Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty tnhh sản xuất và thương mại bao bì hải âu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty tnhh sản xuất và thương mại bao bì hải âu": http://123doc.vn/document/1053380-to-chuc-ke-toan-tap-hop-chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham-tai-cong-ty-tnhh-san-xuat-va-thuong-mai-bao-bi-hai-au.htm


điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí
trên đều đợc biểu hiện bằng tiền. Trong đó:
- Chi phí về tiền công, trích BHXH, BHYT là biểu hiện bằng tiền của
hao phí về lao động sống.
- Chi phí về KHTSCĐ, chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu.v v là
biểu hiện bằng tiền của lao động vật hoá.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong suốt
quá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhng để phục vụ
cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải đợc tính toán và
tập hợp theo thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo
cáo. Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ mới đợc
tính vào chi phí sản xuất trong kỳ.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung
khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng
khác nhau, để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập
hợp chi phí sản xuất nhằm thúc đẩy không ngừng việc tiết kiệm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và phát
huy hơn nữa vai trò của công cụ kế toán với sự phát triển của doanh nghiệp.
Bởi vậy, chi phí đợc phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là một
số cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu:
1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi
phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của
chi phí sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí
chỉ bao gồm những chi phí có cùng nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí
đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu và mục đích hoặc tác
dụng của chi phí nh thế nào. Vì vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại
5
theo yếu tố. Theo quy định hiện hành toàn bộ chi phí sản xuất đợc chia ra 6
yếu tố sau:
Yếu tố nguyên liệu, vật liệu, động lực: Bao gồm toàn bộ giá trị
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ, dụng cụ, dùng cho sản xuất.
Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp theo lơng: Phản ánh tổng số tiền
lơng và phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho công nhân viên sản xuất.
Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: Các khoản này đợc trích theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả cho công nhân viên sản
xuất.
Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ cho tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh
nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài nh tiền điện, tiền nớc,
tiền bu phí phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng
tiền cha phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ.
Phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí có tác
dụng rất to lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu tỷ trọng
của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự
toán chi phí sản xuất. Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết
minh báo cáo tài chính; cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí
sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch quỹ lơng, cho kỳ sau.
1.2.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và
công dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này,
căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các
6
khoản mục chi phí khác nhau; mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi
phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung
kinh tế nh thế nào. Vì vậy, cách phân loại này còn đợc gọi là phân loại chi
phí theo khoản mục. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đợc chia
thành các khoản mục chi phí sau:
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục
đích trực tiếp sản xuất sản phẩm.
* Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, trích
BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, không tính vào
khoản mục này số tiền công và trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên
sản xuất chung, nhân viên quản lý và nhân viên bán hàng.
* Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản
xuất chung ở các phân xởng, tổ đội sản xuất. Gồm có: Chi phí nhân viên
phân xởng, chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất, chi phí KHTSCĐ, chi phí dịch
vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí có
tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung
cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực
hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản
xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau. Qua đó sẽ giúp những
nhà quản lý có biện pháp sử dụng chi phí một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại
hiệu quả kinh tế cao.
1.2.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối l-
ợng công việc, sản phẩm hoàn thành.
Với mục đích kiểm tra chi phí, điều tiết chi phí cho phù hợp đồng thời
thuận lợi cho việc lập kế hoạch, đề ra các quyết định kinh doanh. Toàn bộ
chi phí sản xuất kinh doanh đợc phân chia theo mối quan hệ với khối lợng
7
công việc hoàn thành. Theo cách phân loại này chi phí đợc phân thành ba
loại: chi phí biến đổi (biến phí), chi phí cố định (định phí) và chi phí hỗn
hợp.
* Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối l-
ợng công việc hoàn thành. Tuy nhiên, các chi phí biến đổi nếu tính trên một
đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định.
* Định phí là những chi phí không thay đổi về tổng số so với khối lợng
công việc hoàn thành. Nhng các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản
phẩm thì lại biến đổi nếu số lợng sản phẩm thay đổi.
* Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố
biến phí lẫn định phí. ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện
các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí.
Ngoài các cách phân loại trên, để phục vụ cho việc phân tích đánh giá
tình hình sử dụng chi phí, chi phí sản xuất còn đợc phân loại thành:
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí tổng hợp và chi phí đơn nhất
-
Mỗi cách phân loại chi phí đều có những tác dụng nhất định trong
công tác quản lý và hạch toán chi phí ở doanh nghiệp.
1.3. ý nghĩa của công tác quản lý CPSX trong quá trình
hoạt động SXKD
Công tác quản lý chi phí sản xuất trong sản xuất kinh doanh có ý
nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Công tác quản lý chi phí sản
xuất nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. nền kinh tế thị trờng có
sự điều tiết của nhà nớc cho phép doanh nghiệp sản xuất tự chủ trong hạch
toán kinh doanh, lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi. Càng tiết kiệm đợc nhiều chi
phí sản xuất thì càng có điều kiện để hạ giá thành sản phẩm. ở nớc ta hiện
8
nay, yếu tố cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, cho nên việc tiết kiệm chi phí
để hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là vấn đề vừa là
mục đích, vừa là chiến lợc mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm.
1.4. Giá thành sản phẩm, Phân loại giá thành sản phẩm.
1.4.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Trong quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp, một mặt doanh nghiệp
phải bỏ ra những chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất của doanh
nghiệp là thu đợc những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn
thành, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Những sản phẩm, công việc,
lao vụ đã hoàn thành gọi chung là thành phẩm cần phải đợc tính giá thành
tức là những chi phí đã bỏ ra để sản xuất ra chúng. Theo quan điểm của kế
toán Việt Nam hiện nay, giá thành đợc định nghĩa nh sau:
Giá thành là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng hoặc một đơn vị
sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành trong
điều kiện công suất bình thờng ,,
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng
sản xuất, phản ánh hiệu quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã thực hiện, nhằm đạt đợc mục đích sản xuất, đợc khối lợng sản
phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành. Giá thành sản
phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải ai có chi phí sản xuất phát
sinh là đã xác định ngay đợc giá thành mà cần thấy đợc rằng, giá thành là chi
phí đã kết tinh trong một kết quả sản xuất đợc xác định theo những tiêu
chuẩn nhất định.
1.4.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Với mục đích quản lý tốt giá thành sản phẩm cũng nh yêu cầu xây
dựng giá cả hàng hoá, kế toán cần phải phân biệt các loại giá thành khác
9
nhau. Giá thành đợc xem xét dới nhiều giác độ, phạm vi tính toán khác nhau,
về lý luận cũng nh thực tiễn. Có các cách phân loại giá thành chủ yếu sau:
* Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành:
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành, giá thành sản
phẩm chia ra làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch là loại giá thành đợc xác định trớc khi bắt đầu sản
xuất của kỳ kế hoạch dựa trên các định mức và dự toán của kỳ kế hoạch. Giá
thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn
cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức:
Giá thành định mức là giá thành đợc xác định trên cơ sở các định mức
chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Giá thành
định mức đợc xem nh là căn cứ để kiểm soát tình hình thực hiện các định
mức tiêu hao yếu tố vật chất khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất và
đợc xây dựng trớc khi bắt đầu sản xuất.
- Giá thành thực tế:
Giá thành thực tế là chỉ tiêu đợc xác định sau khi kết thúc quá trình
sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng
các giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản
phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
10
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,
xác định đợc các nguyên nhân vợt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán.
Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
* Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo phạm vi tính toán giá thành, giá thành sản phẩm đợc chia làm hai
loại:
- Giá thành sản xuất (hay còn gọi là giá thành công xởng)
Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến sản
xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất, bao gồm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Giá thành sản xuất sản phẩm đợc dùng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn
thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm
cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp
sản xuất.
- Giá thành toàn bộ (hay còn gọi là giá thành tiêu thụ, giá thành đầy đủ)
Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản
phẩm cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho
sản phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ đợc tính toán, xác định khi
sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã đợc tiêu thụ. Giá thành toàn bộ của sản
phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trớc thuế của doanh nghiệp.
Nh vậy, theo cách phân loại này cho phép các nhà quản lý xác định
hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng loại mặt hàng, dịch vụ. Song do khi
lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp cho từng loại mặt hàng, dịch vụ có những hạn chế nhất
định nên việc phân bổ chỉ mang tính tơng đối.
11
1.5.Đối tợngtập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
1.5.1. Đối tợng tập hợp chi phí
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là xác định giới hạn về
mặt phạm vi mà chi phí cần đợc tập hợp để phục vụ cho việc kiểm soát chi
phí và tính giá thành sản phẩm .
Thực tế hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp có thể tiến hành ở
nhiều địa điểm, phân xởng, tổ đội sản xuất khác nhau. ở từng địa điểm sản
xuất lại có thể sản xuất chế biến nhiều sản phẩm, nhiều công việc, lao vụ
khác nhau, theo các quy trình công nghệ khác nhau. Do đó chi phí sản xuất
của doanh nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận, liên quan
đến nhiều sản phẩm, công việc. Nh vậy, để xác định đúng đắn đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất nhằm thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí thì cần
phải dựa trên một số tiêu thức. Căn cứ vào một số tiêu thức, đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất đợc xác định nh sau:
Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
- Doanh nghiệp có quy trình công nghệ là sản xuất giản đơn: Đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản
xuất.
- Doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp: Đối tợng hạch toán
chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến,
phân xởng sản xuất hoặc bộ phận sản xuất.
Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm :
- Với loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất là từng sản phẩm.
- Với loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất có thể là từng đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm tuỳ thuộc vào từng
quy trình công nghệ sản xuất.
12
Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh
doanh:
Nếu trình độ hạch toán càng cao thì đối tợng tập hợp chi phí càng cụ
thể và chi tiết, ngợc lại nếu trình độ thấp thì đối tợng có thể bị hạn chế và thu
hẹp, không đợc chi tiết, cụ thể.
Việc xác định đúng đắn đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất phù
hợp với đặc điểm, tình hình hoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản xuất
sản phẩm và đáp ứng đợc yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp
mới giúp cho tổ chức tốt nhất công việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Ngoài ra còn phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm đợc kịp thời,
đúng đắn.
1.5.2. Đối tợng tính giá thành sản phẩm
Đối tợng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm do doanh
nghiệp sản xuất ra dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng cần phải tính tổng
giá thành và giá thành đơn vị
Việc xác định đối tợng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên
trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế
toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại
sản phẩm và lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất và tính chất sản xuất của
chúng để xác định đối tợng tính giá thành cho thích hợp. Để xác định chính
xác đối tợng tính giá thành cần dựa vào các căn cứ sau:
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
- Với quy trình công nghệ sản xuất giản đơn: Đối tợng tính giá thành
chỉ có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở cuối quá trình sản xuất.
- Với quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục: Đối tợng tính giá thành
có thể là thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng, cũng có thể là các loại
nửa thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn sản xuất.
13
- Với quy trình sản xuất phức tạp kiểu song song (lắp ráp): Đối tợng
tính giá thành có thể là sản phẩm đợc lắp ráp hoàn chỉnh, cũng có thể là từng
bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Loại hình sản xuất:
- Với loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất những loạt nhỏ: Đối tợng
tính giá thành là từng sản phẩm hay từng loại sản phẩm.
- Với sản xuất hàng loạt khối lợng lớn: Đối tợng tính giá thành là nhóm
bán thành phẩm hay nhóm sản phẩm cuối cùng.
Yêu cầu và trình độ quản lý:
- Với trình độ quản lý cao có thể chi tiết đối tợng tính giá thành ở các
giác độ khác nhau.
- Với trình độ quản lý thấp đối tợng tính giá thành có thể là nhóm các
sản phẩm cùng loại có kích cỡ khác nhau hoặc có thể quy định về sản phẩm
gốc.
Việc xác định đối tợng tính giá thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ
chức các bảng tính giá thành sản phẩm, lựa chọn phơng pháp tính giá thành
phù hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lý, phục vụ cho việc quản lý và
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.6. nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn luôn đợc các nhà quản lý
doanh nghiệp quan tâm, vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những
chỉ tiêu phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Thông qua
những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do bộ phận kế
toán cung cấp, những ngời quản lý doanh nghiệp nắm đợc chi phí sản xuất và
14

một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty sản xuất xuất nhập khẩu xe đạp xe máy hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty sản xuất xuất nhập khẩu xe đạp xe máy hà nội": http://123doc.vn/document/1053635-mot-so-giai-phap-nham-day-manh-hoat-dong-tieu-thu-san-pham-cua-cong-ty-san-xuat-xuat-nhap-khau-xe-dap-xe-may-ha-noi.htm



- Ban giám đốc gồm:
+ Giám đốc: là nhời lãnh đạo cao nhất của công ty, thực hiện điều hành chung
của công ty
+ Phó giám đốc kỹ thuật: phụ trách công tác kỹ thuật, xây dựng cơ bản trong
công ty.
+ Phó giám đốc kinh doanh: phụ trách công tác kinh doanh tiêu thụ sản phẩm
của công ty
- Các phòng ban:
+ Phòng tổng hợp: tham mu đề bạt yêu cầu công ty giải quyết các quan hệ đối
ngoại, đối nội tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh, làm thủ tục xuất cảnh cho
cán bộ, thực hiện nhiệm vụ văn phòng phục vụ quản lý và chính sách chế độ.
+ Phòng kỹ thuật: thực hiện quản lý đầu t xây dựng cơ bản, quản lý chất lợng sản
phẩm.
+ Phòng kinh tế: thực hiện chức năng huy động, quản lý nguồn vốn trong công ty
đáp ứng yêu cầu về vốn.
+ Phòng kinh doanh vật t : thực hiện kinh doanh các loại vật t phục vụ sản xuất,
làm đầu mối tiêu thụ vật t cho các đội sản xuất kinh doanh các loại xe đạp.
+ Phòng kinh doanh nhập khẩu: thực hiện nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu
chủ yếu là mặt hàng xe đạp và phụ tùng xe đạp, trang bị nội thất văn phòng, xe
máy, phụ tùng xe máy dạng CKD.
+ Phòng kinh doanh nội thất: kinh doanh các loại xe máy phụ tùng, hàng nội
thất, tổ chức lắp ráp xe máy xe đạp, dịch vụ sửa chữa thay thế, bảo hành xe máy,
sửa chữa trang thiết bị phục vụ sản xuất, liên doanh liên kết sản xuất những sản
phẩm xe đạp phục vụ nhu cầu tiêu dùng ( chủ yếu bán buôn cho đại lý, uỷ thác)
+ Cửa hàng sản xuất kinh doanh dịch vụ: chuyên sản xuất kinh doanh xe đạp,
phụ tùng xe đạp và các sản phẩm cơ khí tiêu dùng, liên doanh liên kết để sản xuất
các sản phẩm xe đạp, làm đại lý tiêu thụ các sản phẩm khác.

5

Các cơ quan phòng ban trong công ty đợc tổ chức theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, phân công phân cấp trách nhiệm giữa các phòng ban chức năng.
Trong đó các phòng ban sau thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ:
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
Phòng kinh doanh xe máy nội thất
Phòng kinh doanh vật t
Cửa hàng sản xuất kinh doanh dịch vụ
1.2. Cơ cấu và số l ợng lao động của công ty
Một cơ cấu lao động với số lợng và chất lợng hợp lý là một lợi thế của bất kỳ
doanh nghiêp nào. Sau đây là cơ cấu lao động của công ty
Biểu 1: Cơ cấu lao động của công ty sản xuất nhập khẩu xe đạp xe máy Hà Nội.
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Lao động Tỷ trọng Lao động Tỷ trọng Lao động Tỷ trọng
Khối VP 20 20,41 21 20,19 21 21
Phòng kinh
doanh và
XNK
11 11,22 12 11,54 10 10
Phòng KD
vật t
10 10,20 10 9,62 10 10
Phòng KD
Xe máy nội
thất
26 26,53 28 26,92 27 27
CH KD dịch
vụ
31 31,64 33 31,73 32 32
Tổng số 98 100 104 100 100 100
Qua biểu trên ta thấy cơ cấu lao động trong công ty có sự dao động. Số lợng
lao động tăng 6 ngơì ( 6,12% ) trong năm 2001 nhng sang năm 2002 lại giảm 4
ngời ( 3,8% ) so với năm 2004. Số lợng lao động giảm chủ yếu là lao động hợp
đồng. Do tình hình sản xuất kinh doanh không tốt nên công ty đã cắt giảm số lao
động này. Trong cơ cấu lao động của công ty số lợng lao động làm công tác hành
chính văn phòng chỉ chiếm 1/5 tổng số lao động còn lại, 4/5 là lao động ở bộ
phận sản xuất kinh doanh. Đây là một cơ cấu lao động khá hợp lý. Tuy nhiên
công ty có thể giảm đợc nữa số lợng lao động hành chính văn phòng.

6

Về trình độ của lực lợng lao động:
Số lợng lao động có trình độ đại học chiếm 1/3 tổng số lợng lao động. Số lợng
lao động nay chủ yếu phục vụ ở bộ phận văn phòng, không trực tiếp sản xuất.
Số lợng lao động có trình độ trung cấp chiếm 1/3 tổng số lợng lao động. Số
lao động còn lại là số lao động phổ thông.
Tay nghề lao động của công ty là khá cao, bình quân bậc thợ là bậc 4 đáp ứng
đợc yêu cầu sản xuất.
1.3. Tuyển dụng và phát triển lao động.
Công tác tuyển dụng trong công ty đợc tiến hành khá tốt. Công ty đã căn
cứ vào số lợng công việc để xác định số lợng lao động cần tuyển. Khi kinh doanh
tốt, quy mô sản xuất đợc mở rộng thì công ty tuyển thêm lao động. Khi không tốt
thì số lợng lao động hợp đồng đợc giảm bớt
Trình độ tay nghề của ứng viên đợc căn cứ vào trình độ vị trí cần tuyển.
Nếu nh chỉ cần lao động phổ thông thì tuyển lao động phổ thông, nếu cần tuyển
lao động có trình độ đại học thì tuyển có trình độ đại học
Tay nghềcủa ngời lao động cũng đợc chú trọng phát triển. Công ty một
mặt tạo điều kiện để ngời lao động tự nâng cao tay nghề trong quá trình làm việc,
mặt khác phối hợp với các trung tâm trờng viện để đào tạo ngoài giờ.
1.4. Tiền l ơng và các chế độ đối với ng ời lao động.
Là một doanh nghiệp nhà nớc, ngời lao động công ty sản xuất xuất nhập khẩu
xe đạp xe máy Hà Nội hởng lơng theo thang bậc lơng của doanh nghiệp nhà nớc.
Ngoài tiền lơng theo thang bậc lơng nhà nớc, công ty còn áp dụng hình thức trả l-
ơng theo định mức sản phẩm, căn cứ vào kết quả kinh doanh. Chính vì vậy tiền l-
ơng trong công ty biến động theo doanh thu cụ thể nh sau:
Biểu 2: Tiền lơng của ngời lao động 1999-2001
( Đơn vị: đồng )
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002
Thu nhập
1.142.000 980.000 770.000 800.000
Nh vậy mặc dù có giảm nhng nhìn chung tiền lơng của ngời lao động cũng
đủ đáp ứng yêu cầu cuộc sống và thúc đẩy ngời lao động tăng năng suất sản xuất
kinh doanh.

7

Bên cạnh tiền lơng công ty còn thực hiện các chế độ khác đối với ngời lao
động nh Bảo Hiểm Xã Hội, Bảo Hiểm Y Tế, công đoàn cũng nh các quỹ phúc lợi
khác.
2. Quản trị vật t, máy móc thiết bị.
Máy móc công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, là một trong ba yếu tố để tiến hành sản xuất.
Là một doanh nghiệp lắp ráp và gia công xe đạp xe máy, máy móc thiết bị của
công ty là rất đa dạng gồm nhiều loại với nhiều nguồn nhập khác nhau, trình độ
tự động cũng khác nhau.
Đối với dây chuyền lắp ráp xe máy dạng CKD, các thiết bị của công ty chủ
yếu là bán cơ giới đợc nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc. Các thiết bị này khá hiện
đại đáp ứng yêu cầu của chất lợng sản phẩm. Đối với dây chuyền lắp ráp xe đạp
phần lớn là thủ công bởi vì máy móc của công ty khá là lạc hậu. Đối với dây
chuyền gia công sản phẩm, máy móc của công ty đang dần đợc đổi mới
Đây là sơ đồ gia công và lắp ráp xe đạp

Sơ đồ gia công:
Sơ đồ lắp ráp:
Trong những năm vừa qua công ty đã đầu t hàng trăm triệu đồng để đổi mới
máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ sản xuất.
Số liệu cho ở bảng sau:
Biểu 3: Giá trị tài sản của công ty
( Đơn vị: đồng )

8
ống thép Cắt đoạn Tạo hình Ráp hàn Nắn sửa
Sơn
Làm sạch bằng
phốt phát
Khung
thành phẩm
Cắt gọt
Kiểm tra
Lắp khung với càng,
lắp nồi trục giữa
Kiểm tra Bao gói Xe hoàn
chỉnh
Lắp bánh
xe

TT Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
1
2
3
TSCĐ
NG TSCĐ
Giá trị hao mòn
2448549631
4203411273
1754861642
217820996
4228762173
2051941177
2117852120
4379126237
2261274117
Nh vậy qua biểu trên ta thấy mặc dù Công ty đã đầu t nhiều triệu đồng cho
đổi mới, nâng cấp thiết bị máy móc nh trong năm 2000 tổng số đầu t theo tài sản
cố định là hơn 25 triệu đồng và năm 2001 là hơn 150 triệu đồng nhng không
thấm bao nhiêu. Hầu hết máy móc của Công ty đã cũ, mức khấu hao lớn. Năm
2000 so với năm 1999 mức khấu hao tăng gần 300 triệu và năm 2001 mức khấu
hao tăng 209 triệu đồng qúa lớn so với số tiền đầu t cho tài sản cố định. Chính vì
vậy tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp luôn giảm.
Năm 2000 giảm 271.728.635 đồng ( giảm 11% so với năm 1999 ) sang năm
2001 mức giảm có giảm xuống còn 58.968.876 đồng ( giảm 2,71% ) sự giảm
xuống của tài sản cố định chứng tỏ máy móc kỹ thuật Công ty ngày càng lạc hậu,
mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu lớn, sản phẩm độ chính xác không còn cao
nh trớc nữa.
Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất lắp ráp xe đạp, xe máy các loại nên
nguồn vật t cần dùng cho sản xuất rất đa dạng từ các linh kiện để lắp ráp xe đạp
nh vành bi, lốp, khung tới các linh kiện lắp ráp xe máy nh trục, bánh, lốp, động
cơ cùng các nguyên liệu để sản xuất đồ dùng văn phòng nh thép ống
Những loại vật t trên Công ty có đợc từ hai nguồn:
+ Nguồn nhập khẩu.
+ Nguồn trong nớc: nhập t các đơn vị trong liên hiệp và các đơn vị khác.
Chính vì nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên chất lợng nhiêu khi không ổn định
nên đã ảnh hởng ít nhiều đến chất lợng sản phẩm của Công ty.
Hiện nay công tác vật t do phòng kinh doanh vật t và phòng kinh doanh xuất
nhập khẩu thực hiện.
3. Quản trị Marketing.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trờng
hiện nay, mọi quyết định đều phải xuất phát từ thị trờng. Công ty sản xuất xuất
nhập khẩu xe đạp xe máy Hà Nội không nằm ngoài quy luật đó. Là một doanh
nghiệp không những là doanh nghiệp sản xuất mà còn là doanh nghiệp thơng mại

9

nên Công ty rất chú trọng tới hoạt động marketing. Hàng năm chi phí cho hoạt
động marketing của Công ty tới hàng trăm triệu đồng. Sau đây là bảng tổng hợp
chi phí bán hàng của Công ty trong ba năm trở lại đây.
Biểu 5. Chi phí bán hàng của Công ty SX-XNK xe đạp xe máy HN
( Đơn vị: đồng )
TT Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1 CP Bán hàng 595.668.616 624.617.427 236.994.040
2 Hệ số chi phí bán hàng
( DT/CPBH)
122,704 184,602 254,168
Nh vậy qua biểu trên ta thấy chi phí bán hàng của công ty tỉ lệ thuận với
doanh thu, năm 2000 khi tổng doanh thu tăng 57,76% thì chi phí bán hàng tăng
4,86%. Hiệu quả chi phí cũng tăng từ 1 đồng chi phí tạo ra 122,704 đồng doanh
thu lên 104,802 đồng ( năm 2000 ), nhng năm 2000 khi thị trờng khó khăn công ty
đã chủ động cắt giảm chi phí bán hàng làm cho hiêụ quả chi phí bán hàng tăng
lên( hàng tồn kho ).
Để thấy rõ hoạt động bán hàng của công ty ta sẽ tiến hành phân tích từng
lĩnh vực.
3.1. Điều tra nghiên cứu thị trờng.
Điều tra nghiên cứu thị trờng là bớc đầu tiên trong quá trình sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp. Điều tra nghiên cứu thị trờng có đúng hiệu quả thì
những quyết định sản xuất cái gì sản xuất nh thế nào? cho ai!, sản xuất cho ai mới
đem lại hiệu quả. Hiểu rõ vấn đề đó Công ty sản xuất xuất nhập khẩu xe đạp xe
máy Hà Nội đã chú trọng tới công tác này.
Đối với công tác nghiên cứu thị trờng tiêu thụ sản phẩm: Hiện tại những
thông tin mà công ty có đợc từ thị trờng tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thông tin
thứ cấp, những thông tin đợc công bố rộng rãi trên các phơng tiện thông tin đại
chúng nh sách báo, truyền hình. Nguồn thông tin sơ cấp lấy đợc từ đại lý từ những
đợt khảo sát của nhân viên còn hạn chế và cha đầy đủ. Việc nghiên cứu thị trờng
thông qua tiếp cận trực tiếp ngời tiêu dùng còn ít. Chính vì vậy những thông tin thị
trờng mà doanh nghiệp có đợc cũng đợc các doanh nghiệp khác thu thập nên công
ty tỏ ra không có lợi thế hơn hẳn trong việc kinh doanh những loại mặt hàng mới.

10

Bên cạnh việc nghiên cứu thị trờng nội địa, công ty thờng xuyên cử cán bộ
đi thị sát thị trờng xuất khẩu nhất là các bạn hàng truyền thống ở Đông Âu, Bắc
Phi.
Đối với công tác nghiên cứu thị trờng nguyên vật liệu: nguồn nguyên vật
liệu sử dụng của các đơn vị trong liên hiệp, công ty cũng phải nhập các nguyên
liệu khác của các cơ sở trong và ngoài nớc.
Với thị trờng trong nớc thông qua các hội chợ hàng công nghiệp, tự tìm hiểu
hoặc khách hàng đến chào mời. Công ty có thể lựa chọn đợc nguồn cung cấp
nguyên liệu mới chất lợng tốt giá thành hợp lý. Đối với thị trờng nớc ngoài, hiện
nay công ty chủ yếu tiếp cận một cách trực tiếp thông qua những đợt khảo sát tại
nớc ngoài của cán bộ. Hình thức này tuy có hiệu quả cao nh lựa chọn đợc nguồn
nhập có chất lợng rõ ràng, nhng chi phí cho những chuyến công tác này quá cao.
Do vậy công ty đang xúc tiến tìm kiếm hiệu quả qua mạng Internet để tiết kiệm
chi phí.
3.2. Công tác xúc tiến, quảng cáo yểm trợ bán hàng.
Xúc tiến quảng cáo bán hàng là một trong những công cụ quan trọng để
phát triển và mở rộng thị trờng nhng hiện tại trên thực tế công ty cha chú ý lắm
đến việc thực hiện các biện pháp này chính vì vậy các hoạt động này ít có hiệu quả
đối với kết quả sản xuất kinh doanh. Hàng năm kinh phí cho hoạt động này chiếm
rất ít, hình thức quảng cáo của công ty thờng thực hiện là tham gia hội chợ triển
lãm hoặc quảng cáo trên báo chí, tuy vậy công ty cha quảng cáo trên truyền hình
do chi phí quá tốn kém.
Hiện tại Công ty ít tổ chức những hội nghị khách hàng, hội nghị hội thảo về
hàng hoá nhằm tìm ra những phơng án đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu
dùng.
Một công cụ quan trọng để tiến hành hoạt động xúc tiến quảng cáo là tổ
chức các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, song hiện nay các cửa hàng giới thiệu sản
phẩm của công ty lại tập trung vào bán lẻ hơn là quảng cáo, giới thiệu cho khách
hàng về sản phẩm của công ty. Hơn nữa các cửa hàng giới thiệu sản phẩm lại chỉ
có ở thị trờng Hà Nội trong khi những sản phẩm của công ty phần lớn phục vụ
những ngời có thu nhập trung bình.
3.3. Chính sách sản phẩm.

11

Với chức năng là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lắp ráp xe đạp xe
máy. Công ty xác định rằng đây là sản phẩm chính của công ty. Trớc kia công ty
chỉ chuyên sản xuất xe đạp, tuy nhiên công ty đã nhạy bén với nhu cầu về xe máy
Trung Quốc giá rẻ nên đã chuyển sang lắp ráp xe máy Trung Quốc nhằm đáp ứng
nhu cầu của những ngời có thu nhập trung bình. Ngoài ra để sử dụng đồng vốn
hiệu quả hơn, công ty còn thực hiện thêm chức năng của một công ty thơng mại là
kinh doanh những mặt hàng nào mà thị trờng cần nh đồ dùng văn phòng, nội thất
3.4. Chính sách giá.
Xác định khách hàng chính của mình là những ngời có thu nhập trung bình,
công ty đã luôn tìm cách hạ giá thành sản phẩm để giá bán sản phẩm phù hợp với
đoạn thị trờng này bằng nhiều cách khác nhau nh:
- Giảm chi phí sản xuất, thực hiện thông qua đầu t đổi mới máy móc thiết
bị, giảm lãng phí nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động của công nhân.
Công ty thông qua việc tìm hiểu lựa chọn nhiều đối tác để nhập hàng về với giá cả
phải chăng.
- Giảm chi phí ngoài sản xuất, thực hiện thông qua giảm chi phí công tác n-
ớc ngoài, giảm chi phí bán hàng
Tuy đã thực hiện nhiều biện pháp giảm chi phí nhng trên thực tế hiện nay
giá bán sản phẩm của công ty không thấp hơn là mấy so với đối thủ khác nhất là
trong mặt hàng xe máy Trung Quốc. Hiện nay công ty áp dụng giá thống nhất cho
mọi khu vực và không có hình thức chiết khấu nào. Chỉ có giảm giá đối với khách
hàng mua với số lợng lớn nhng tổng tiền giảm cha tới 0,1% tổng doanh thu.
3.5. Mạng lới phân phối.
Mạng lới phân phối đóng vai trò không thể thiếu đối với bất kỳ một doanh
nghiệp nào. Thông qua mạng lới phân phối, sản phẩm của công ty đến đợc tận tay
ngời tiêu dùng cuối cùng. Hiện tại hệ thống kênh phân phối của công ty đợc tổ
chức qua sơ đồ:
Sơ đồ 2: Hệ thống phân phối.

12
Nhà phân
phối
CH GTSP Đại lý
Công ty
Nhà nhập
khẩu n ớc
ngoài
Ng ời tiêu
dùng cuối
cùng
Ng ời tiêu
dùng cuối
cùng
Ng ời tiêu
dùng cuối
cùng
Ng ời tiêu
dùng cuối
cùng
(4)
(3)
(2)

Trong 4 kênh phân phối hiện nay, kênh 1, 2, 3 là các kênh phân phối trong nớc
còn kênh 4 là kênh phân phối thị trờng nớc ngoài. Nếu xét trên góc độ lý thuyết thì
với 4 kênh phân phối trên, công ty có đợc thị trờng khá lớn nhng hiện tại hoạt
động của các kênh này còn có những hạn chế. Đối với kênh 3 tức là kênh tiêu thụ
qua đại lý thì hiện tại các đại lý của công ty chỉ mới tập trung tại thị trờng Hà Nội.
ở những khu vực thị trờng tiềm năng khác nh thị trờng nông thôn nơi có nhu cầu
rất lớn về xe đạp xe máy Trung Quốc thì số lợng đại lý của công ty lại quá ít chỉ
chiếm 2/ 11 đại lý của công ty. Trong các kênh trên kênh số 1 chiếm vị trí quan
trọng vì hàng năm số lợng tiêu thụ qua kênh này chiếm từ 40 50 % tổng doanh
thu. Hiện tại công ty có hai nhà phân phối là: Công ty cổ phần Phơng Đông và
Công ty TNHH Nhất Nguyên. Kênh số 4 là kênh tiêu thụ thông qua nhà nhập khẩu
nớc ngoài là một kênh quan trọng để công ty tiếp cận thị trờng xuất khẩu. Hiện
nay hoạt động của kênh này khá tốt số hàng tồn kho xuất khẩu ít.
Nh vậy hiện tại mức độ bao phủ thị trờng của các kênh phân phối không cao
chỉ mới tập chung ở thị trờng Hà Nội. Trong tơng lai Công ty cần mở rộng phát
triển các kênh hơn nữa.
4. Quản trị chất lợng.
Với phơng châm lấy chất lợng uy tín làm nhiệm vụ hàng đầu trong những
năm qua Công ty sản xuất xuất nhập khẩu xe đạp xe máy Hà Nội đã ra sức bằng
mọi biện pháp để nâng cao chất lợng sản đáp ứng những nhu cầu khắt khe của
khách hàng về chất lợng.
Trong hai năm 2000&2001 Công ty đã đầu t 2000 triệu đồng để nâng cấp cải
tạo máy móc thiết bị lắp ráp xe đạp xe máy. Công ty cũng đã triển khai và áp
dụng thành công hệ thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:
1994 và đang triển khai ISO 9001:2000.
Bảng 6: Giá trị hàng bán bị trả lại
Đơn vị: đồng
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
Trị giá % DT Trị giá % DT Trị giá % DT
Trị giá
hàng hóa
bị trả lại
70049456 0,096 104601590 0,091 719998 0,012

13
(2)

Nh vậy qua bảng trị giá hàng bán bị trả lại ta thấy rằng chất lợng sản phẩm
của công ty đã đợc nâng lên rõ rệt. Tuy trị giá hàng bán bị trả lại năm 2000 cao
hơn năm 1999 là 34.552.134 đ nhng tỉ lệ trị giá hàng bán bị trả lại trong tổng
doanh thu lại giảm 0,005% đặc biệt trong năm 2001, khi công ty áp dụng hệ
thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001: 1994 thì tỉ lệ trị giá
hàng bán trong tổng doanh thu giảm mạnh so với năm 2000 giảm tới 0,079%
tức là giảm 103.881.592 đ. Nh vậy có thể nói chất lợng sản phẩm của công ty đã
đợc cải thiện đáng kể đáp ứng đòi hỏi của ngời tiêu dùng.
5. Quản trị tài chính.
5.1. Quản trị vốn.
Vốn theo vòng không chỉ là tiền tệ mà còn là những nguồn lực khác nhau
nh tài nguyên nhân lực, đất đai, uy tín của doanh nghiệp. Tuy nhiên đối với một
doanh nghiệp vốn tiền tệ là quan trọng nhất. Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh
doanh, một doanh nghiệp phải có đầy đủ 3 yếu tố là: lao động, máy móc kĩ thuật
và vốn. Trong đó vốn và vốn tiền tệ là quan trọng nhất. Thiếu lao động, máy móc
chủng loại ta có thể thuê mua sắm nếu chúng ta có vốn, nhng thiếu vốn thì chúng
ta không thể làm gì đợc.
Sau đây là bảng tổng hợp tình hình vốn của công ty trong 3 năm trở lại đây:
Biểu 7: Bảng tổng hợp vốn của Công ty trong 3 năm Đơn vị: đồng
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng nguồn vốn của công ty có xu hớng giảm dần.
Năm 2000 tổng nguồn vốn của công ty là 32.418.782.604 đ nhng sang năm 2001
đã giảm đi 10.681.408.856 chỉ còn 21.737.373.748 đ và năm 2002 giảm tiếp còn
21.658.868.792 đ nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng kể trên là do
nguồn vốn lu động của công ty đã giảm mạnh. Năm 2001 số nguồn vốn lu động

T
T
Chỉ tiêu Năm 2000 Tỷ
trọng
Năm 2001 Tỷ
trọng
Năm 2002 Tỷ
trọng
1 Vốn cố định
2448549631 7,56 2176820996 10,1 2163779071 9,87
2 Vốn lu
động
29248232973 92,46 1956055272 89,9 19495089721 90,13
3 Nguồn vốn
32418782604 100 21737373748 100 21658868792 100
14

một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện hợp đồng xuất khẩu tại công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp hà nội (haprosimex group)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện hợp đồng xuất khẩu tại công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp hà nội (haprosimex group)": http://123doc.vn/document/1053912-mot-so-giai-phap-nham-hoan-thien-cong-tac-thuc-hien-hop-dong-xuat-khau-tai-cong-ty-san-xuat-va-xuat-nhap-khau-tong-hop-ha-noi-haprosimex-group.htm


* Thông tin về thị trường:
- Thông tin về đất nước, con người, tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội…
- Thông tin kinh tế cơ bản của thị trường như GDP, GNP, tỷ giá
hối đoái…
- Thông tin về chính sách thương mại.
- Thông tin về cơ sở hạ tầng.
- Thông tin về hệ thống ngân hàng.
- Thông tin về khách hàng, bạn hàng như: năng lực tài chính, khả
năng thực hiện hợp đồng.
- Thông tin về giá quốc tế của mặt hàng xuất khẩu.
1.2.2. Lập phương án kinh doanh
Lập phương án kinh doanh nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp tính
được hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí.
Doanh nghiệp phải xác định mục tiêu của hoạt động xuất khẩu như vì lợi
nhuận, vì quan hệ, vì khai thông thị trường; phải ước tính được các chỉ tiêu về
kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu, chi phí, lợi nhuận,…để đưa ra các
phương án kinh doanh có tính khả thi nhất.
Doanh nghiệp phải đưa ra nhiều phương án kinh doanh khác nhau để lựa
chọn sao cho phù hợp với điều kiện, khả năng của mình nhất. Tất cả các phương
án đưa ra đều phải đảm bảo tính cụ thể, tính khả thi, tính linh hoạt, tính nhất
quán, tính hợp lý.
1.2.3. Tổ chức thu mua, sản xuất tạo nguồn hàng
Trước khi xuất khẩu doanh nghiệp phải xác định cho được nguồn hàng.
Với các mặt hàng khác nhau thì có những đòi hỏi khác nhau về chất lượng, kiểu
dáng, mẫu mã,…nên doanh nghiệp cần sản xuất thu mua cho phù hợp nếu không
sẽ bỏ lỡ thời cơ, làm mất thị trường xuất khẩu.
5
1.2.4. Giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng
Trên cơ sở đã xác định những thông tin về thị trường, lựa chọn được bạn
hàng, thu mua và sản xuất hàng hóa doanh nghiệp tiến hành xác định thời gian,
địa điểm tiến hành đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng xuất khẩu. Nội dung
giao dịch đàm phán bao gồm:
- Tên và chủng loại hàng hóa giao dịch mua bán.
- Giao dịch về chất lượng hàng hóa.
- Giao dịch về số lượng.
- Giao dịch về kiểu dáng bao bì.
- Giao dịch về giá cả.
- Giao dịch về địa điểm và thời gian giao hàng.
- Thanh toán và kết thúc hợp đồng.
Theo quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế có thể được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả
bằng lời nói. Riêng Luật thương mại Việt Nam (năm 2005) quy định hình thức
của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là văn bản hoặc các hình thức khác
có giá trị pháp lý tương đương.
1.2.5. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Khi hợp đồng đã được ký kết, doanh nghiệp sẽ tiến hành thực hiện hợp
đồng. Để thực hiện hợp đồng, thông thường doanh nghiệp xuất khẩu phải thực
hiện các công việc sau:
- Xin giấy phép xuất khẩu
- Chuẩn bị hàng xuất khẩu
- Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu
- Thuê tàu hoặc lưu cước
- Mua bảo hiểm
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng xuất khẩu
- Thực hiện các thủ tục thanh toán
6
- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
1.2.6. Đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu
Sau khi kết thúc quá trình thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp tiến hành
đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu dựa trên một số chỉ tiêu như: tỷ suất ngoại
tệ xuất khẩu, lợi nhuận, doanh lợi, hiệu qua kinh doanh tương đối, hiệu quả sử
dụng vốn, chi phí thực hiện hợp đồng, mức độ rủi do. Từ đó hạch toán lãi lỗ để
lập phương án kinh doanh cho kỳ tới một cách kịp thời nhất.
2. Khái niệm và sự cần thiết của hợp đồng xuất khẩu
2.1 Khái niệm hợp đồng xuất khẩu
Hợp đồng ngoại thương hay còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu là sự
thỏa thuận của bên mua và bên bán giữa hai nước khác nhau, trong đó quy định
bên bán phải cung cấp hàng hóa và chuyển giao các chứng từ có liên quan đến
hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua phải thanh toán
tiền hàng.
Ở Việt Nam, điều 80 Luật Thương mại được Quốc hội khóa IX, kỳ họp
thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997, quy định về hợp đồng ngoại thương như sau:
“Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán
hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam và một bên là
thương nhân nước ngoài”.
Trong các văn bản quy chế khác của Bộ Thương mại Việt Nam thì hợp
đồng ngoại thương thường có đặc điểm sau:
- Đặc điểm 1: Hàng hóa
Hàng hóa là đối tượng mua bán của hợp đồng, được chuyển ra khỏi đất
nước người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng.
- Đặc điểm 2: Đồng tiền thanh toán
Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc
đối với cả hai bên.
- Đặc điểm 3: Chủ thể của hợp đồng
7
Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hợp đồng: Chủ thể của hợp đồng
ngoại thương là người mua và người bán phải có cơ sở kinh doanh đăng ký tại
hai quốc gia khác nhau.
2.2 Sự cần thiết của hợp đồng xuất khẩu
Ngày nay sự phát triển kinh tế của một quốc gia không thể tách rời với
các quốc gia khác trên thế giới. Thực tế đã chứng minh rằng các quốc gia không
thể tồn tại tách biệt với thế giới bên ngoài mà có thể đảm bảo đầy đủ điều kiện
vật chất và có thể phát triển. Vì thế cần phải phát triển thương mại quốc tế để
phát triển đất nước.
Tuy nhiên, trong kinh doanh nói chung và trong kinh doanh thương mại
quốc tế nói riêng cũng rất nhiều phức tạp. Mặc dù, đã được bàn bạc, thoả thuận
kỹ nhưng nếu không có hợp đồng thì nhiều khi vẫn có thể bị huỷ bỏ. Điều này
dễ xảy ra nếu thực tế sẽ không có lợi cho một bên nào đó.
Trên thực tế giao dịch bằng miệng nhiều khi vẫn có hiệu lực và bị ràng
buộc. Nhưng nếu có tranh chấp sẽ không có chứng cứ cụ thể để giải quyết.
Trường hợp giao kết bằng điện thoại, telex thông thường phải lưu giữ những nội
dung chào hàng xác định và các thông báo gửi tin ưng thuận, nếu có tranh chấp
thì đó là chứng cứ. Tuy nhiên nếu có tranh chấp xảy ra không có hợp đồng là rất
khó xử. Vì thế trong kinh doanh thương mại quốc tế hợp đồng là rất cần thiết vì:
- Trong kinh doanh thương mại quốc tế giữa các nước với nhau, nếu có
sự khác nhau về chủ thể ngôn ngữ, chính trị, luật pháp, tôn giáo, tập quán. Đồng
thời có sự hiểu nhầm về thuật ngữ thống nhất đã dùng trong bản hợp đồng. Vì
thế khi có hợp đồng và các điều khoản qui định trong hợp đồng thì các bên có
thể hiểu một cách thống nhất với nhau.
- Hợp đồng là văn bản bằng chứng ghi rõ những điều khoản trên giấy
trắng mực đen và chữ ký của 2 bên tham gia hợp đồng. Vì thế sẽ là căn cứ pháp
lý ràng buộc các bên thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã thoả thuận.
Đồng thời nó là cơ sở để thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng của
doanh nghiệp đã ký kết.
- Hợp đồng sẽ là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp xảy ra nếu như
các bên không thực hiện đúng và đầy đủ trong hợp đồng. Nhằm đảm bảo quyền
và nghĩa vụ của các bên.
8
II. Nội dung của công tác thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Tùy thuộc vào các yếu tố có liên quan mà nội dung công tác thực hiện
mỗi hợp đồng xuất khẩu sẽ khác nhau, tuy nhiên đa số các hợp đồng xuất khẩu
đều có nội dung thực hiện như sau:
1. Xin giấy phép xuất khẩu
Giấy phép xuất khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý
công tác xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy ngay sau khi ký kết
hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải ngay lập tức chuẩn bị các giấy tờ cần
thiết để xin giấy phép xuất khẩu (nếu hàng hóa đó thuộc diện phải xin giấy
phép) để thực hiện hợp đồng đó.
Giấy phép xuất khẩu ở đây được hiểu là tất cả các giấy phép mà doanh
nghiệp cần phải có để có thể xuất khẩu loại hàng hóa mà doanh nghiệp đã ký kết
trong hợp đồng xuất khẩu.
Thông thường, để xin giấy phép các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị hồ
sơ xin giấy phép xuất khẩu bao gồm các loại giấy tờ sau:
+ Đơn xin giấy phép xuất khẩu
+ Hợp đồng xuất khẩu.
+ Giấy phép đăng ký kinh doanh, mã số thuế, mã số xuất nhập khẩu.
+ Hồ sơ xin giấy phép xuất khẩu và chứng minh năng lực xuất khẩu, các
bản thanh quyết toán của giấy phép cũ, bộ chứng từ chứng minh chất lượng
hàng hóa xuất khẩu.
2. Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, công ty xuất khẩu phải
tiến hành chuẩn bị hàng xuất khẩu. Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp
đồng đã ký với nước ngoài và/hoặc L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng
L/C).
Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu: thu gom
tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu hàng
xuất khẩu.
9
2.1. Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu
Việc mua bán ngoại thương thường tiến hành trên cơ sở số lượng lớn.
Trong khi đó sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta, về cơ bản, là một nền sản xuất
manh mún, phân tán, vì vậy, trong rất nhiều trường hợp muốn làm thành lô hàng
xuất khẩu, công ty xuất khẩu phải tiến hành thu gom từ rất nhiều cơ sở sản xuất.
Cơ sở pháp lý để làm việc đó ký kết hợp đồng kinh tế giữa công ty xuất khẩu
với các cơ sở sản xuất.
Hợp đồng kinh tế về việc huy động hàng xuất khẩu có thể là hợp đồng
mua bán hàng xuất khẩu, hợp đồng gia công, hợp đồng đổi hàng….
2.2. Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu
Trong buôn bán quốc tế, tuy không ít mặt hàng để trần hoặc để rời,
nhưng đại bộ phận hàng hóa đòi hỏi phải được đóng gói bao bì trong quá trình
vận chuyển và bảo quản. Muốn làm tốt được công việc đóng gói bao bì, một mặt
cần phải nắm vững loại bao bì đóng gói mà hợp đồng quy định, mặt khác cần
nắm được những yêu cầu cụ thể của việc bao gói để lựa chọn bao gói thích hợp.
2.2.1. Loại bao bì
Trong buôn bán quốc tế, người ta dùng rất nhiều loại bao bì. Các loại
thông thường là:
- Hòm (case, box): Dùng cho những hàng có giá trị tương đối cao hoặc
dễ hỏng, dễ vỡ.
- Bao (bag): Dùng cho các sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu hóa
chất.
- Kiện hay bì (bale): Tất cả các loại hàng hóa có thể ép gọn mà phẩm
chất không bị hỏng thì đều có thể đóng thành kiện.
- Thùng (barrel, drum): Các loại hàng lỏng,chất bột và nhiều loại hàng
khác nữa phải đóng vào thùng.
Ngoài mấy loại bao bì thường dùng trên đây, còn có một số loại khác
như: sọt, chai lọ, chum…
10
Các loại bao bì trên đây là bao bì bên ngoài (outer packing). Ngoài ra
còn có bao bì bên trong (inner packing), bao bì trực tiếp (immediate packing).
2.2.2. Những nhân tố cần được xét đến khi đóng gói
Yêu cầu chung về đóng gói bao bì ngoại thương là an toàn, rẻ tiền và
thẩm mỹ. Điều đó có nghĩa là: Bao bì phải đảm bảo sự nguyên vẹn về chất
lượng, về chất lượng hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, phải đảm
bảo hạ giá thành sản phẩm nhưng đồng thời phải đảm bảo thu hút sự chú ý của
người tiêu thụ. Khi lựa chọn loại bao bì, công ty xuất khẩu phải xét đến những
điều đã thảo thuận trong hợp đồng, thứ đến phải xét đến tính chất của hàng hóa.
Ngoài ra cần xét đến những nhân tố dưới đây:
+ Điều kiện vận tải: khi lựa chọn bao bì người ta phải xét đến đoạn
đường dài hay ngắn, phương pháp và thời gian của việc vận chuyển, sự chung
đụng với hàng hóa khác.
+ Điều kiện khí hậu: Đối với những hàng hóa giao cho các nước có độ
ẩm không khí cao (tới 90%) và nhiệt độ trung bình tới 30 – 40 độ C, hoặc hàng
hóa đi qua những nước có khí hậu như vậy thì bao bì phải là những loại đặc biệt
bền vững. Thường thường đó là những hòm gỗ hoặc kim khí được hàn hoặc gắn
kín.
+ Điều kiện về luật pháp hoặc thuế quan: ở một số nước, luật pháp cấm
nhập khẩu những hàng hóa có bao bì làm từ những loại nguyên liệu nhất định,
một số nước khác lại cho phép nếu có giấy tờ chứng nhận rằng nguyên liệu sản
xuất bao bì đã được khử trùng. Bên cạnh đó, ở một số nước thuộc khối liên hiệp
Anh, hải quan đòi hỏi phải xuất trình những chứng từ về xuất xứ của bao bì để
áp dụng các mức thuế suất khác nhau.
+ Điều kiện chi phí vận chuyển: Cước phí thường được tính theo trọng
lượng cả bao bì hoặc thể tích của hàng hóa. Vì vậy rút bớt trọng lượng bao bì
hoặc thu hẹp thể tích của hàng hóa sẽ tiết kiêm được chi phí vận chuyển.
11
2.3. Việc kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu
Ký mã hiệu là những ký hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ được
ghi bên ngoài các bao bì nhằm thông báo những chi tiết cần thiết cho việc giao
nhận, bốc dỡ hoặc bảo quản hàng hóa.
Việc ký mã hiệu cần phải đạt được yêu cầu sau: sáng sủa, dễ đọc, không
phai màu, không thấm nước, không làm ảnh hưởng đến phẩm chất hàng hóa.
3. Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu
Trước khi giao hàng, công ty xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra hàng
về phẩm chất, số lượng, trọng lượng, bao bì (tức kiểm nghiệm) hoặc nếu hàng
hóa xuất khẩu là động vật hoặc thực vật phải kiểm tra về khả năng lây lan bệnh
(tức kiểm dịch động thực vật).
Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch được tiến hành ở hai cấp: ở cơ sở và ở
cửa khẩu. Trong đó việc kiểm tra ở cơ sở có vai trò quyết định nhất. Còn việc
kiểm tra hàng hóa ở cửa khẩu có tác dụng thẩm tra lại kết quả kiểm tra ở cơ sở
và thực hiện thủ tục quốc tế.
Việc kiểm nghiệm ở cơ sở là do tổ chức “kiểm tra chất lượng sản phẩm”
(KCS) tiến hành. Tuy nhiên thủ trưởng đơn vị vẫn là người chịu trách nhiệm
chính về phẩm chất hàng hóa.
Việc kiểm dịch thực vật ở cơ sở là do phòng bảo vệ thực vật (của huyện,
quận hoặc ở nông trường) tiến hành. Việc kiểm dịch động vật ở cơ sở là phòng
(trạm) thú y (của huyện, quận hoặc ở nông trường) tiến hành.
4.Thuê tàu hoặc lưu cước
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu, việc thuê tàu chở hàng
được tiến hành dựa vào 3 căn cứ sau: Những điều khoản của hợp đồng mua bán
ngoại thương; đặc điểm của hàng hóa được mua bán; và điều kiện vận tải.
Khi doanh nghiệp ký kết hợp đồng xuất khẩu theo điều kiện CIF hoặc C
and F (cảng đến) thì doanh nghiệp phải tiến hành việc thuê phương tiện vận tải.
Tùy vào đặc điểm hàng hóa, tính chất kinh doanh…mà doanh nghiệp có
thể lựa chọn một trong các hình thức vận tải sau đây: Vận tải đường biển, vận tải
12
đường không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đa phương thức hoặc
một số hình thức đặc thù khác.
Hiện nay trên thế giới phương tiện vận tải được sử dụng phổ biến nhất là
vận tải đường biển, nó thường chiếm khoảng 60 – 70% lưu lượng hàng hóa được
mua bán trên thế giới. Tiếp đó là vận tải đường không và vận tải đa phương
thức.
Đối với phương thức vận tải đường biển, doanh nghiệp có thể lựa chọn
các hình thức : thuê tàu chuyến, thuê tàu chợ, thuê bao tàu, hoặc vận chuyển
bằng container. Việc lựa chọn hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện giao
hàng, khối lượng hàng xuất khẩu.
Việc thuê tàu lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về
tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy trong
nhiều trường hợp, công ty xuất khẩu thường ủy thác việc thuê tàu, lưu cước cho
một công ty hàng hải : công ty thuê tàu và môi giới hàng hải, công ty đại lý tàu
biển…
Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa hai bên ủy thác thuê tàu với bên
nhận ủy thác thuê tàu là hợp đồng ủy thác. Có hai loại hợp đồng ủy thác thuê
tàu:
+ Hợp đồng ủy thác thuê tàu cả năm
+ Hợp đồng ủy thác thuê tàu chuyến
Công ty xuất khẩu căn cứ vào đặc điểm vận chuyển của hàng hóa để lựa
chọn loại hình hợp đồng thích hợp.
5. Mua bảo hiểm
Hàng hóa chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế
bảo hiểm hàng hóa đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại
thương. Doanh nghiệp xuất khẩu chỉ phải mua bảo hiểm cho hàng hóa khi họ ký
kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo điều kiện CIF hoặc CIP và điều kiện của
nhóm D.
13
Để mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển, doanh
nghiệp xuất khẩu cần thực hiện một số công việc sau:
+ Liên hệ với các công ty bảo hiểm để lấy hồ sơ quảng cáo các sản phẩm
bảo hiểm.
+ Lựa chọn công ty bảo hiểm,sản phẩm bảo hiểm và loại hình bảo hiểm.
+ Nghiên cứu điều kiện bảo hiểm cần mua (A,B,C).
Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa vào 4 căn cứ sau:
- Các điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương
- Tính chất của hàng hóa
- Tính chất bao bì và phương thức xếp hàng
- Loại tàu chuyên chở
+ Đến công ty bảo hiểm làm giấy yêu cầu được bảo hiểm cho hàng hóa
chuyên chở và ký kết hợp đồng bảo hiểm bằng văn bản.
+ Thanh toán phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm và nhận đơn bảo hiểm
hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp cần chú ý tới
một số vấn đề cơ bản sau:
Trị giá bảo hiểm: Trị giá bảo hiểm của hàng hóa xuất khẩu được tính
theo công thức sau:
(C+F)
V= 110%CIF = x (a +1)
(1-R)
Trong đó: V là giá trị bảo hiểm; F là cước phí vận tải; C là giá FOB của
hàng hóa; R là tỷ lệ phí bảo hiểm; a là tỷ lệ lời dự tính ( theo thông lệ của quốc
tế: a= 10%).
Tỷ lệ phí bảo hiểm: Đây là chỉ số % dùng để tính phí bảo hiểm cho
hàng hóa xuất khẩu, tỷ lệ này thường dao động từ 2/1000 (hai phần ngàn) đến
2/100 (hai phần trăm) tùy thuộc vào các yếu tố sau:
(1) Đặc điểm tính chất của hàng hóa chuyên chở;
14

một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập giá dự thầu trong đấu thầu mua sắm thiết bị tại công ty thiết bị y tế tw1 - hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập giá dự thầu trong đấu thầu mua sắm thiết bị tại công ty thiết bị y tế tw1 - hà nội": http://123doc.vn/document/1054218-mot-so-bien-phap-nham-hoan-thien-cong-tac-lap-gia-du-thau-trong-dau-thau-mua-sam-thiet-bi-tai-cong-ty-thiet-bi-y-te-tw1-ha-noi.htm


Từ những vấn đề trên đây có thể thấy thực chất của đấu thầu thể hiện ở các
khía cạnh sau:
* Thứ nhất: Đấu thầu là việc ứng dụng phơng pháp xét hiệu quả kinh tế
trong việc lựa chọn các đơn vị cung cấp thiết bị hàng hoá (các nhà thầu). Phơng
pháp này đòi hỏi sự so sánh, đánh giá giữa các nhà thầu trên cùng một phơng
diện (nh kỹ thuật, tài chính) và phải diễn ra theo một quy trình và căn cứ vào một
hệ thống các tiêu chuẩn nhất định để chọn lấy nhà thầu đủ khả năng sau đó lại so
sánh tiếp. Kết quả cuối cùng là chủ đầu t sẽ chọn đợc nhà thầu đáp ứng một cách
tốt nhất các yêu cầu của bên mời thầu.
* Thứ hai: Đấu thầu là việc tổ chức hoạt động cạnh tranh trên hai phơng
diện:
- Cạnh tranh giữa chủ đầu t (bên mời thầu) và nhà thầu (các đơn vị cung
cấp thiết bị hàng hoá).
- Cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Các quan hệ cạnh tranh này xuất phát từ quan hệ mua bán (cung - cầu)
trong đó ngời mua là chủ đầu t và ngời bán là các nhà thầu. Tuy nhiên hoạt động
mua bán này khác với hoạt động mua bán thông thờng ở chỗ: chủ đầu t bán việc
nhng phải trả tiền, nhà thầu mua việc nhng nhận đợc tiền. Ngời bán muốn bán
việc với giá rẻ nhất bởi vì họ phải trả tiền thanh toán cho ngời mua. Ngời mua lại
mong muốn mua đợc giá cao để tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho họ. Mặt khác
theo lý thuyết hành vi thì trong một vụ mua bán bao giờ ngời mua cũng cố gắng
để mua đợc hàng hoá với mức giá thấp nhất ở chất lợng nhất định, còn ngời bán
lại cố gắng bán đợc mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể. Do đó nảy sinh sự
cạnh tranh giữa ngời mua (chủ đầu t) và ngời bán (nhà thầu). Mặt khác, do hoạt
động mua bán này lại diễn ra chỉ với một ngời mua và nhiều ngời bán nên giữa
những ngời bán (các nhà thầu) phải cạnh tranh với nhau để bán đợc sản phẩm
của mình. Kết quả là thông qua việc tổ chức hoạt động cạnh tranh sẽ hình thành
giá thầu.
Trong việc lựa chọn nhà thầu có thể đợc thực hiện theo hai hình thức chủ
yếu sau:
- Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi là hình thức không hạn chế số lợng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phơng tiện thông tin đại chúng
và ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với các gói thầu lớn phức tạp về
5
công nghệ, kỹ thuật bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà thầu
có đủ t cách và năng lực tham gia dự thầu.
Hình thức này hiện nay đang đợc khuyến khích áp dụng nhằm đạt đợc tính
cạnh tranh cao trên cơ sở có sự tham gia của nhiều nhà thầu. Tuy nhiên hình thức
này chỉ đợc áp dụng đối với các loại thiết bị hàng hoá thông thờng không có yêu
cầu đặc biệt về công nghệ và kỹ thuật cũng nh không mang tính bí mật và tuỳ
theo từng dự án cụ thể trong phạm vi một địa phơng, một vùng, khu vực, toàn
quốc hay quốc tế.
- Đấu thầu hạn chế:
Đấu thần hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
Hình thức này hiện nay chỉ đợc áp dụng một trong các trờng hợp sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu đáp ứng đợc yêu càu của hồ sơ mời thầu nhng
tối thiểu phải có 3 nhà thầu có khả năng tham gia.
+ Các nguồn vốn sử dụng để mua thiết bị hàng hoá có yêu cầu cần tiến
hành đấu thầu hạn chế.
- Do yêu cầu về tiến độ giao hàng để thực hiện dự án đợc ngời có thẩm
quyền quyết định đầu t chấp nhận.
- Do tính chất của hàng hoá thiết bị cần mua sắm đòi hỏi phải tiến hành
đấu thầu hạn chế.
Để tiến hành việc thực hiện đấu thầu thì chủ đầu t có thể áp dụng các ph-
ong thức chủ yếu sau:
* Đấu thầu một túi hồ sơ (một phong bì)
Khi đấu thầu theo phơng thức này nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ
thuật, tài chính, giá bó thầu và những điều kiện khác trong một túi hồ sơ chung.
* Đấu thầu hai túi hồ sơ (Hai phong bì)
Khi đấu thầu theo phơng thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ
thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm.
Túi hồ sơ về kỹ thuật sẽ đợc xem xét trớc để đánh giá, xếp hạng. Nhà thầu đợc
xếp hạng thứ nhất về kỹ thuật sẽ đợc xem xét tiếp túi hồ sợ đề xuất về tài chính.
Trong trờng hợp nhà thầu không đáp ứng đợc các yêu cầu về tài chính và các
điều kiện của hợp đồng, bên mời thầu phải xin ý kiến của ngời có thẩm quyền
quyết định đầu t, nếu đợc chấp thuận mới đợc mời nhà thầu tiếp theo để xem xét.
6
* Đấu thầu hai giai đoạn.
Phơng pháp này áp dụng cho những dự án lớn, phức tạp về công nghệ và
kỹ thuật. Trong quá trình xem xét, chủ đầu t có điều kiện hoàn thiện yêu cầu đòi
hỏi của thiết bị hàng hoá về mặt công nghệ, kỹ thuật và các điều kiện tài chính
của hồ sơ mời thầu.
- Giai đoạn thứ nhất: Các nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và phơng án tài
chính sơ bộ (cha có giá0 để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng
nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chính
thức chuẩn bị và nộp đề xuất kỹ thuật của mình.
- Giai đoạn thứ hai: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai
đoạn thứ nhất nộp đề xuất kỹ thuật đã đợc bổ sung hoàn thiện trên cùng một mặt
bằng kỹ thuật và đề xuất đầy đủ các điều kiện tài chính, tiến độ thực hiện, điều
kiện hợp đồng, giá bó thầu để đánh giá và xếp hạng.
* Chào hàng cạnh tranh.
Phơng thức này chỉ áp dụng cho các gói thầu mua sắm thiết bị hàng hoá
có quy mô nhỏ và đơn giản, mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 bản chào giá của ba
nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu của bên mời thầu. Nhà thầu đáp ứng yêu
cầu và có giá bó thầu đợc đánh giá thấp nhất sẽ đợc xem xét trao hợp đồng.
* Mua sắm trực tiếp.
Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp ngời có thẩm quyền quyết định
đầu t cho phép đối với các loại thiết bị hàng hoá có nhu cầu gấp để hoàn thành
dự án mà trớc đó các loại vật t thiết bị này đã đợc tiến hành đấu thầu và đợc ngời
có thẩm quyền quyết định đầu t cho phép thực hiện.
* Mua sắm đặc biệt.
Đợc áp dụng cho các trờng hợp đặc biệt (Ngoài các phơng thức nêu trên)
để thực hiện đợc phơng thức này chủ đầu t phải xây dựng phơng án thực hiện
trình Thủ tớng Chính phủ xem xét và quyết định.
1.1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu mua bán hàng hoá thiết bị
Đấu thầu mua bán hàng hoá là một trong các phơng thức hoạt động thơng
mại. ở phơng thức này so với các phơng thức khác có một số đặc điểm đáng lu ý
sau:
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá thờng đợc áp dụng trong những tr-
ờng hợp mua sắm hàng hoá thiết bị có khối lợng lớn, quy cách phẩm chất phức
7
tạp, có yêu cầu kỹ thuật và công nghệ cao đã đợc ngời mua xác định trớc và nêu
đầy đủ rõ ràng trong hồ sơ mời thầu đến các nhà thầu.
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá là một phơng thức giao dịch đặc
biệt, chỉ diễn ra ở một địa điểm, trong thời gian xác định. Thời gian và địa điểm
của mỗi cuộc đấu thầu thờng đợc nêu rõ trong thông báo mời thầu trên các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng.
- Đối tợng mua bán không nhất thiết phải là những hàng hoá thiết bị có
sẵn mà mua bán dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật. Từ đó ngời bán sẽ xác định đợc
hàng hoá thiết bị cần bán cho ngời mua dựa vào các tiêu chuẩn kỹ thuật này.
- Trong đấu thầu chỉ có một ngời mua nhng có nhiều ngời bán và giá hình
thành là giá thấp nhất giữa các nhà thầu tham gia đấu thầu.
- Đấu thầu mua bán thiết bị hàng hoá đã tạo đợc môi trờng cạnh tranh bình
đẳng lành mạnh giữa các nhà thầu với nhau. Giá mua sắm thiết bị thấp nhất là
giá mong muốn của chủ đầu t.
1.1.2 Vai trò của đấu thầu mua bán trong hoạt động mua bán của
doanh nghiệp.
Nh đã đề cập ở phần trên, có thể thấy đấu thầu là một phơng thức để quản
lý và thực thi hoạt động mua bán thiết bị hàng hoá. Tuy đây không phải là phơng
thức duy nhất nhng mang tính phổ biến và đợc thực hiện trên nhiều lĩnh vực.
Việc vận dụng rộng rãi phơng thức đấu thầu trong lĩnh vực mua bán thiết bị hàng
hoá không những ở nớc ta mà còn ở nhiều nớc trên thế giới là vai trò to lớn của
nó. Vai trò này đợc thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu dới đây ???? cả hai chủ
thể: Chủ đầu t và nhà thầu:
1.1.2.1 Đối với chủ đầu t.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu t sẽ lựa chọn nhà thầu có khả năng đáp ứng
đợc tốt nhát các yêu cầu tài chính giá cả, kỹ thuật, tiến độ đặt ra của hàng hoá.
Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu t vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu t, đồng
thời vẫn bảo đảm đợc chất lợng và tiến độ giao hàng. Vì trong đấu thầu có sự
cạnh tranh gay gắt giữa các nhà thầu, chỉ một mặt hàng nhng lại có nhiều nhà
thầu tham gia và nhiều khi giữa các nhà thàu sự chênh lệch về khả năng là không
đáng kể nên cạnh tranh càng gay gắt. Do đó chủ đầu t chọn nhà thầu nào có giá
thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lợng và tiến độ. Hình thức này giúp chủ đầu t
nắm đợc quyền chủ động hoàn toàn tránh tình trạng phụ thuộc vào một nhà thầu.
8
Chỉ khi đã có sự chuẩn bị đầu t kỹ lỡng về tất cả mọi mặt chủ đầu t mới mời thầu
và tiến hành đấu thầu cung cấp hàng hoá thiết bị.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu t phải đánh giá các hồ sơ dự thầu. Điều này
đòi hỏi các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu của chủ đầu t phải tự nâng cao
trình độ về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu thực tế. Kết quả là nâng cao trình độ,
năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên.
1.1.2.2 Đối với nhà thầu
- Hoạt động đấu thầu đợc tổ chức theo nguyên tắc công khai và bình đẳng
nhờ đó các nhà thầu sẽ phát huy đợc tính năng động trong tìm kiếm cơ hội tham
gia dự thầu. Họ phải tích cực tìm kiếm các thông tin mời thầu trên các phơng
tiện thông tin đại chúng, gây dựng mối quan hệ tốt với các tổ chức trong và
ngoài nớc. Tự tìm cách tăng cờng uy tín của mình để có cơ hội dự thầu và trúng
thầu tạo công ăn việc làm và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Việc tham gia đấu thầu, trúng thầu và thực hiện dự án đầu t theo hợp đồng
làm cho nhà thầu tập trung đồng vốn của mình, từ đó có quyết định đúng tăng năng
lực cung cấp máy móc thiết bị khi yêu cầu của các chủ đầu t là khác nhau.
- Tham gia đấu thầu là một quá trình phức tạp, những yêu cầu của chủ đầu
t và công việc nh lắp đặt bảo hành, chuyển giao công nghệ sẽ giúp cho các nhà
thầu hoàn thiện về tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, nâng cao trình
độ và năng lực của cán bộ công nhân viên của mình.
- Nhờ hoạt động đấu thầu còn giúp nhà thầu mở rộng thị trờng tiêu thụ
phát triển các mối quan hệ tốt với khách hàng. Đồng thời bảo đảm an toàn và
hạn chế rủi ro bán một cách có lợi nhất.
1.2 Giá dự thầu và các nhân tố tác động tới công tác lập
giá dự thầu.
1.2.1 Giá dự thầu và các yếu tố cấu thành chi phí trong giá dự thầu.
1.2.1.1 Khái niệm về giá dự thầu.
Khi tham gia dự thầu thì công việc mà nhà thầu nào cũng phải làm là cho
ra đợc một giá dự thầu. Đây là công việc hết sức quan trọng, mất nhiều công sức
nhất và nó quyết định đến khả năng thắng thầu của các nhà thầu. Nhất là đối với
đấu thầu mua sắm thiết bị hàng hoá. Bởi vì các thiết bị hàng hoá đều có một cấu
hình chung thống nhất và tiêu chuẩn kỹ thuật tơng đơng nhau do vậy mà giá dự
9
thầu đóng vai trò quyết định trong dự thầu của các nhà thầu. Vì vậy việc hiểu giá
dự thầu là gì ? Nó khác với các giá khác trong đấu thầu nh thế nào là điều mà
mỗi nhà thầu đều phải hiểu khi dự thầu. Theo Nghị định 88/Chính Phủ về việc
ban hành quy chế đấu thầu ngày 1/9/99 thì:
- Giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ đi
phần giảm giá (nếu có) gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu.
Nh vậy có thể thấy giá dự thầu là giá do các doanh nghiệp tham gia tranh thầu
lập ra dựa trên yêu cầu của hồ sơ mời thầu, các quy định chung, kinh nghiệm
thực tế và ý đồ chiến lợc tranh thầu. Giá dự thầu có nhiều mức khác nhau nó tuỳ
thuộc vào chủ quan của mỗi nhà thầu. Thờng thì các nhà thầu tự lập đơn giá trên
cơ sở điều kiện của mình và giá cả thị trờng. Vì vậy mà nhà thầu phải ghi rõ từng
chi phí theo mẫu của bên mời thầu, nếu không những chi phí này không đợc bên
mời thầu thanh toán. Nhìn chung giá dự thầu thờng thấp hơn giá xét thầu là mức
giá do chủ đầu t dự kiến trớc để xét thầu. Nếu thắng thầu thì giá dự thầu trở
thành giá ký hợp đồng và đó là giá cả mua bán qua lại giữa bên mời thầu và bên
dự thầu.
1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành chi phí trong giá dự thầu.
Trong đánh giá và xét thầu các chủ đầu t thờng quan tâm đến 4 loại tiêu
chuẩn sau: tiêu chuẩn tài chính giá cả, tiêu chuẩn kỹ thuật chất lợng, tiêu chuẩn
kinh nghiệm và tiêu chuẩn tiến độ giao hàng. Nếu cha tính đến các tiêu chuẩn
khác thì nhà thầu nào có giá bó thầu thấp nhất và điều kiện tín dụng thích hợp thì
nhà thầu đó có khả năng cạnh tranh và thắng thầu cao. Bởi vậy bất cứ nhà thầu
nào khi tham gia dự thầu đều phải hiểu rõ các yếu tố chi phí cấu thành nên giá
dự thầu để có biện pháp giảm thiểu các yếu tố này để tăng khả năng thắng thầu.
Tuy vậy, với mỗi doanh nghiệp có rất nhiều yếu tố chi phí cấu thành nên giá dự
thầu. ở đây chỉ đi sâu vào một số yếu tố chi phí chính cấu thành nên giá dự thầu.
1.2.1.2.1 Dự toán các loại chi phí trong giá dự thầu.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay diễn ra cả ở
trong và ngoài nớc. Bởi vậy nguồn gốc của các thiết bị hàng hoá đem dự thầu
cũng có nguồn gốc cả trong và ngoài nớc. Chính vì vậy cần phân ra làm hai loại:
* Với hàng hoá thiết bị nhập từ nớc ngoài.
- Giá bản thân thiết bị hàng hoá đợc chào là giá CIF hoặc CIP tại biên giới
hoặc tại nơi đến trong phạm vi nớc của nhà thầu. Trong điều kiện hiện nay phần
lớn các doanh nghiệp của Việt Nam kinh doanh xuất nhập khẩu đều chọn phơng
thức giao hàng này. Vì theo phơng thức này ngời bán có nghĩa vụ giao hàng tại
10
một địa điểm đợc xác định trong hợp đồng. Toàn bộ các chi phí liên quan đến
việc giao hàng ngời bán phải chịu. Chỉ khi hàng đã đợc trao cho ngời mua thì ng-
ời bán mới hết nghĩa vụ. Giá này đợc tính nh sau:
CIF = C + I + F
Trong đó: C: giá bán thân hàng hoá.
I: Cớc phí vận chuyển.
F: Phí bảo hiểm.
* Cớc phí vận chuyển gồm hai loại:
+ Cớc phí vận chuyển với tàu chợ do bản thân các chủ tàu, công hội hàng
hải quy định trớc trong các biểu cớc tàu chợ. Loại cớc này thờng cố định cho nên
có thể dự toán và lập kế hoạch tính toán chi phí vận chuyển và chi phí công vụ.
+ Cớc phí vận chuyển với tàu chuyến đợc quy định trên cơ sở thoả thuận
giữa chủ tàu và ngời thuê tàu trong hợp đồng. Do vậy nó thờng xuyên biến động
nên khó có thể dự đoán và lập kế hoạch tính toán chi phí vận chuyển và chi phí
công vụ.
* Phí bảo hiểm do ngời bán phải trả cho ngời mua. Phí này đợc tính theo
công thức:
F = Số tiền bảo hiểm x Phí suất bảo hiểm (r)
- Các thiết bị hàng hoá đợc chào giá là giá FOB hoặc FCA (giao cho ngời
vận tải) tuỳ theo từng trờng hợp. Phần lớn phơng thức giao hàng này chỉ đợc áp
dụng trong các hợp đồng xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì theo phơng thức này ngời
bán sẽ hết nghĩa vụ cũng nh chi phí sau khi giao hàng cho ngời mua lên phơng
tiện vận chuyển tại nớc ngời bán. Vì vậy giá này có thể coi là giá gốc của hàng
hoá thiết bị tại nớc ngời bán.
- Giá thiết bị hàng hoá chào giá là giá CFR (tiền hàng và cớc phí vận
chuyển đến cảng đích quy định của ngời mua)
Khi chào giá nhà thầu sẽ căn cứ vào từng loại thiết bị hàng hoá đem đấu
thầu đợc mua theo phơng thức giao nhận nào mà xác định giá chào thầu thích
hợp và giá này phải đợc ghi rõ ràng trong biểu giá dự thầu. Tuy nhiên nếu chủ
đầu t yêu cầu quy đổi về cùng một loại giá thì có thể thấy mối quan hệ giữa các
loại giá trên theo công thức:
CIF =
CIF =
Trong đó: r: là phí suất bảo hiểm.
11
- Cớc phí bốc dỡ hàng hoá: thông thờng có 3 cách mà ngời mua và chủ tàu
có thể thoả thuận trong hợp đồng thuê tàu.
+ FI (Free in) ngời vận chuyển đợc miễn chi phí bốc hàng và chịu trách
nhiệm về chi phí dỡ hàng.
+ FO (Free out) ngời chủ phơng tiện vận chuyển đợc miễn chi phí dỡ, phải
chịu trách nhiệm bốc hàng.
+ FIO: Ngời vận chuyển đợc miễn chi phí bốc và dỡ hàng.
- Các chi phí liên quan đến vận chuyển, bảo quản, bảo hiểm và các chi phí
khác trong nớc liên quan đến việc giao thiết bị hàng hoá từ cảng đến nơi nhận
cuối cùng nếu đợc quy định trong bảng dữ liệu đấu thầu.
- Chi phí cho các dịch vụ có liên quan nh: chi phí kiểm nghiệm thủ tục hải
quan, chi phí mở L/C, phí uỷ thác đã liệt kê trong bảng dữ liệu đấu thầu.
- Thuế nhập khẩu và thuế VAT (Nếu có)
* Đối với hàng hoá thiết bị trong nớc của nhà thầu.
- Giá thiết bị hàng hoá chào giá là giá EXW (giao tại xởng sản xuất) giá
này có thể xuất ở kho bãi, phòng trng bày hoặc tại cửa hàng của ngời bán. Nh đã
quy định trong bảng dữ liệu đấu thầu, kể cả các khoản thuế nhập khẩu, thuế
VAT đầu vào, các khoản thuế khác đã trả hoặc phải trả với các chi tiết hoặc
nguyên vật liệu dùng cho sản xuất hoặc lắp ráp thiết bị hàng hoá trớc đây đã
nhập từ nớc ngoài.
- Các chi phí liên quan đến vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, bảo hiểm liên
quan đến việc vận chuyển hàng hoá thiết bị đến nơi nhận.
- Các chi phí liên quan nh lắp đặt, hớng dẫn chuyển giao công nghệ thiết
bị hàng hoá cho ngời mua.
- Thuế VAT và thuế khác nhà thầu phải trả khi cung cấp thiết bị hàng hoá
nếu đợc trao hợp đồng.
1.2.1.2.2 Mức lãi mà nhà thầu dự kiến thu đ ợc.
Mức lãi này không phải đợc xác định theo một định mức nào cả mà phụ
thuộc vào chủ quan của nhà thầu. Thờng thì mức lãi này đợc tính theo một tỷ lệ
phần trăm nhất định so với giá dự thầu của hàng hoá thiết bị. Nhng do giá dự
thầu hàng hoá thiết bị thờng là lớn nên chỉ cần một tỷ lệ lãi nhỏ thì giá trị thu đ-
ợc cũng rất lớn.
Giá do nhà thầu chào sẽ phải cố định trong quá trình thực hiện hợp đồng
của nhà thầu và không bị ảnh hởng bởi sự biến động cho bất kỳ nguyên nhân
12
nào. Do vậy tất cả các chi phí phát sinh nhà thầu phải đa vào. Chủ đầu t sẽ không
thanh toán các chi phí nhà thầu không đa vào mà nhà thầu phải chịu. Do vậy mà
lãi dự tính của nhà thầu đa vào phải dựa trên các yếu tố nh:
- Tỷ suất lợi nhuận các mặt hàng mà nhà thầu đã thực hiện trong thời gian
qua có tính đến biến động của giá và các điều kiện khác.
- Lãi suất tiền gửi ngân hàng và chỉ số trợt giá.
1.2.2 Các nhân tố tác động tới công tác lập giá dự thầu.
1.2.2.1 Các nhân tố thuộc quan hệ cung cầu.
Công tác lập giá dự thầu suy cho cùng chính là việc đa ra một giá dự thầu
tuy nhiên việc đa ra mức giá này lại phụ thuộc vào sự biến động của tình hình
cung - cầu về hàng hoá thiết bị đa ra đấu thầu. Chính sự biến động của quan hệ
này đã ảnh hởng trực tiếp tới việc quyết định đa ra giá dự thầu của nhà thầu. Ta
có thể thấy tác động của nó tới công tác lập giá dự thầu của nhà thầu nh sau:
- Số lợng các nhà thầu tham gia tranh thầu. Đây là nhân tố có ảnh hởng rất
lớn tới công tác lập giá dự thầu nhiều khi làm thay đổi hoàn toàn mức giá dự
thầu dự kiến của nhà thầu. Nếu số lợng các nhà thầu tham gia dự thầu càng đông
thì quyết định đa ra một mức giá tranh thầu cao sẽ là rất khó khăn và khi đó cơ
hội thắng thầu sẽ rất khó vì giá dự thầu tỷ lệ nghịch với khả năng thắng thầu.
Hơn nữa càng đông nhà thầu thì tính chất cạnh tranh sẽ càng quyết liệt điều này
sẽ gây khó khăn cho các nhà thầu trong việc thu thập thông tin về đối thủ tranh
thầu làm cho việc đánh giá giá dự thầu sẽ càng khó khăn từ đó ảnh hởng tới việc
đa ra chiến lợc tranh thầu hợp lý của nhà thầu.
- Vòng đời của hàng hoá dự thầu: phụ thuộc vào ngành, công nghệ và thị
trờng gắn với từng giai đoạn của chu kỳ sống nhà thầu sẽ phải có quyết định về
giá khác nhau. Nhà thầu sẽ không thể đặt giá cao đối với những thiết bị hàng hoá
đang ở giai đoạn suy thoái. Nhiều khi với những hàng hoá này nhà thầu sẽ chọn
giải pháp lãi thấp hoặc không có lãi để tiêu thụ đợc nhằm làm giảm chi phí do sự
ứ đọng vốn giả tạo gây nên.
- Cầu có khả năng thanh toán của bên mời thầu: Rõ ràng là khi cầu về một
loại hàng hoá nào đó càng cao thì càng có thuận lợi trong việc nâng giá. Nhng
trong dự thầu thì rất khó có thể nâng giá cao đợc vì nó còn phụ thuộc vào nguồn
vốn thanh toán của bên mời thầu. Hiển nhiên nhà thầu sẽ không thể đa ra một
mức giá quá cao vợt quá mức quyết toán đợc duyệt của bên mời thầu, vì vậy vấn
13
đề đặt ra là nhà thầu phải đa ra một mức giá hợp lý vừa đảm bảo khả năng thắng
thầu vừa hợp lý đối với bên mời thầu.
2.2.2 Các nhân tố thuộc về yếu tố chi phí.
Bên cạnh các nhân tố cung - cầu tác động đến giá dự thầu của nhà thầu thì
bản thân nhân tố liên quan đến các yếu tố cấu thành nên chi phí dự thầu cũng có
ảnh hởng rất lớn tới giá dự thầu vì sự thay đổi của giá dự thầu liên quan đến sự
thay đổi của các yếu tố chi phí cấu thành nên giá dự thầu. Ta có thể thấy ảnh h-
ởng của chúng nh sau:
- Lãi suất tín dụng: Trong nền kinh tế thị trờng bất kỳ doanh nghiệp nào
không phải lúc nào cũng có điều kiện tài chính thuận lợi. Lúc này sẽ phát sinh
quan hệ tín dụng khi đó sẽ hình thành lãi suất tín dụng. Nh vậy lãi suất tín dụng
là tỷ lệ % tính theo một thời hạn xác định (ngày, tháng, quý, năm) dùng làm căn
cứ để tính toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả hoặc nhận đ-
ợc (đối với chủ thể cho vay) để điều hoà lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan
hệ tín dụng. Vì vậy đối với nhà thầu khi phát sinh quan hệ họ phải trả lãi suất
cho những khoản mà họ vay. Chính vì vậy nếu những khoản vay này dùng để
mua hàng hoá thiết bị dự thầu hoặc có liên quan đến dự thầu thì lãi suất cao hay
thấp sẽ tác động đến giá dự thầu tăng hay giảm.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ giữa giá trị đồng tiền nớc
này với giá trị đồng tiền nớc khác. Về thực chất nó biểu thị sức mua tổng hợp
của hai loại đồng tiền qua tất cả các loại hàng hoá dịch vụ. Trong thơng mại thì
tỷ giá hối đoái là cần thiết để xác định giá cả của hàng hoá xuất nhập khẩu. Sự
dao động của tỷ giá hối đoái có ảnh hởng đến hầu hết các hoạt động kinh tế đối
ngoại. Khi tỷ giá giảm tức giá trị đồng nội tệ giảm làm cho giá hàng hoá nhập
khẩu tăng. Ngợc lại tỷ giá tăng giá trị đồng nội tệ tăng thì giá hàng hoá nhập
khẩu giảm. Đấu thầu mua sắm thiết bị càng không nằm ngoài sự ảnh hởng của
sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nó tác động đến giá cả của hàng hoá xuất nhập
khẩu chính là ảnh hởng đến giá bỏ thầu. Vì vậy trong công tác lập giá dự thầu
đòi hỏi các nhà thầu phải chú ý đến vấn đề này.
- Lạm phát: Bất kỳ một dự án đầu t nào cũng cần phải có thời gian nhất
định để thực hiện. Lạm phát làm giảm giá trị đồng tiền theo thời gian. Chính vì
vậy nó tác động không nhỏ tới giá bó thầu.
- Thuế: Trong quá trình thực hiện công tác lập giá dự thầu nhà thầu phải
tính cả chi phí là thuế vào giá dự thầu. Bởi vậy thuế cao hay thấp đều có tác động
làm tăng hay giảm giá dự thầu cũng nh lãi mà nhà thầu nhận đợc.
14

Tài liệu Báo cáo khoa học: Evolutionary relationships of the prolyl oligopeptidase family enzymes docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Báo cáo khoa học: Evolutionary relationships of the prolyl oligopeptidase family enzymes docx": http://123doc.vn/document/1054490-tai-lieu-bao-cao-khoa-hoc-evolutionary-relationships-of-the-prolyl-oligopeptidase-family-enzymes-docx.htm


Evolutionary relationships of the prolyl oligopeptidase family enzymes
Jarkko I. Vena¨la¨ inen, Risto O. Juvonen and Pekka T. Ma¨ nnisto¨
Department of Pharmacology and Toxicology, University of Kuopio, Finland
The prolyl oligopeptidase (POP) family of serine proteases
includes prolyl oligopeptidase, dipeptidyl peptidase IV,
acylaminoacyl peptidase and oligopeptidase B. The enzymes
of this family specifically hydrolyze oligopeptides with less
than 30 amino acids. Many of the POP family enzymes have
evoked pharmaceutical interest as they have roles in the
regulation of peptide hormones and are involved in a variety
of diseases such as dementia, trypanosomiasis and type 2
diabetes. In this study we have clarified the evolutionary
relationships of these four POP family enzymes and ana-
lyzed POP sequences from different sources. The phylo-
genetic trees indicate that the four enzymes were present in
the last common ancestor of all life forms and that the
b-propeller domain has been part of the family for billions
of years. There are striking differences in the mutation rates
between the enzymes and POP was found to be the most
conserved enzyme of this family. However, the localization
of this enzyme has changed throughout evolution, as three
archaeal POPs seem to be membrane bound and one third of
the bacterial as well as two eukaryotic POPs were found to be
secreted out of the cell. There are also considerable distinc-
tions between the mutation rates of the different substrate
binding subsites of POP. This information may help in the
development of species-specific POP inhibitors.
Keywords: acylaminoacyl peptidase; dipeptidyl peptidase IV;
evolution; oligopeptidase B; prolyl oligopeptidase.
The prolyl oligopeptidase family of serine proteases (clan
SC, family S9) includes a number of peptidases, from which
prolyl oligopeptidase (POP, EC 3.4.21.26), dipeptidyl pept-
idase IV (DPP IV, EC 3.4.14.5), oligopeptidase B (OB,
EC 3.4.21.83) and acylaminoacyl peptidase (ACPH,
EC 3.4.19.1) have been the enzymes under the most intense
study [1–3]. This enzyme family is different from the
classical serine protease families, trypsin and subtilisin, in
that they cleave only peptide substrates while excluding
large proteins. The mechanism of preventing the digestion
of bigger proteins was recently clarified when the 3D
structure of POP was solved [4]. The enzyme consists of a
peptidase and seven-bladed b-propeller domains. The
narrow entrance of b-propellerpreventslargerproteins
from entering into the enzyme active site. A similar b-
propeller consisting of eight instead of seven blades was
recently identified in DPP IV when its crystal structure was
solved [5].
The enzymes of the POP family have different substrate
specificities: POP hydrolyzes peptides at the carboxyl side of
the proline residue, DPP IV liberates dipeptides where the
penultimate amino acid is proline, OB cleaves peptides at
lysine and arginine residues and ACPH removes N-acetyl-
ated amino acids from blocked peptides. DPP IV is a
membrane bound enzyme, and in this way different from
the rest of the POP family members that are cytoplasmic
proteins [3]. However, a membrane bound form of POP has
also been characterized from bovine brain but the sequence
of this protein is not available at the present time [6].
Many of the POP family enzymes have become targets of
the pharmaceutical industry, e.g. POP degrades many
neuropeptides involved in learning and memory, such as
substance P, thyrotropin releasing hormone and arginine-
vasopressin. Indeed, POP inhibitors have been shown to
reverse scopolamine-induced amnesia in rats and to
improve cognition in old rats and 1-methyl-4-phenyl-
1,2,3,6-tetrahydropyridine (MPTP)-treated Parkinsonism
model monkeys [7–9]. A number of the antitrypanosomal
drugs in widespread use are OB inhibitors [10]. In addition,
inhibition of DPP IV has been proposed as a therapeutic
approach to the treatment of type 2 diabetes as this enzyme
is involved in the metabolic inactivation of a glucagon-like
peptide 1 that stimulates insulin secretion [11]. Recently,
DPP IV knockout mice were found to be protected against
obesity and insulin resistance [12].
In this study, based on public databanks and a number of
computer programs, we have clarified the evolutionary
relationships of these four POP family enzymes by gener-
ating phylogenetic trees including POP family enzymes from
different species. First, important amino acids for the
enzyme function were sought by analyzing multiple align-
ments of 72 aligned POP family sequences. Secondly, we
analyzed POP sequences from different species because POP
Correspondence to J. I. Vena
¨
la
¨
inen, Department of Pharmacology and
Toxicology, University of Kuopio, P.O. Box 1627, FIN-70211
Kuopio, Finland. Fax: + 358 17 162424, Tel.: + 358 17 163774,
E-mail: Jarkko.Venalainen@uku.fi
Abbreviations: ACPH, acylaminoacyl peptidase; DPPII, dipeptidyl
peptidase II; DPP IV, dipeptidyl peptidase IV; OB, oligopeptiadase B;
POP, prolyl oligopeptidase; GPI, glycosylphosphatidylinositol;
LUCA, last universal common ancestor.
Enzymes: prolyl oligopeptidase (EC 3.4.21.26); dipeptidyl peptidase IV
(EC 3.4.14.5); oligopeptidase B (EC 3.4.21.83); acylaminoacyl
peptidase (EC 3.4.19.1).
Note: The departmental website is available at http://www.uku.fi/
farmasia/fato/indexe.htm
(Received 28 March 2004, revised 28 April 2004, accepted 4 May 2004)
Eur. J. Biochem. 271, 2705–2715 (2004) Ó FEBS 2004 doi:10.1111/j.1432-1033.2004.04199.x
can be considered as a model enzyme of this family, as its
crystal structure is available and many details about its
catalytic mechanism are known. In this analysis we created
a conservation profile of POP to study the mutation rates of
amino acids involved in substrate binding and to find other
essential amino acids. Finally, we pinpointed signal
sequences, and transmembrane and lipid anchor sequences
from POP enzymes of different sources to study if the
localization of the enzyme has changed during evolution.
Materials and methods
Multiple sequence alignment and construction
of phylogenetic trees of the POP family
The POP family enzymes from different sources were
identified by
BLASTP
searchesfromtheNCBInrdatabase
against human POP (NP_002717), human DPP IV
(CDHU26), human ACPH (P13798), Escherichia coli OB
(E64946) and rat DPP II (JC7668) sequences. To be
identified as a POP family member, the sequence had to
have the catalytic triad topology of Ser-Asp-His which is
different from the classical serine proteases [13]. The
iterative
PSI
-
BLAST
feature was not applied in these searches.
The aim of the searches was to obtain a large enough
number of sequences for the analysis, not to find all the
existing POP family sequences. As a result, 28 POP, 10
ACPH, 14 DPP IV, 20 OB and seven DPP II sequences
from different species were manually selected for the
analysis. The selected sequences and their accession codes
are presented in Table 1.
A multiple sequence alignment of the 79 selected
sequences was constructed by a combination of
T
-
COFFEE
and
CLUSTALX
programs [14,15]. A structure based sequence
alignment of pig POP (1QFS) and human DPP IV (IJ2E)
was created using the
T
-
COFFEE
program and other proteins
were subsequently added to this alignment using the
CLUSTALX
program until the multiple sequence alignment
of 79 sequences was obtained. The alignment was manually
edited based on the initial 3D alignment. The neighbor-
joining tree was constructed for the peptidase domains of
the enzymes (corresponding to the pig POP residues 1–72
and 428–710) and for the complete sequences using
CLUSTALX
. Bootstrap values were calculated with 1000
resamplings. DPP II sequences were used as the outgroup in
this analysis, as this enzyme is a close neighbor to the POP
family and a member of the serine protease family S28. The
NJPLOT
program was used to display the constructed
phylogenetic tree. The phylogenetic trees were also con-
structed using the maximum likelihood method with the
program
TREE
-
PUZZLE
[16]. The
TREEVIEW
program (http://
taxonomy.zoology.gla.ac.uk/rod/treeview.html) was used
to view the maximum likelihood tree.
Conservation profile of POP sequences
To study the conservation profile of POP, 28 POP sequences
alone were aligned using
T
-
COFFEE
. Multiple sequence
alignments were visualized and analyzed using
GENEDOC
program (http://www.psc.edu/biomed/genedoc/) alongside
the pig POP sequence. The conservation rates of each of the
710 amino acids were divided into four groups: 1st, £ 49%;
2nd, between 50 and 74%; 3rd, between 75 and 99% and
4th, 100% similarity at an alignment position. The similar-
ities of amino acids were based on BLOSUM62 substitution
matrix.
Prediction of transmembrane regions, lipid anchors
and signal peptides in POP sequences
All of the 28 POP sequences from different sources were
analyzed with
TMHMM
program [17] to decide whether the
enzymes contain transmembrane sequences. Lipid anchor
sites were searched with program
BIG PI
[18]. The presence of
signal sequences in the POP enzymes and their possible
cleavage sites were predicted with the
SIGNALP
V2.0 program
using hidden Markov model method [19].
Results and Discussion
Multiple sequence alignment of the POP family enzymes
As can be seen from Table 1, POP and ACPH are
distributed in archaeal, bacterial and eukaryotic species
whereas DPP IV and OB were not found from archaeal
sources. Although POP and ACPH are present in all three
forms of organisms (Bacteria, Archaea, Eucaryota), there
are several organism groups in which these enzymes were
not found. For example, POP was not found in Fungi.
Table 2 lists some identity and similarity percentages within
POP family enzymes when the whole sequences or just the
catalytic domains of the enzymes are taken into account. In
general, the sequence identity percentages between the four
enzymes are low, below 20%. The peptidase domain is
slightly more conserved, as shown by the higher identity/
similarity percentages. However, despite the low sequence
homology and distinct substrate specificities, the multiple
sequence alignment revealed 10 invariant residues between
the 72 aligned enzymes of the POP family: Arg505, Gly506,
Gly511, Asp529, Gly552, Ser554, Gly556, Gly557, Asp641
and His680 (numbering according to the pig POP sequence,
the residues are shown with downward arrows in Fig. 1).
All of these amino acids are located at the active site of the
enzyme. This was expected, as it has been reported
previously that the greatest similarities between the amino
acid sequences of POP family members are located in the
C-terminal third of the alignment [20]. Of these conserved
residues, Ser554, Asp641 and His680 form the catalytic triad
of POP and the small residues Gly552, Gly556 and Gly557
are clustered around the catalytic serine. The three glycine
residues have been proposed to improve the binding of
substrate by preventing steric hindrance [4]. Arg505 and
Gly506 are situated in a loop between the b4-strand and the
aB¢-helix at the active site, and Gly511 is the first residue of
that a-helix. The high degree of conservation of these
residues suggests that this turn between the secondary
structure elements is crucial for the POP family enzyme
function or for its structural stability.
Figure 2 represents some amino acid similarity percent-
ages of whole sequences and catalytic domains between
human and some eukaryotic, bacterial and archaeal
sequences of POP, DPP IV and ACPH. The similarities
between human and rat sequences are very high for POP (98/
98%; whole sequences and catalytic domains, respectively)
2706 J. I. Vena
¨
la
¨
inen et al.(Eur. J. Biochem. 271) Ó FEBS 2004
Table 1. Prolyl oligopeptidase family and DPP II enzymes from different species used in this analysis.
Enzyme Species Domain of life Accession number
POP Human Eukarya NP_002717
Pig Eukarya P23687
Bovine Eukarya Q9XTA2
Mouse Eukarya NP_035286.1
Rat Eukarya NP_112614.1
Fugu rubribes Eukarya SINFRUP00000059740
Xenopus laevis Eukarya AAH47161
Arabidopsis thaliana Eukarya AAL86330.1
Dictyostelium discoideum Eukarya CAB40787.1
Drosophila melanogaster Eukarya AAF52942.1
Anophiles gambiae Eukarya EAA14977.1
Oryza sativa Eukarya BAB78619.1
Deinococcus radiodurans Bacteria NP_296223.1
Shewanella oneidensis Bacteria NP_718337.1
Trichodesmium erythraeum Bacteria ZP_00072911.1
Nostoc sp. Bacteria NP_486573.1
Nostoc punctiforme Bacteria ZP_00110050.1
Flavobacterium meningosepticum Bacteria P27028
Aeromonas punctata Bacteria AAD34991.1
Aeromonas hydrophila Bacteria Q06903
Novosphingobium capsulatum Bacteria BAA34052.1
Novosphingobium aromaticivorans Bacteria ZP_00093416.1
Myxococcus xanthus Bacteria AF127082–3
Thermobifida fusca Bacteria ZP_00058751.1
Pyrococcus abyssi Archaea NP_126828.1
Pyrococcus furiosus Archaea NP_578544.1
Pyrococcus horikoshii Archaea NP_143154.1
Sulfolobus tokodaii Archaea NP_375840
DPP IV Human Eukarya CDHU26
Bovine Eukarya P81425
Cat Eukarya Q9N2I7
Rat Eukarya A39914
Mouse Eukarya NP_034204.1
Xenopus laevis Eukarya CAA70136.1
Fugu rubribes Eukarya SINFRUP00000066299
Anopheles gambiae Eukarya EAA05700.1
Drosophila melanogaster Eukarya NP_608961.1
Aspergillus niger Eukarya CAC1019.1
Scizosaccharomyces pombe Eukarya NP_593970.1
Aspergillus fumigatus Eukarya AAC34310.1
Porphyromonas gingivalis Bacteria BAA28265.1
Flavobacterium meningosepticum Bacteria S66261
ACPH Human Eukarya P13798
Rat Eukarya NP_036632.1
Pig Eukarya JU0132
Caenorhabditis elegans Eukarya NP_500647.1
Fugu rubribes Eukarya SINFRUP00000057906
Basillus subtilis Bacteria NP_391103.1
Oceanobasillus iheyensis Bacteria NP_692002.1
Pyrococcus abyssi Archaea NP_127272.1
Pyrococcus horikoshii Archaea NP_142793.1
Deinococcus radiodurans Bacteria NP_293889.1
OB Trypanosoma brucei Eukarya AAC80459.1
Leishmania major Eukarya AAD24761.1
Escherichia coli Bacteria E64946
Shigella flexneri Bacteria NP_707707.1
Salmonella typhimurium Bacteria NP_460836.1
Yersinia pestis Bacteria NP_669832.1
Ó FEBS 2004 Evolutionary relationships of the POP family enzymes (Eur. J. Biochem. 271) 2707
and ACPH (95/96%), whereas the similarity between human
and rat DPP IV is much lower for both whole sequences and
catalytic domains (87/87%). The differences in conservation
percentages are even more striking between human/Fugu
rubribes enzymes and the same kind of conservation order
can also be found between human/Flavobacterium meningo-
septicum (55/62% of POP compared to 38/48% of DPP IV)
and human/Pyrococcus abyssi (42/50% of POP compared to
27/36% of ACPH). OB was excluded from this comparison
because it is not found in animals. However, the similarity
percentage between OB from Shewanella oneidensis and
Nostoc sp. can be compared to that of POP. Again, POP has
the higher conservation percentage: 66/73% compared to 59/
69% of OB. This analysis indicates that POP is the most
conserved peptidase of these four POP family enzymes, with
the highest similarities found between each pair of sequences
studied. The differences in conservation degrees between the
enzymes are similar when the identity percentages are
considered.
The phylogenetic tree of the POP family
The multiple alignment peptidase domains of 72 POP
family sequences and seven DPP II sequences were used to
construct phylogenetic trees with distance-based (neighbor-
joining) and character-based (maximum likelihood) meth-
ods. In many cases, these two methods have been shown to
be almost equally efficient in obtaining the correct topology
[21,22]. The DPP II family was used as an outgroup for
phylogenetic constructions. The two tree-building methods
gave essentially the same tree topologies and the neigh-
bour-joining tree with bootstrap values and the maximum
likelihood tree with support values are shown in Figs 3 and
4. The phylogenetic trees clearly show that each of the four
POP family enzymes (POP, DPP IV, OB and ACPH) form
a single cluster containing all of the species included in this
analysis. Both trees show that OB is the closest relative to
POP, not ACPH as was recently stated [23] and that
DPP IV is the closest relative to ACPH. In the cases of
POP and ACPH the enzyme clusters have members from
each of the three domains of the organisms. In this
analysis, DPP IV and OB sequences were not found from
archaeal species. These four enzyme clusters are supported
by high bootstrap values in the neighbor-joining tree and
support values in the maximum likelihood tree. The clusters
are further divided in subclusters, for example, the POP
cluster forms subclusters of archaea (Pyrococcus horikoshii,
P. abyssi, Pyrococcus furiosus and Sulfolobus tokodaii)and
Table 1. Continued
Enzyme Species Domain of life Accession number
Shewanella oneidensis Bacteria NP_715786.1
Xanthomonas axonopodis Bacteria NP_640984
Nostoc sp. Bacteria NP_487951.1
Treponema denticola Bacteria AAK39550.1
Sinorhizobium meliloti Bacteria NP_385091.1
Acrobacterium tumefaciens Bacteria NP_353917.1
Brucella melitensis Bacteria NP_540282.1
Brucella suis Bacteria NP_697584.1
Mycobacterium leprae Bacteria NP_302455.1
Corynebacterium glutamicum Bacteria NP_601794.1
Rickettsia conorii Bacteria NP_360014.1
Rickettsia prowazekii Bacteria NP_220665.1
Bifidobacterium longum Bacteria NP_696390.1
Moraxella lacunata Bacteria Q59536
DPP II Rat Eukarya JC7668
Human Eukarya Q9UHL4
Mouse Eukarya Q9ET22
Arabidopsis thaliana Eukarya NP_201377.2
Anopheles gambiae Eukarya EAA04920.1
Drosophila melanogaster Eukarya AAF53897.1
Caenorhabditis elegans Eukarya NP_498718.1
Table 2. Amino acid identity/similarity percentages between POP family enzymes. The identity/similarity percentages of the peptidase domains are
shown in brackets.
POP Human ACPH Human DPP IV Human OB E. coli
POP Human – 9/24 (10/28) 15/30 (17/30) 22/41 (27/46)
ACPH Human – 10/22 (13/30) 10/24 (14/27)
DPP IV Human – 11/23 (12/25)
OB E. coli –
2708 J. I. Vena
¨
la
¨
inen et al.(Eur. J. Biochem. 271) Ó FEBS 2004
eukaryotes. It is interesting to note that according to the
POP cluster of the phylogenetic trees, Drosophila melano-
gaster and Anopheles gambiae differ more from mammals
than do the plants Oryza sativa and Arabidopsis thaliana.
The most probable reason for this apparent discrepancy is
that these two insects diverged considerably faster than
vertebrates. At the gene sequence level, these two species
that diverged 250 million years ago, differ more than even
humans and pufferfish F. rubribes – species that diverged
450 million years ago [24]. This discovery is valid also with
the POP enzyme having sequence identity of 58% between
A. gambiae and D. melanogaster and 74% between human
and F. rubribes. A similar order of sequence identities can
also be seen with DPP IV. The phylogenetic trees were also
created using the complete sequences of the enzymes (data
not shown). These analyses resulted in the same tree
topologies as seen in Figs 3 and 4, except that the branch
lengths are slightly longer due to the lower conservation of
the b-propeller domains. This shows that the b-propeller
domain has been part of this enzyme family for billions of
years.
The phylogenetic trees show that the four POP family
enzymes were clearly set up before the archaea, prokaryota
and eucaryota diverged along their own evolutionary lines
between 2000 and 4000 million years ago. This suggests that
all POP family proteins are of ancient origin and they were
Fig. 1. Conservation profile of 28 POP sequences from different species. The conservation percentage of each amino acid along the pig POP sequence
is indicated as 0, £ 49%; 1, between 50 and 74%; 2, between 75 and 99% and 3, 100%. The secondary structure elements of pig POP are indicated by
arrows for b-sheets and by boxes for a-helices. The invariant amino acids in each of the 72 analysed POP family sequences are shown by downward
arrows and the amino acids of the catalytic triad (Ser554, Asp641 and His680) are indicated by asterisks.
Ó FEBS 2004 Evolutionary relationships of the POP family enzymes (Eur. J. Biochem. 271) 2709
present in the last universal common ancestor (LUCA) of
all life forms. Thus, the present enzyme forms are vertically
inherited from this ancestor.
The high conservation of POP family enzyme sequences
from different species and their presence in the LUCA
strongly suggest that these enzymes have important roles in
physiological processes. However, the exact roles of these
enzymes are more or less unclear at the moment. Evidently
there was a need for peptidases that cleave only small
peptides specifically after proline, lysine or arginine even
during the early days of life.
Conservation profile of POP sequences from
different species
The conservation profile of 28 aligned POP sequences is
presented in Fig. 1. It is clear that the catalytic domain
(residues 1–72 and 428–710) is a much more conserved
region than the b-propeller domain (residues 73–427). In the
b-propeller domain, only seven amino acids (2.0%) have
100% similarity compared to 65 amino acids (17.8%) in the
catalytic domain. Six of the conserved amino acids in the
b-propeller are situated in b-sheets and one (Gly369) is
located between the b-sheet structures, so that the b-sheets
seem to be more conserved than the areas between them.
The low homology in the b-propeller domain is not
unexpected, as it has been proposed that the b-propeller
of P. furiosus POP does not perform the same function as
the mammalian enzyme, i.e. the exclusion of large peptides
from the active site [25]. Clearly the role of the b-propeller
has diversified during evolution.
Table 3 lists the conservation percentages of the pig POP
active site amino acids that are involved in the substrate
binding [4]. The specificity pocket S1 has 100% similary and
almost 100% identity among the 28 studied POP sequences.
Only Val580 and Tyr599 have some variations among
different species. In addition to the amino acids of the
catalytic triad and the residues that make hydrogen bonds
with substrate, Trp595 is also invariant. This residue is
claimed to enhance substrate recognition specificity by ring
stacking between the indole ring of Trp595 and the proline
ring of the substrate, so that all of the studied POP enzymes
can be claimed to be specific for proline [4]. It is surprising
that residues Phe476, Val644, Val580 and Tyr599 also have
100% similarities and 89.3–100% identities, as their role in
substrate binding is just to provide a hydrophobic environ-
ment and appropriate lining for the proline residue [4]. Due
to this conservation, it can be predicted that the changes of
these residues would dramatically decrease the specificity
for, or binding of, the proline residue.
The specificity pocket S3 is substantially more variable
than the S1 pocket. In pig POP, the S3 pocket ensures that
there is a fairly apolar environment. However, this is not
common for all POP sequences, because in many species the
POP enzyme contains polar and even charged residues (i.e.
Asn, Gly, Ser, Asp) at this site. Hence, it seems that only the
substrate binding S1 site has remained virtually unchanged
throughout the evolution, allowing enhanced flexibility to
substrate S2 and S3 residues. There have been attempts to
develop species specific POP inhibitors, for example against
Trypanosoma cruzi [26]. According to our analysis of subsite
evolution, the specificity might be achieved by varying the
structures of P2 and P3, but not the P1 subsite of the
inhibitor.
The most interesting amino acid at the S3 subsite is
Cys255, because it is responsible for pig POP inhibition
by bulky thiol reagents. F. meningosepticum, which has a
Thr instead of Cys255, is not inhibited by thiol reagents.
In addition to accounting for the inhibition by thiol
reagents, Cys255 also improves the catalytic efficacy at
pH values above neutrality by increasing the substrate
affinity [27]. Therefore it is interesting to note that, of
the 28 studied POP sequences, only eukaryotes have
cysteine at this site. Most bacterial POP sequences have
threonine in place of Cys255 but Myxococcus xanthus has
tryptophan instead of Cys255. All of the studied archaeal
POP enzymes have tryptophan at the same location. This
variability of amino acids between the three domains of
life is important, because it clearly modifies enzyme
properties, i.e. substrate affinity and perhaps also the
regulation by oxidation state.
Transmembrane regions and signal peptides
in POP sequences
Twenty eight POP sequences were analyzed with
TMHMM
program to detect transmembraneous regions in the
enzyme, because POP has also been characterized in a
membrane bound form from bovine brain [6]. Unfortu-
nately, the sequence of this apparently membrane bound
POP has not been published. Therefore, it is impossible to
conclude whether the enzyme is another form of cytosolic
POP or some other enzyme possessing similar properties to
POP. The program used in this analysis was recently
evaluated to have the best overall performance of the
currently available and most widely used transmembrane
prediction tools [28]. According to our analysis conducted
using the
TMHMM
program, none of the sequences were
predicted to contain transmembrane regions. However,
Novosphingobium capsulatum POP had a weak possibility
(0.45) of a transmebrane region. To decide whether this
protein is membrane bound or not, we analyzed this
sequence with another transmembrane prediction program,
SOSUI
[29]. This program also predicted the sequence to be of
Fig. 2. Amino acid similarity percentages between human–rat, human–
F. rubribes, human–F. meningosepticum and human–P. abyssi se-
quences of POP, ACPH and DPP IV. The whole bar and the lower
part of the bar represent the similarity percentages of the catalytic
domains and the complete sequences, respectively.
2710 J. I. Vena
¨
la
¨
inen et al.(Eur. J. Biochem. 271) Ó FEBS 2004
Fig. 3. The neighbor-joining tree of POP family enzymes. Protein sequences were aligned with
T
-
COFFEE
and
CLUSTALX
programs and the tree with
bootstrap values was then constructed with
CLUSTALX
program. DPP II sequences were used as outgroups and numbers represent the percentages
of 1000 bootsraps. The tree was then visualized with
NJPLOT
program.
Ó FEBS 2004 Evolutionary relationships of the POP family enzymes (Eur. J. Biochem. 271) 2711
Fig. 4. The maximum likelihood tree of POP family enzymes. Protein sequences were aligned with
T
-
COFFEE
and
CLUSTALX
programs and the
maximum likelihood tree with support values was calculated using
TREE
-
PUZZLE
version 5.0. DPP II sequences were used as outgroups and the tree
was visualized with
TREEVIEW
program.
2712 J. I. Vena
¨
la
¨
inen et al.(Eur. J. Biochem. 271) Ó FEBS 2004
a soluble protein so we believe that this enzyme is not
membrane bound.
Proteins can also be membrane bound even if they do not
possess a transmembrane sequence, if they contain a lipid
anchor. In that case the protein is post-translationally
modified with a glycosylphosphatidylinositol (GPI) moiety
and anchored on the extracellular side of the plasma
membrane [18]. The entry to the GPI-modification route is
directed by a C-terminal sequence signal, consisting of
about 20 amino acids. These signal sequences were searched
with the
BIG PI
program. None of the eukaryotic and
bacterial sequences possessed lipid anchor sequences, but
archaeal POP enzymes P. horikoshi, P. abyssi and P. furio-
sus seemed to contain the signal sequence with false positive
probabilities of 0.0147, 0.0172 and 0.0173, respectively. The
predicted attachment sites of the GPI moiety were Ala594,
Ala596 and Ala595 which all correspond to the Gly683 of
pig POP. The search was carried out using the metazoa
prediction function of the program and it is unclear whether
the result is valid for archaeal sequences. However, GPI-
linked proteins closely related to eukaryotes have also been
found from archaeal sources [30], suggesting that the
prediction may be correct. Naturally, this result will need
to be verified experimentally, but to our knowledge, this is
the first hint of a possible mechanism by which POP could
be attached to the cell membrane.
Sequence analysis with the
SIGNALP
program resulted in
the identification of four bacterial POP sequences that
contain signal peptide sequences, i.e. the enzymes are
secreted through the cell membrane. The POP forms are
secreted from Gram negative bacterias F. meningosepti-
cum, N. capsulatum, Novosphingibium aromaticivorans and
Shewanella oneidensis. The calculated signal peptide
probabilities of these enzymes varied from 0.971 to
1.000. The
SIGNALP
output of N. capsulatum POP is
presented in Fig. 5A. The output contains n-, h- and
c-region probabilities and the most likely cleavage site,
which is between residues 22 (alanine) and 23 (glutamine).
The cleavage sites of F. meningosepticum, N. aromaticivo-
rans and S. oneidensis signal peptides were predicted to be
between residues 20–21 (alanine-glutamine), 30–31 (serine-
glutamic acid) and 33–34 (alanine-alanine), respectively.
The signal sequences and their potential cleavage sites are
presented in Fig. 5B.
SIGNALP
predicted correctly the F. meninosepticum POP
signal peptide, as this enzyme has been shown experiment-
ally to be periplasmic, the cleavage site of the signal peptide
being between residues 20 (alanine) and 21 (glutamine) [31].
This correct prediction increases the reliability of
SIGNALP
results. The biological relevance of the periplasmic POP
activity is not clear. However, secretion of POP in bacterial
sources seems to be quite common, as four of the studied 12
bacterial sequences (33%) contained the signal sequence.
In addition to bacteria, secretion signal sequences were
also found from eukaryotes A. gambiae and Xenopus laevis
with probabilities of 0.905 and 0.808, respectively. The
cleavage sites were predicted to be between residues 24–25
(glycine-lysine) and 34–35 (alanine-serine). To our know-
ledge, these are the first eukaryotic POP enzymes that are
thought to be secreted out of the cell. It is interesting to note
the difference of POP localization between the fruit fly
D. melanogaster and the malaria transmitting mosquito
A. gambiae. Despite the different localization and rather
low sequence identity (58%), the POP proteins of A. gamb-
iae and D. melanogaster are likely to have similar catalytic
Table 3. Conservation percentages of the pig POP amino acids involved
in substrate binding.
Location Amino acid Role
Identity/
similarity (%)
S1-Pocket Ser554 Catalysis 100/100
Asp641 Catalysis 100/100
His680 Catalysis 100/100
Trp595 Ring stacking 100/100
Asn555 H-bond with S 100/100
Tyr473 H-bond with S 100/100
Phe476 Lining 100/100
Val644 Lining 100/100
Val580 Lining 92.9/100
Tyr599 Lining 89.3/100
S2-Pocket Arg643 H-bond with S 100/100
S3-Pocket Trp595 H-bond with S 100/100
Phe173 Lining 75.0/82.1
Met235 Lining 28.6/32.1
Cys255 Lining 42.9/42.9
Ile591 Lining 71.4/78.6
Ala594 Lining 57.1/57.1
Fig. 5. The secreted POP sequences. (A) The
SIGNALP
output of
Novosphingobium capsulatum POP. Predicted n-, h- and c-regions are
shown and the predicted cleavage site between residues 22 and 23 is
shown with a downward arrow. (B) The amino acid sequences of
secreted POP forms, the predicted cleavage sites are shown with
underlined letters.
Ó FEBS 2004 Evolutionary relationships of the POP family enzymes (Eur. J. Biochem. 271) 2713
properties because their amino acids involved in substrate
binding (Table 3) are identical. A. gambiae has only one
POP gene but D. melanogaster has an extra POP-like gene
(NP_610129) in addition to the POP sequence used in this
study (AAF52942). These proteins have sequence identity
and similarity percentages of 60% and 73% and their
substrate binding residues are identical with one important
exception: the C-terminal part starting from Val660 has
been deleted from NP_610129 and hence the third member
of the catalytic triad (His680) is missing. It is probable that
this protein is inactive or has a different function than POP
and that the extra POP-like gene is a product of gene
duplication in D. melanogaster.
A. gambiae and D. melanogaster belong to the same
taxonomic order, but have different lifestyles. Due to blood
feeding, A. gambiae is exposed to parasites such as
Plasmodium falciparum, the human malaria parasite.
A. gambiae efficiently combats the P. falciparum infection
and therefore an understanding of the immune system of
A. gambiae could be a very useful way to obtain clues to
controlling malaria. This has been done by comparing the
differences between immune-related genes of A. gambiae
and D. melanogaster [32]. Interestingly, POP has been
claimed to play a role in immunopathological processes
associated with lupus erythematosus and rheumatoid arth-
ritis [33]. Furthermore, several serine proteases have been
shown to regulate invertebrate defense responses such as
antimicrobial peptide synthesis [34]. Therefore, it is possible
that the secreted POP might play a role in the immune
responses of A. gambiae.
In summary, POP family enzymes were found to be of
ancient origin, as they were already present in the last
universal common ancestor of life. With respect to the
studied enzymes of the POP family, POP seems to be the
most conserved enzyme. Ten conserved amino acids were
found at the active site of the enzyme of each of the studied
POP family enzymes, indicating that those residues are
probably critical to the enzyme function. In POP, the S1
specificity pocket was found to be highly conserved,
compared to the more variable S3 specificity pocket. This
finding may help to develop species-specific POP-inhibitors.
Signal sequences were found in one third of bacterial POP
sequences and also in two eukaryotic species. Lipid anchor
sequences were found from three archaeal sources, indica-
ting that the POP enzyme in these species is membrane
bound.
Acknowledgements
This work was supported by National Technology Agency of Finland
and Ministry of Education of Finland (to J. I. V.). We wish to thank
Prof. Dan Larhammar, University of Uppsala, for his advice and
extremely helpful comments on the manuscript and Dr Ewen
MacDonald for linguistic advice.
References
1. Kanatani, A., Masuda, T., Shimoda, T., Misoka, F., Lin, X.S.,
Yoshimoto, T. & Tsuru, D. (1991) Protease II from Escherichia
coli: sequencing and expression of the enzyme gene and char-
acterization of the expressed enzyme. J. Biochem. (Tokyo) 110,
315–320.
2. Rawlings, N.D., Polga
´
r, L. & Barrett, A.J. (1991) A new family of
serine-type peptidases related to prolyl oligopeptidase. Biochem. J.
279, 907–908.
3. Polga
´
r, L. (2002) The prolyl oligopeptidase family. Cell. Mol. Life
Sci. 59, 349–362.
4. Fu
¨
lo
¨
p, V., Bo
¨
cskei, Z. & Polga
´
r, L. (1998) Prolyl oligopeptidase:
an unusual beta-propeller domain regulates proteolysis. Cell 94,
161–170.
5. Hiramatsu, H., Kyono, K., Higashiyama, Y., Fukushima, C.,
Shima,H.,Sugiyama,S.,Inaka,K.,Yamamoto,A.&Shimizu,R.
(2003) The structure and function of human dipeptidyl peptidase
IV, possessing a unique eight-bladed beta-propeller fold. Biochem.
Biophys. Res. Commun. 302, 849–854.
6. O’Leary, R.M., Gallagher, S.P. & O’Connor, B. (1996) Purifica-
tion and characterization of a novel membrane-bound form of
prolyl endopeptidase from bovine brain. Int. J. Biochem. Cell.
Biol. 28, 441–449.
7. Yoshimoto, T., Kado, K., Matsubara, F., Koriyama, N.,
Kaneto, H. & Tsura, D. (1987) Specific inhibitors for prolyl
endopeptidase and their anti-amnesic effect. J. Pharmacobio-dyn.
10, 730–735.
8. Atack, J.R., Suman-Chauhan, N., Dawson, G. & Kulagowski, J.J.
(1991) In vitro and in vivo inhibition of prolyl endopeptidase. Eur.
J. Pharmacol. 205, 157–163.
9. Marighetto, A., Touzani, K., Etchamendy, N., Torrea, C.C., De
Nanteuil, G., Guez, D., Jaffard, R. & Morain, P. (2000) Further
evidence for a dissociation between different forms of mnemonic
expressions in a mouse model of age-related cognitive decline:
effects of tacrine and S 17092, a novel prolyl endopeptidase
inhibitor. Learn. Mem. 7, 159–169.
10. Morty, R.E., Troeberg, L., Powers, J.C., Ono, S., Lonsdale-
Eccles, J.D. & Coetzer, T.H. (2000) Characterisation of the
antitrypanosomal activity of peptidyl alpha-aminoalkyl phos-
phonate diphenyl esters. Biochem. Pharmacol. 60, 1497–1504.
11. Hughes, T.E., Mone, M.D., Russell, M.E., Weldon, S.C. &
Villhauer, E.B. (1999) NVP-DPP728 (1-[[[2-[(5-cyanopyridin-2-yl)
amino]ethyl]amino]acetyl]-2-cyano-(S)-pyrrolidine), a slow-binding
inhibitor of dipeptidyl peptidase IV. Biochemistry 38, 11597–11603.
12. Conarello, S.L., Li, Z., Ronan, J., Roy, R.S., Zhu, L., Jiang, G.,
Liu, F., Woods, J., Zycband, E., Moller, D.E., Thornberry, N.A.
& Zhang, B.B. (2003) Mice lacking dipeptidyl peptidase IV are
protected against obesity and insulin resistance. Proc. Natl Acad.
Sci. USA 100, 6825–6830.
13. Polga
´
r, L. (1992) Structural relationship between lipases and
peptidases of the prolyl oligopeptidase family. FEBS Lett. 311,
281–284.
14. Notredame, C., Higgins, D.G. & Heringa, J. (2000) T-Coffee: a
novel method for fast and accurate multiple sequence alignment.
J. Mol. Biol. 302, 205–217.
15. Thompson, J.D., Gibson, T.J., Plewniak, F., Jeanmougin, F. &
Higgins, D.G. (1997) The CLUSTALX windows interface: flexible
strategies for multiple sequence alignment aided by quality ana-
lysis tools. Nucleic Acids Res. 25, 4876–4882.
16. Schmidt, H.A., Strimmer, K., Vingron, M. & von Haeseler, A.
(2002) TREE-PUZZLE: maximum likelihood phylogenetic ana-
lysis using quartets and parallel computing. Bioinformatics 18,
502–504.
17. Krogh, A., Larsson, B., von Heijne, G. & Sonnhammer, E.L.
(2001) Predicting transmembrane protein topology with a hidden
Markov model: application to complete genomes. J. Mol. Biol.
305, 567–580.
18. Eisenhaber, F., Eisenhaber, B., Kubina, W., Maurer-Stroh, S.,
Neuberger, G., Schneider, G. & Wildpaner, M. (2003) Prediction
of lipid posttranslational modifications and localization signals
from protein sequences: big-Pi, NMT and PTS1. Nucleic Acids
Res. 31, 3631–3634.
2714 J. I. Vena
¨
la
¨
inen et al.(Eur. J. Biochem. 271) Ó FEBS 2004