đầu
thế kỷ, các lái buôn hàng lụa thị trường Sài Gòn - Chợ
Lớn đã tín nhiệm những súc tơ lụa nõn bóng, mượt
mà của làng quê này. Trải suốt thời gian, làng dệt Nha
Xá xã Mộc Nam (Duy Tiên) vẫn duy trì làng nghề để
ngày càng làm đẹp cho đời, làm ấm lòng người trong
và ngoài nước.

Khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, khung
dệt được chia về từng gia đình. Năm 1993, làng dệt
đầu tư hơn 200 triệu đồng xây dựng lưới điện đến
từng nhà. Có điện, làng dệt càng nhộn nhịp hơn, góp
phần giải phóng sức lao động cơ bắp cho mọi người,
tăng năng suất lên gấp đôi và mở rộng khổ vải, lụa từ
0,3-0,8 mét lên 1-1,2 mét.


Hiện nay làng dệt Nha Xá có 230 hộ, gần 800 nhân
khẩu, trong đó có khoảng 350 lao động chính, vận
hành gần 200 máy dệt. Nhiều gia đình đông lao
động, tổ chức sản xuất hợp lý có tới 2-3 máy dệt
trong nhà. Những gia đình này thường khép kín các
công đoạn sản xuất từ mua nguyên liệu đến bán
thành phẩm. Thị trường là những đô thị lớn như Hà
Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn.

Mấy năm gần đây, làng nghề đã có sự phân công lao
động tự nhiên mang tính chuyên môn hoá theo mặt
hàng cũng như theo công đoạn sản xuất. Tiền công
mỗi lao động đạt bình quân 300 đến 400 nghìn đồng
mỗi tháng. Cái đáng quý của nghề dệt cha ông để lại
là tận dụng được sức lao động, không chỉ của mọi
người trong làng mà còn của hàng trăm lao động ở
các vùng lân cận.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét