Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

So sánh vai trò của máy chụp cắt lớp võng mạc Heildelberg (HRT) và máy chụp cắt lớp có kết quang học (OCT) trong chẩn đoán Glaucoma

Phương tiện nghiên cứu
Máy Stratus OCT III, HRT II, autometric parametry (Humphrey).
Phương pháp nghiên cứu
192 mắt được đưa vào nghiên cứu, trong đó 47 mắt bình thường, 50 mắt tăng
nhãn áp, 45 mắt glôcôm giai đoạn sớm, 50 mắt glôcôm. Tất cả các mắt đều
được khám thường quy, đo thị trường, khảo sát RNFL bằng OCT và đánh giá
đầu thần kinh thị bằng HRT. Tiêu chuẩn mắt bình thường khi không có tiền căn
bản thân và gia đình bị glôcôm, nhãn áp ≤ 21 mmHg (Goldman), thị trường
bình thường (Humphrey, test 30-2), tỉ lệ C/D giữa hai mắt ≤ 0,2, không teo
quanh gai, vùng rim nguyên vẹn, RNFL bình thường, không xuất huyết/bạc
màu gai thị. Tiêu chuẩn mắt tăng nhãn áp khi nhãn áp > 21mmHg, thị trường
bình thường, gai thị bình thường. Tiêu chuẩn mắt glôcôm giai đoạn sớm khi thị
trường bình thường, tổn thương gai thị dạng glôcôm như khuyết vùng rim khu
trú, khuyết vùng rim lan tỏa, xuất huyết cạnh gai, tì lệ C/D giữa 2 mắt > 0,2.
Tiêu chuẩn mắt glôcôm khi tổn thương gai thị và thị trường dạng glôcôm.
KẾT QUẢ
Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 56 ± 12,1. Không có sự khác biệt về giới
tính và độ khúc xạ giữa các nhóm nghiên cứu. Trừ nhóm tăng nhãn áp so với
nhóm bình thường, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê ở các nhóm còn lại
(bảng 1). Tỉ lệ mắt giữa các nhóm gần bằng nhau. Glôcôm góc mở nguyên phát
chưa tổn thương thị trường chiếm tỉ lệ cao nhất (87,7). Trong nhóm glôcôm
giai đoạn sớm và nhóm glôcôm (56%) (bảng 2).
Bảng 1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu.
Bình
thường
Tăng
nhãn
áp
Glôcôm
giai
đoạn
sớm
Glôcôm p
Số
mắt
47 50 45 50 0,4
Tuổi
(năm,
Mean
±
SD)
55 ±
14,2
57,4
±
14,3
58,6 ±
10,9
57,5 ±
10,6
0,2
Giới
Nam 21 27 25 27 0,4
Bình
thường
Tăng
nhãn
áp
Glôcôm
giai
đoạn
sớm
Glôcôm p
Nữ 26 23 20 23
Độ
khúc
xạ
(D)
-
2,1±1,4
-2,5
± 2,1
-2,2 ±
3,1
-2,4 ±
3,3
0,3
MD
(dB,
Mean
±
SD)
-
0,4±0,7
-0,7
± 0,9
-1,5 ±
1,2
-3,5 ±
2,1
<0,001
Bình
thường
Tăng
nhãn
áp
Glôcôm
giai
đoạn
sớm
Glôcôm p
PSD
(dB,
Mean
±SD)
0.,±0,5 1,4 ±
0,7
1,6 ±
0,9
5,8 ±
9,3
<0,001
Mean: trung bình, SD: độ lệch chuẩn
Bảng 2. Tỉ lệ bệnh trong các nhóm nghiên cứu
Tần số Tỉ lệ %
Nhóm chứng 47 24,5
Tăng nhãn áp 50 26,0
Glôcôm giai đoạn sớm 45 23,4
Glôcôm góc mở nguyên
phát
39 20,3
Glôcôm góc mở thứ
phát (có sự phân tán sắc
tố mống mắt)
4 2,1
Glôcôm góc mở nguyên
phát sau laser YAG
2 1
Glôcôm tiến triển 50 26,0
Glôcôm góc mở nguyên
phát
28 14,5
Glôcôm nhãn áp bình
thường
6 3,1
Glôcôm người trẻ 3 1,6
Glôcôm giả bong bao 1 0,5
Glôcôm sắc tố 10 5,2
Glôcôm sau chấn
thương
2 1,o
Tổng số 192 100,0
Để khảo sát sự thay đổi các thông số HRT và OCT trong các giai đoạn bệnh
glôcôm, chúng tôi tiến hành phân tích so sánh 6 nhóm sau: so sánh các nhóm
tăng nhãn áp, glôcôm giai đoạn sớm, glôcôm với nhóm bình thường; so sánh
các nhóm glôcôm giai đoạn sớm, glôcôm với nhóm tăng nhãn áp, so sánh
nhóm glôcôm giai đoạn sớm với nhóm glôcôm tiến triển. Kết quả ghi nhận
được ở bảng 3 và 4.
Bảng 3. Các biến số khảo sát đầu thị thần kinh trên HRT ở nhóm người bình
thường và các giai đoạn của bệnh Glôcôm
Bình
thường
TNA Glôcôm
g/đ sớm
Glôcôm
Diện tích
chén thị
(mm
2
)
0,6 ±
0,4
0,5 ±
0,4
0,9 ±
0,6
* !

1,3 ± 0,6
* ! ◊

Diện tích
vùng rim
(mm
2
)
1,6 ±
0,4
1,4 ±
0,3
1,3 ±
0,3
*

0,9 ± 0,4
* ! ◊

Tỉ số diện 0,3 ± 0,3 ± 0,4 ± 0,6 ± 0,2
Bình
thường
TNA Glôcôm
g/đ sớm
Glôcôm
tích chén
/đĩa thị
0,1 0,2 0,2
* !

* ! ◊

Tỉ số
đường
kính dọc
chén thị /
đĩa thị
0,5 ±
0,2
0,5 ±
0,1
0,6 ±
0,2
* !

0,7 ± 0,1
* ! ◊

Thể tích
chén thị
(mm
3
)
0,2 ±
0,2
0,1 ±
0,2
0,3 ±
0,3
* !

0,1 ± 0,2
* !

Thể tích
vùng_rim
(mm
3
)
0,4 ±
0,1
0,4 ±
0,1
0,3 ±
0,1
* !

0,4 ± 0,1
* ! ◊

Chiều sâu
chén thị
trung bình
0,2 ±
0,1
0,2 ±
0,1
0,3 ±
0,1
* !

0,3 ± 0,1
* !

Bình
thường
TNA Glôcôm
g/đ sớm
Glôcôm
(mm)
Số đo
hình dạng
chén thị
-0,2 ±
0,1
-0,2
± 0,1
-0,1 ±
0,1
* !

-
0,04±0,1
* ! ◊

Chiều dày
RNFL
trung bình
(mm)
0,3 ±
0,04
0,3 ±
0,1
0,2 ±
0,1
* !

0,2 ± 0,1
* ! ◊

Thay đổi
chiều cao
đường
viền
0,4 ±
0,1
0,4 ±
0,1
0,4 ±
0,1
0,4 ± 0,1
*
tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa 3 nhóm tăng nhãn áp,
glôcôm giai đoạn sớm, glôcôm tiến triển với nhóm bình thường, (Turkey-Kramer
post-hoc test)
!
tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa 2 nhóm glôcôm giai
đoạn sớm, glôcôm tiến triển với nhóm tăng nhãn áp, (Turkey-Kramer post-hoc
test)

tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa nhóm glôcôm giai đoạn
sớm với nhóm glôcôm tiến triển, (Turkey-Kramer post-hoc test).
Bảng 4. Chiều dày lớp sợi thần kinh trên OCT ở nhóm người bình thường và các
giai đoạn bệnh của glôcôm
Bình
thường
TNA Glôcôm
g/đ sớm
Glôcôm
Trung
bình
110,4 ±
17,6
91,3 ±
15,6
86,4 ±
25,4
79,5 ±
18,5
Góc
trên
104,9 ±
24,2
101,1
± 23,8
92,1 ±
29,2
*

81,3 ±
26,6
*

Góc
dưới
124,9 ±
35,5
106,9
± 29,5
*

102,2 ±
27,4
*

89,8 ±
29,8
*

Góc
mũi
64,7 ±
14,5
61,6 ±
19,7
64,4 ±
23,5
54,1 ±
20,3
*

Góc
thái
dương
64,5 ±
16,2
64,8 ±
13,2
62,4 ±
18,7
64,6 ±
19,2
*
tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa 3 nhóm tăng nhãn áp,
glôcôm giai đoạn sớm, glôcôm tiến triển với nhóm bình thường, (Turkey-Kramer
post-hoc test)
!
tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa 2 nhóm glôcôm giai
đoạn sớm, glôcôm tiến triển với nhóm tăng nhãn áp, (Turkey-Kramer post-hoc
test)

tương ứng với p < 0,05 khi so sánh các thông số giữa nhóm glôcôm giai đoạn
sớm với nhóm glôcôm tiến triển, (Turkey-Kramer post-hoc test).
* Khả năng chẩn đoán các giai đoạn bệnh glôcôm của HRT.
Trong nhóm tăng nhãn áp, tất cả các biến số đều có diện tích dưới đường cong
ở mức độ yếu. Trong nhóm glôcôm giai đoạn sớm và nhóm glôcôm, chỉ số
AUC, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị ngưỡng các thông số có giá trị chẩn đoán
trên HRT được ghi nhận ở bảng 4 và 5, đồng thời ở cả hai nhóm, tỉ số đường
kính chén thị / đĩa thị có AUC cao nhất. Biểu đồ 1 mô tả đường cong ROC của
tỉ số đường kính chén thị / đĩa thị.

Hoàn thiện kế toán CPSX và tính GTSP xây lắp tại Công ty Kiến trúc Tây Hồ

Chuyên đề tốt nghiệp
+ Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
cha phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
trong kỳ.
Cách phân loại chi phí theo yếu tố, có tác dụng quan trọng đối với việc quản
lý chi phí của lĩnh vực sản xuất cho phép hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi
phí là cơ sở để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất. Đó
cũng là căn cứ để tập hợp và lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố cung cấp cho
quản trị doanh nghiệp.
* Phân loại theo khoản mục chi phí trong tính giá thành sản phẩm.
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất đợc chia theo khoản mục với cách phân
loại này những chi phí có cùng công dụng kinh tế và mức phân bổ chi phí cho từng
đối tợng thì đợc sắp xếp vào một khoản mục không phân biệt tính chất kinh tế của
nó.
Số lợng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm tuỳ thuộc vào đặc
điểm tính chất của từng ngành và yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ khác nhau.
Theo sự phân chia nh vậy thì chi phí đợc chia thành các yếu tố chi phí sau:
+ Chi phí NVLTT: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ,
nhiên liệu. tham gia trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao
vụ, dịch vụ. Không tính vào mục này nhng chi phí nguyên, nhiên vật liệu dùng cho
mục đích phục vụ sản xuất chung hay những hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất.
+ Chi phí NCTT: Gồm tiền lơng, phụ cấp lơng và các khoản trích cho các
quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, theo tỷ lệ với tiền lơng
phát sinh, tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, không tính vào
mục đích này các khoản tiền lơng, phụ cấp và các khoản trích tiền lơng của nhân
viên quản lý, phục vụ phân xởng, bán hàng và quản lý doanh nghiệp.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân x-
ởng sản xuất (trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp)
là:
-> Chi phí nhân viên phân xởng: Là chi phí về tiền lơng, phụ cấp và các
khoản trích theo lơng của nhân viên quản lý phân xởng, bảo vệ, phục vụ tại phân
xởng.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
-> Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại công cụ dụng cụ dùng cho
nhu cầu sản xuất chung ở phân xởng.
-> Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm số giá trị khấu hao tài sản cố định hữu
hình, vô hình, thuê tài chính sử dụng ở phân xởng.
-> Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi phí về dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng.
-> Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm những chi phí ngoài các chi phí trên
trong chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến tiêu
thụ sản phẩm.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm những chi phí phát sinh liên quan
đến quản trị và quản lý hành chính trong doanh nghiệp.
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu chí này (công dụng kinh tế ) có tác dụng
phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức là cơ sở cho kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục là căn cứ để phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí cho kỳ sau.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm sản
xuất trong kỳ (ứng xử của chi phí).
- Chi phí biến đổi (biến phí): Là những chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với
biến động về mức độ hoạt động (khối lợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ).
- Chi phí cố định: (định phí): Là những khoản chi phí không biến đổi khi
mức độ hoạt động thay đổi (khối lợng sản phẩm sản xuất thay đổi).
Phân loại chi phí biến đổi và chi phí cố định có tác dụng lớn đối với công
tác quản trị phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết, giúp doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả trên thị trờng.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và
mối quan hệ với đối tợng chịu chi phí:
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí có thể tách biệt phát sinh một cách riêng biệt
cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nh một sản phẩm ở một phân xởng
sản xuất.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí gián tiếp: Là chi phí chung hay chi phí kết hợp không có liên quan
tới hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng lúc tới nhiều hoạt động, nhiều công
việc.
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định các phơng pháp kế toán
tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tợng một cách đúng đắn, hợp lý và cũng
qua đó cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để có những quyết sách kịp thời và
đúng đắn có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Giá thành sản phẩm
1.1.2.1.Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm lao
vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử
dụng tài sản vật t, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng nh tính đúng
đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật. Những chi phí đa vào giá thành
sản phẩm phản ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất
và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí, lao động
sống. Kết quả thu đợc là sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành đánh giá đợc
mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Phân loại giá thành giúp cho kế toán nghiên cứu và quản lý, hạch toán tốt
giá thành sản phẩm và cũng đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng giá cả sản phẩm. Dựa
vào tiêu thức khác nhau và xét dới nhiều góc độ mà ngời ta phân thành các loại giá
thành khác nhau.
* Phân loại gía thành xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành.
Theo cách này thì giá thành đợc chia thành:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch. Giá thành kế hoạch đợc xác định trớc khi bớc
vào sản xuất trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức các dự toán chi
phí của kỳ kế hoạch. Gía thành kế hoạch là giá thành mà các doanh nghiệp lấy nó
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
làm mục tiêu phấn đấu, nó là căn cứ để so sánh phân tích đánh giá tình hình thực
hiện hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch và chỉ tính
cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức cũng đợc xác định trớc khi bắt đầu sản
xuất sản phẩm và là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp là thớc đo chính
xác để xác định kết quả sử dụng vật t, tài sản lao động trong sản xuất. Giá thành
định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí trong
quá trình sản xuất. Giá thành định mức giúp cho việc đánh giá tính đúng đắn của
các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng trong sản xuất nhằm
đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế phát sinh tổng hợp trong kỳ và sản lợng sản phẩm đã sản xuất trong kỳ.
Sau khi đã hoàn thành việc sản xuất sản phẩm dịch vụ và đợc tính toán cho cả chỉ
tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế, là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản
ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp là cơ sở để xác định kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành sản phẩm đợc chia
thành:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xởng): Giá thành sản xuất của sản
phẩm bao gồm các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến việc sản xuất chế tạo
sản phẩm trong phạm vi phân xởng, bộ phận sản xuất nh chi phí NVLTT, chi phí
NCTT, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm, dịch vụ hoàn thành.
Giá thành sản xuất đợc sử dụng để hạch toán thành phẩm nhập kho và giá
vốn hàng bán (trong trờng hợp bán thẳng cho khách hàng không qua kho). Giá
thành sản xuất là căn cứ để xác định giá vốn hàng bán và mức lãi gộp trong kỳ của
các doanh nghiệp.
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Bao gồm giá thành sản xuất sản
phẩm cộng thêm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp đợc tính toán xác
định khi sản phẩm đợc tiêu thụ. Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để
xác định mức lợi nhuận trớc thuế của doanh nghiệp.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá
trình sản xuất có mối quan hệ với nhau và giống nhau về chất. Chúng đều là các
hao phí về lao động và các khoản chi tiêu khác của doanh nghiệp. Tuy vậy chúng
vẫn có sự khác nhau trên các phơng diện sau:
- Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí chi sản xuất sản
phẩm và chi phí cho quản lý doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Còn giá thành sản
phẩm chỉ bao gồm chi phí sản xuất ra sản phẩm. ( chi phí sản xuất trực tiếp và chi
phí sản xuất chung).
Mặt khác chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong mỗi kỳ
nhất định (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí liên quan đến số lợng sản
phẩm đã hoàn thành hay cha. Còn giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản
xuất liên quan đến khối lợng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành.
- Về mặt lợng: Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí trong một
thời kỳ còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí của cả kỳ trớc chuyển sang
và số chi phí kỳ này chuyển sang kỳ sau. Sự khác nhau về mặt lợng và mối quan
hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành
sản phẩm tổng quát sau:
Tổng giá thành
Sảnphẩm
=
Chi phí sản xuất dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
Chi phí sản
suất dở dang cuối kỳ
Nh vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành sản phẩm còn giá
thành là cơ sở để xây dựng giá bán. Trong điều kiện nếu giá bán không thay đổi
thì sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hởng
trực tiếp đến giá thành thấp hoặc cao từ đó sẽ tác động tới lợi nhuận của doanh
nghiệp. Do đó tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thờng
xuyên của công tác quản lý kinh tế. Nó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh có hiệu
quả trên thị trờng.
1.1.4. Sự cần thiết và nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm.
* Sự cần thiết: Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong cơ chế thị trờng hiện nay cũng đều nhận thức đợc tầm quan trọng của
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
nguyên tắc hết sức cơ bản là phải làm sao đảm bảo lấy thu nhập bù đắp chi phí đã
bỏ ra bảo toàn đợc vốn và có lãi để tích luỹ, tái sản xuất mở rộng từ đó mới đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chìa khoá để giải quyết vấn đề
này chính là việc hạch toán ra sao để cho chi phí sản xuất và giá thành ở mức thấp
nhất trong điều kiện có thể đợc của doanh nghiệp.
Ngoài ra làm tốt công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm sẽ
giúp cho doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn thực trạng của quá trình sản xuất, quản
lý cung cấp thông tin một cách chính xác kịp thời cho bộ máy lãnh đạo để đề ra
các quyết sách, biện pháp tối u nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và cũng đồng thời giúp doanh
nghiệp có sự chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.
Đối với Nhà nớc khi mỗi doanh nghiệp có sự thực hiện tốt về tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp Nhà nớc có sự nhìn nhận và xây
dựng đợc những chính sách đờng lối phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
cũng nh tạo ra những sự tin cậy của các đối tác trong hợp tác sản xuất kinh doanh
với doanh nghiệp.
* Nhiệm vụ:Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình
công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu quản lý
cụ thể của doanh nghiệp, để lựa chọn xác định đúng đắn đối tợng kế toán chi phí
sản xuất, lựa chọn phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp. Cũng từ đó xác định đối tợng tính giá thành cho phù hợp.
Trên cơ sở mối quan hệ giữa đối tợng kế toán chi phí sản xuất và đối tợng
tính giá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phơng pháp tính giá thành cho phù
hợp và khoa học.
Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học hợp lý trên cơ sở phân công rõ
ràng trách nhiệm từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt là bộ phận kế toán
các yếu tố chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản số kế
toán phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng đợc
yêu cầu thu nhận, xử lý hệ thống hoá các thông tin về chi phí và giá thành của
doanh nghiệp.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
Thờng xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, và giá thành sản phẩm
của các bộ phận kế toán có liên quan và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản
phẩm.
Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm cung
cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà
quản trị doanh nghiệp ra đợc các quyết định nhanh chóng và phù hợp với quá trình
sản xuất kinh doanh.
1.2. Hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.1. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
1.2.1.1. Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là xác định giới hạn tập hợp chi phí mà
thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
- Nơi phát sinh chi phí nh: Các bộ phận sản xuất, các giai đoạn công nghệ.
- Nơi chịu chi phí sản phẩm: Nhóm sản phẩm, sản phẩm ,chi tiết sản phẩm,
đơn đặt hàng
Tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, yêu cầu công tác
tính giá thành mà đối tợng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm từng bộ phận sản
xuất, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng Xác định đúng đối tợng hạch toán chi phí có
tác dụng phục vụ cho việc tăng cờng quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công
tác tính giá thành sản phẩm đợc kịp thời đúng đắn.
Việc xác định đúng đối tợng hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
phải dựa vào các cơ sở sau:
* Dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất.
+ Đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn không
chia thành các giai đoạn cụ thể rõ rệt thì đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là
toàn bộ quy trình sản xuất.
+ Đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp thì đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất có thể là từng sản phẩm, có thể là từng bộ phận, từng
nhóm chi tiết, từng chi tiết các giai đoạn chế biến
*Dựa vào loại hình sản xuất của doanh nghiệp.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ thì đối tợng hạch
toán chi phí có thể là sản phẩm, các đơn đặt hàng riêng biệt.
+ Loại hình sản xuất đồng loạt với khối lợng lớn: Phụ thuộc vào quy trình
công nghệ sản xuất và đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm,
nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ
*Dựa vào vào yêu cầu và trình độ quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh.
+ Theo yêu cầu và trình độ quản lý. Nếu yêu cầu quản lý ngày càng cao,
trình độ và khả năng của nhân viên quản lý càng tốt thì đối tợng tập hợp chi phí
sản xuất ngày càng chi tiết và ngợc lại.
+ Theo cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tổ
chức theo kiểu phân xởng thì đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là theo phân x-
ởng còn không thì đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là toàn bộ.
Việc xác định đối tợng hạch toán chi phí đúng và phù hợp với đặc điểm của
đơn vị và yêu cầu quản lý có nghĩa rất lớn trong việc tổ chức công tác hạch toán
chi phí sản xuất. Từ việc tổ chức công tác hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp
số liệu ghi chép trên tài khoản ,sổ chi tiết
1.2.1.2. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống các
phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phi sản xuất trong phạm
vi giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí.
Tuỳ theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể kế toán có thể vận dụng các
phơng pháp hạch toán tập hợp chi phí thích hợp.
Có hai phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp sản xuất
thờng áp dụng.
Phơng pháp tập hợp trực tiếp: áp dụng trong trờng hợp chi phí sản xuất phát
sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt.
Do đó có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tợng
riêng biệt.
Đây là phơng pháp tập hợp trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi phí nên đảm
bảo độ chính xác cao, nó cũng có ý nghĩa lớn đối với kế toán quản trị doanh
nghiệp.
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thờng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chi phí nhân công trực tiếp th-
ờng áp dụng phơng pháp này.
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng áp dụng phơng pháp này đợc trên thực
tế có rất nhiều chi phí liên quan đến các đối tợng và không thể theo dõi trực tiếp đ-
ợc trờng hợp tập hợp chi phí theo phơng pháp trực tiếp tốn nhiều thời gian công
sức nhng không chính xác hiệu quả.
Phơng pháp phân bổ gián tiếp: áp dụng trong trờng hợp chi phí sản xuất
phát sinh có liên quan đến nhiều đối tợng kế toán chi phí, không tổ chức ghi chép
ban đầu riêng cho từng đối tợng đợc. Trong trờng hợp đó phải tập hợp chung cho
nhiều đối tợng sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ, thích hợp để phân bổ khoản
chi phí này cho từng đối tợng kế toán chi phí.
Việc tổ chức đợc tiến hành theo trình tự.
- Xác định hệ số phân bổ.
Hệ số phân bổ =
- Xác định chi phí phân bổ cho từng đối tợng.
C
i
= T
i
x H
C
i
: Là chi phí phân bổ cho từng đối tợng thứ i
T
i
: Là tiêu thức phân bổ cho từng đối tợng thứ i
H: Là hệ số phân bổ
Tiêu thức phân bổ hợp lý giữ vai trò quan trọng trong khi tập hợp chi phí
gián tiếp. Bởi vậy việc lựa chọn tiêu thức phân bổ phải tuỳ thuộc vào loại chi phí
sản xuất và các điều kiện cho phép khác nh: định mức tiêu hao nguyên vật liệu,
sản lợng sản xuất đợc. lựa chọn tiêu thức hợp lý là cơ sở để tập hợp chi phí chính
xác cho các đối tợng tính giá thành có liên quan.
1.2.2. Hạch toán các khoản mục chi phí sản xuất.
1.2.2.1. Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên.
a. Hạch toán chi phí NVLTT: Chi phí NVLTT bao gồm giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu. đợc xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng các tiêu thức dùng để phân bổ
Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm của doanh nghiệp. Đây là loại chi phí thờng chiếm tỷ trọng lớn trong các
doanh nghiệp sản xuất.
Sau khi xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán tiến
hành xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong kỳ cho từng đối tợng tập hợp
chi phí tổng hợp theo từng tài khoản sử dụng lập bảng phân bổ chi phí vật liệu làm
căn cứ hạch toán tập hợp chi phí NVLTT.
Chi phí NVLTT đợc căn cứ vào các chứng từ xuất kho, loại các hoá đơn để
tính ra giá trị vật liệu xuất dùng. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan
trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt thì hạch toán trực tiếp cho đối
tợng đó. Trờng hợp có liên quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí thì áp dụng ph-
ơng pháp phân bổ gián tiếp.
Để theo dõi các khoản chi phí NVLTT kế toán sử dụng tài khoản 621 "Chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp" tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng đối tợng tập
hợp chi phí.
Kết cấu tài khoản 621:
Bên nợ:Tập hợp chi phí nguyên,vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản
phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Bên có:
Giá trị vật liệu xuất dùng không hết
Kết chuyển chi phí NVLTT
Tài khoản 621cuối kỳ không có số d
Hạch toán chi phí NVLTT
Nợ TK 621:( chi tiết theo từng đối tợng)
Nợ TK 1331: (Nếu có)
Có TK 152 (Giá thực tế xuất dùng cho từng loại)
Có TK 331, 112, 111: (vật liệu mua ngoài)
Giá trị vật liệu xuất dùng không hết
Nợ TK152 (chi tiết vật liệu)
Có TK621 (chi tiết đối tợng)
Nguyễn Quốc Trung - Kế toán E - K13 VBII

Lập trình C++ - Đề cương -p2

Chơng III. Kỹ thuật lập trình đơn thể
I. Định nghĩa và sử dụng đơn thể
1. Khái niệm phân loại
Khái niệm: Đơn thể (hay Module) là một đoạn chơng trình đợc viết
theo một cấu trúc nào đó, giải quyết một vấn đề tơng đối độc lập của bài
toán.
Khi viết một chơng trình, chúng ta có thể triển khai theo hai cách:
Cách 1: Toàn bộ các lệnh của chơng trình đợc viết trong hàm
main(). Các lệnh đợc viết theo trình tự để giải quyết bài toán đặt ra.
Cách 2: Chơng trình đợc tạo thành từ nhiều đơn thể khác nhau.
Các đơn thể thực hiện những nhiệm vụ tơng đối độc lập và đợc lắp
ghép lại thành chơng trình thông qua những lời gọi đơn thể trong hàm
main().
u nhợc điểm:
- Với cách 1: sẽ thích hợp khi viết những chơng trình có kích thớc
nhỏ. Toàn bộ thuật toán đợc thể hiện trong một đoạn mã từ trên
xuống dới. Tuy nhiên, cách này không phù hợp với các chơng
trình lớn do:
+ Kích thớc chơng trình cồng kềnh, khó kiểm soát, chỉnh sửa.
+ Các đoạn mã có thể lặp đi lặp lại, chơng trình dài không cần
thiết.
- Với cách 2: Chơng trình đợc chia nhỏ thành các đơn thể khắc
phục đợc hai nhợc điểm cơ bản trên. Đặc biệt phù hợp với các
chơng trình có kích thớc lớn.
Trong C++, ta có hai loại đơn thể sau:
[1]. Các lớp đối tợng: Chơng trình bao gồm một số đoạn mã mô tả
các lớp các đối tợng nào đó sẽ sử dụng trong chơng trình chính. Loại đơn
thể này đợc nghiên cứu trong nội dung môn học Lập trình hớng đối t-
ợng.
[2]. Các hàm: Chơng trình đợc cấu tạo từ các hàm. Mỗi hàm thực
thi một nhiệm vụ tơng đối độc lập, trong đó có một hàm main đóng vai
trò nh chơng trình chính để sử dụng các hàm khác.
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Trong phạm vi môn học, ta chỉ xem xét các đơn thể dới dạng các
hàm.
2. Các đặc trng của hàm
Một hàm trong C++ có các đặc trng sau:
[1]. Tên hàm: do ngời lập trình tự đặt và có những đặc điểm sau:
+ Tên hàm thờng mang tính đại diện cho công việc mà hàm sẽ
đảm nhiệm.
+ Tên hàm đợc đặt tuỳ ý nhng tuân theo quy ớc đặt tên trong C+
+.
[2]. Kiểu giá trị trả về của hàm: Nếu hàm trả về một giá trị thì
giá trị đó phải thuộc một kiểu dữ liệu nào đó; ta gọi là kiểu giá trị trả về
của hàm. Kiểu giá trị trả về của hàm có thể là các kiểu dữ liệu chuẩn.
[3]. Các đối của hàm: Nếu hàm sử dụng các đối thì các đối phải
thuộc một kiểu dữ liệu nào đó. Khi thiết lập một hàm, ta cần chỉ ra danh
sách các đối của hàm và kiểu dữ liệu của mỗi đối.
[4]. Thân hàm: là nội dung chính của hàm, chứa toàn bộ các lệnh
của hàm.
3. Phân loại hàm
Tùy theo nguồn gốc của hàm ta phân ra:
- Các hàm có sẵn: Là các hàm chứa trong các th viện của C++, đã
đợc định nghĩa từ trớc. Các hàm này đợc đặt trong các th viện .h.
Ngời lập trình chỉ việc sử dụng chúng thông qua các chỉ thị:
#include <Tên th viện chứa hàm>
mà không cần định nghĩa hàm.
VD: Các hàm sqrt(); sin(); cos(); gets(); puts() .v.v
- Các hàm tự định nghĩa: Là các hàm mà trớc khi dùng chúng ta
phải định nghĩa chúng. Các hàm này cũng có thể đợc tập hợp lại
trong một file .h để dùng nh một th viện có sẵn.
Tuỳ theo kiểu của giá trị trả về của hàm ta phân ra:
- Hàm không có giá trị trả về: Là hàm chỉ có chức năng thực hiện
một công việc nào đó mà ta không quan tâm tới giá trị trả về của
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
2
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
hàm. Các giá trị tính toán đợc trong thân hàm thờng đợc kết xuất
lên màn hình.
- Hàm có giá trị trả về: Ngoài việc thực hiện một công việc nào đó,
hàm này còn trả về một giá trị thông qua tên hàm. Giá trị này có
thể đợc dùng trong những đoạn trình tiếp theo sau lời gọi hàm.
Nhận xét:
- Trong pascal, ta có hai loại chơng trình con: thủ tục (procedure)
và hàm (function). Trong C++, chúng ta có duy nhất một loại
chơng trình con (mà ta gọi là đơn thể), đó là hàm.
- Một chơng trình trong C++ đợc cấu tạo từ các hàm, trong đó hàm
main là hàm bắt buộc phải có, đóng vai trò nh chơng trình chính.
4. Định nghĩa và sử dụng hàm
a. Cấu trúc một hàm:
Một hàm thờng có cấu trúc nh sau:
- Hàm không có giá trị trả về (hàm void):
- Hàm có giá trị trả về:
Trong đó:
- <Kiểu hàm>: là kiểu giá trị trả về của hàm. Nếu hàm không có
giá trị trả về, ta dùng kiểu void. Ngợc lại, ta thờng sử dụng các
kiểu chuẩn nh int, float, double, char
- <Tên hàm>: do ngời dùng tự định nghĩa.
- [<kiểu đối> <tên đối>]: liệt kê danh sách các đối của hàm và
kiểu dữ liệu của đối (nếu hàm có đối).
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
3
<Kiểu hàm> <Tên hàm> <([<kiểu đối> <tên đối>])>
{
//Các lệnh trong thân hàm;
}
void <Tên hàm> <([<kiểu đối> <tên đối>])>
{
//Các lệnh trong thân hàm;
}
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
VD1: hàm tính n! đợc viết theo 2 dạng: có và không có giá trị trả
về:
Nhận xét:
- Hai điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại hàm này là: Kiểu trả về
(long và void) và câu lệnh cuối hàm (return kq; và cout<<kq;)
- Nếu hàm có giá trị trả về thì trong thân hàm thờng dùng lệnh:
return <Giá trị trả về>;
Khi đó, giá trị trả về sẽ đợc gán vào tên hàm. Bên ngoài hàm ta sử dụng
giá trị trả về này thông qua tên hàm.
- <Giá trị trả về> có thể là hằng, biến hoặc hàm.
VD2: Viết hàm tính giá trị biểu thức
F =





+
+++++
lẻ n nếu
chẵn n nếu
1
2
1

2
1
2
1
2
1
1
2
32
n
n
Một vấn đề đặt ra là: khi nào thì viết hàm dới dạng có giá trị trả
về, khi nào thì viết hàm không có giá trị trả về?
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
4
long GT(int n)
{
long kq=1;
for (int i=1; i<=n; i++)
kq *=i;
return kq;
}
void GT(int n)
{
long kq=1;
for (int i=1; i<=n; i++)
kq *=i;
cout<<kq;
}
Cách 1: Hàm có giá trị trả về Cách 2: Hàm không có giá trị trả về
float F(int n)
{
float kq;
if (n%2==1)
kq=sqrt(n*n+1);
else
{
kq=1; int Mau = 1;
for(int i=1; i<=n; i++)
{
Mau *=2;
kq+=1/Mau;
}
return kq;
}
void F(int n)
{
float kq;
if (n%2==1)
kq=sqrt(n*n+1);
else
{
kq=1; int Mau = 1;
for(int i=1; i<=n; i++)
{
Mau *=2;
kq+=1/Mau;
}
cout<<kq;
}
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Nói chung, tuỳ thuộc vào bài toán cụ thể ta có thể quyết định điều
này, tuy nhiên:
- Nếu ta chỉ dùng hàm để thực thi một công việc nào đó mà kết
quả của nó chỉ cần đợc kết xuất ra màn hình là đủ thì hàm thờng
đợc viết dới dạng không có giá trị trả về.
- Nếu kết quả trả về của hàm có thể đợc dùng trong những công
việc tiếp theo (tức ta còn sử dụng chúng sau này) thì hàm thờng
đợc viết dới dạng có giá trị trả về.
b. Cách tổ chức các hàm
Cách 1: Các hàm đặt trong cùng một tệp với hàm main().
Chơng trình ngoài hàm main() còn có các hàm khác thì đợc viết
theo cấu trúc sau:
Dạng 1: Hàm đặt trớc hàm main() Dạng 2: Hàm đặt sau hàm main()
Cách 2: Các hàm đặt trong th viên:
B1: Viết các hàm (trừ hàm main()) trong một file sau đó lu dới định
dạng .h. File này thờng đợc gọi là file th viện. (để thuận tiện cho việc
soát lỗi, tốt nhất trớc tiên nên tổ chức các hàm nh cách 1, sau đó di
chuyển toàn bộ các hàm (trừ hàm main() sang một file .h và lu lại)
B2: Mở một tệp mới và viết hàm main() trong một tệp này. Để hàm
main() có thể sử dụng các hàm viết trong file th viện đã tạo trong B1,
cần thêm chỉ thị: #include <[ đờng dẫn] <Tên th viện.h>
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
5
#include
.
//Các hàm đặt ở đây

void main()
{
Thân hàm main;
}
#include
.
//Nguyên mẫu của hàm đặt ở đây

void main()
{
Thân hàm main;
}
//Các hàm đặt ở đây
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Chú ý: nếu đặt file th viện trên trong th mục TC\ Include thì trong
chỉ thị #include không cần thêm đờng dẫn. Ngợc lại, cần thêm đầy đủ
đờng dẫn tới file th viện nói trên.
VD: Tạo file th viện TV.h với nội dung sau:
int NT(int n)
{
if (n ==1 || n ==2)
return =1;
else
{Check =1;
for (int i=2; i<n; i++)
if (n%i==0) Check =0;
return Check;
}
}
long GT(int n)
{long kq=1;
if (n==0 || n==1)
kq=1;
else
for (int i=1; i<=n; i++)
kq *=i;
return kq;
}
Mở một file (.CPP) mới và viết hàm main():
#include <conio.h>
#include <stdio.h>
#include <iostream.h>
#include <C:\TC\BIN\ TV.h
void main()
{
int a;
cout<< Nhập a ;
cin>>a;
if (NT(a) == 0)
cout<< Số <<a<< Không phải nguyên tố ;
else
{
cout<< Số <<a<< là số nguyên tố ;
cout<< Giai thừa của <<a<< là <<GT(a);
}
getch();
}
Chú ý:
- Các file th viện .h không nhất thiết phải có các chỉ thị tiền xử lý
#include
- Không thể soát lỗi bằng cách bấm F9 trong file th viện .h.
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
6
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
c. Sử dụng hàm
Để nắm cách sử dụng hai loại hàm trên, ta xét cách sử dụng các
biến và các lệnh trong chơng trình.
Giả sử ta xét a, b là một biến và gets() là một lệnh có trong chơng
trình. khi đó:
Cách viết sai Cách viết đúng
a;
cout<<gets(b);
b = a;
gets(a);
Tức là:
- Các biến không đợc dùng một cách độc lập mà luôn đợc viết
trong một lệnh nào đó hoặc trong biểu thức của lệnh gán.
- Các lệnh có thể đợc dùng độc lập mà không thể dùng lệnh này
bên trong lệnh kia.
Ghi nhớ:
- Các hàm có giá trị trả về dùng nh một biến.
- Các hàm không có giá trị trả vê dùng nh một lệnh.
Một số nguyên tắc khi dùng hàm:
- Nếu hàm đợc định nghĩa có đối số thì khi gọi hàm ta phải truyền
đầy đủ các tham số (hay đối số thực sự) cho hàm.
- Các tham số phải có kiểu trùng với kiểu của đối số tơng ứng.
- Nếu hàm không có đối số thì lời gọi hàm vẫn phải sử dụng dấu ()
kèm tên hàm: <Tên hàm> <( )>.
5. Phạm vi của biến
Theo phạm vi hoạt động của biến, ta chia ra:
- Biến toàn cục: là các biến có phạm vi hoạt động trong toàn bộ
chơng trình, kể từ vị trí khai báo biến.
Vị trí khai báo biến toàn cục nằm ngoài các hàm (kể cả hàm main).
Nếu chơng trình đợc viết trên nhiều tệp, để phạm vi hoạt động của
biến bao gồm cả các tệp khác, ta cần thêm chỉ danh extern vào trớc
khai báo biến.
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
7
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
- Biến cục bộ: là các biến có phạm vi hoạt động bị hạn chế: Nếu
biến đợc khai báo trong thân một khối nào đó sẽ có phạm vi hoạt
động chỉ trong khối, kể cả các khối con nằm bên trong khối đó.
+ Kết thúc khối, biến cục bộ sẽ đợc giải phóng.
+ Muốn biến này tồn tại trong suốt thời gian chơng trình làm việc,
ta cần thêm từ khóa static trớc khai báo biến để khai báo biến dới dạng
biến tĩnh.
VD1: Xét ví dụ sau:
int x;
void Ham(int a)
{
cout<< Biến x trong hàm <<x; //bien toan cuc
if (a%2==0)
{ int x=5; x+= a;
cout<< Biến x trong hàm << x; // bien cuc bo
}
}
void main()
{
x=1; int a = 2;
Ham(a);
cout<< Biến x trong hàm main <<x; //bien toan cuc
int x = 3;
cout<< Biến x trong hàm main <<x; //bien cuc bo
getch();
}
Nhận xét:
- Biến x dới dạng toàn cục có phạm vi hoạt động trong toàn bộ ch-
ơng trình, kể từ khi khai báo.
- Nếu trong một khối có khai báo biến cục bộ trùng tên với viến
toàn cục thì kể từ khi khai báo, khối đó sẽ sử dụng biến cục bộ
mà không sử dụng biến toàn cục.
II. Sử dụng các tham số trong lập trình đơn thể
1. Phân loại cách truyền tham số
Nếu hàm có đối số (tham số hình thức), khi gọi hàm ta phải truyền
các tham số tơng ứng cho hàm. Các tham số có thể là các biến hoặc các
hằng giá trị.
Có hai cách truyền tham số:
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
8
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
[1]. Truyền dạng tham chiếu: Khi truyền tham số dới dạng tham
chiếu, tham số là các biến và tham số sẽ đợc truy cập trực tiếp. Nh vậy,
các tham số đợc truyền vào một hàm thì sau khi ra khỏi hàm, giá tị của
chúng có thể bị thay đổi.
[2]. Truyền dạng tham trị: Khi truyền tham số dới dạng tham trị,
tham số sẽ không đợc truy cập trực tiếp. Hàm sẽ cấp phát một vùng nhớ
mới và sao chép giá trị của tham số vào đó. Các lệnh trong thân hàm sẽ
thao tác trên vùng nhớ mới này. Nh vậy, một tham số khi truyền vào một
hàm dới dạng tham trị sẽ không bị tham đổi giá trị của nó khi ra khỏi
hàm.
a) truyền tham chiếu b) Truyền tham trị
2. Truyền tham số
Nếu chơng trình viết trong các file có phần mở rộng .h, ta có duy
nhất một cách truyền tham số: Truyền theo tham trị. Từ C++3.0 trở lên,
cho phép sử dụng cả hai cách truyền tham số trong các chơng trình viết
dới dạng các file .CPP.
Xét trờng hợp ta có các biến thông thờng (không phải là biến con
trỏ)
- Nếu biến đợc truyền dới dạng thông thờng thì cách truyền đó là
truyền theo tham trị.
- Nếu ta không truyền biến vào hàm mà thay vào đó, ta truyền địa
chỉ của biến vào thì đó là cách truyền tham chiếu.
VD: int a=3, b=5;
Ham (&a, b);
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
9
Thực thi hàm
Vùng
nhớ của
Biến
Gọi hàm
Thực thi hàm
Vùng
nhớ của
Biến
Gọi hàm
Vùng
nhớ mới
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Khi đó biến a đợc truyền vào hàm dới dạng tham chiếu; biến b đợc
truyền vào hàm dới dạng tham trị.
Xét trờng hợp ta có các biến con trỏ.
Vì bản thân con trỏ thờng chứa địa chỉ của biến nào đó (mà nó trỏ
tới) nên khi truyền con trỏ vào hàm thì mặc nhiên đã là truyền theo dạng
tham chiếu.
VD: int a, *p;
a = 5; p = & a;
Ham(p);
Khi đó biến p đợc truyền vào hàm nhng thực chất là ta đã chuyền
địa chỉ của a vào hàm. Vậy có thể coi đây là trờng hợp truyền biến a vào
hàm dới dạng tham chiếu (tức sau khi ra khỏi hàm, biến a có thể bị thay
đổi giá trị).
VD1: Xét hàm sau:
int tang(int a)
{
a++;
}
void main()
{
int n=1;
cout<< Giá trị tr ớc khi gọi hàm <<n;
tang(n);
cout<< Giá trị sau khi gọi hàm <<n;
getch();
}
VD2: xét hàm sau
int Ham(int a, int b)
{
if (a%2==0){
a+=1;
b+=a;
}
cout<< Giá trị a trong thân hàm <<a;
cout<<Giá trị b trong thân hàm <<b;
}
void main()
{
int a, b;
a=1;
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
1
0
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
b=2;
cout<< Giá trị a tr ớc khi gọi hàm <<a;
cout<< Giá trị b tr ớc khi gọi hàm <<b;
Ham(a, b);
cout<< Giá trị a sau khi gọi hàm <<a;
cout<< Giá trị b sau khi gọi hàm <<b;
getch();
}
III. Kỹ thuật đệ quy
1. Khái niệm về đệ quy
Trong C++, một hàm có thể gọi đến chính nó. Tính chất này của
hàm gọi là tính đệ quy. Khi một hàm gọi đến chính nó, hàm đợc viết theo
kiểu đệ quy.
VD: Xét hàm tính n!. Ta có định nghĩa sau: n! = n * (n-1)! .
Hàm lặp:
long GT(int n)
{
long kq=1;
if (n==0 || n==1)
kq=1;
else
for (int i=1; i<=n; i++)
kq *=i;
return kq;
}
Hàm đệ quy:
long GT(int n)
{
if (n==1)
return 1;
else
return GT(n-1) * n;
}
Thực hiện: Giả sử n =3. Khi đó, quy trình thực hiện nh sau:
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
1
1
3!
2!
1!
3 * 2!
1! * 2
=
=
1=
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Để tính 3! ta cần tính 2!; Để tính 2 ! ta cần tính 1!.
Nếu biết 1!=1 thì ta có thể từ đó tính đợc 2! và 3!. Vậy thứ tự thực
hiện công việc tính toán sẽ là: 1!, 2!, 3! (tức phải gọi hàm tính n! tới 3 lần
với 3 đối vào 1, 2, 3).
Mỗi lần gọi đệ quy, chơng trình thực hiện nh sau:
- Lu địa chỉ của dòng lệnh gọi đệ quy.
- Tạo một tạo một bản sao của hàm, cấp phát các vùng nhớ mới
cho các biến cục bộ, thực hiện bản sao này.
- Lấy địa chỉ của dòng lệnh gọi đệ quy và quay về.
Để rõ hơn ta xem sơ đồ sau:
Nh vậy có bao nhiêu lời gọi hàm thì có bấy nhiêu lần kết thúc hàm.
Trong trờng hợp không tồn tại một bản sao của hàm mà tại đó không
thực hiện hiện lời gọi đệ quy thì quá trình đệ quy sẽ không dừng đợc (ta
gọi là đệ quy vô hạn).
Trong ví dụ về tính n!, với n=3 và công thức đề quy n! = n * (n-1)!,
sơ đồ đệ quy có thể nh sau:
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
1
2
Bắt đầu
Gọi đệ quy Gọi đệ quy Gọi đệ quy
Kết thúc
Bản sao 1 Bản sao n
Bỏ qua lệnh
gọi đệ quy

Bắt đầu :
tính 3!
Gọi đệ quy Gọi đệ quy Gọi đệ quy
Kết thúc
Return 1*2*3
Hàm GT(2) Hàm GT(1)
Bỏ qua lệnh
gọi đệ quy
Return 1Return 1*2
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
u nhợc điểm của phơng pháp đệ quy:
- Chơng trình ngắn gọi, dễ hiểu.
- Quá trình dịch phức tạp.
- Nói chung, tốn nhiều không gian nhớ hơn lặp.
Phơng pháp đệ quy đặc biệt thích hợp với một số bài toán nh
duyệt cây, đồ thị Tuy nhiên, nói chung ta nên ít sử dụng đệ quy khi
viết chơng trình do các nhợc điểm trên.
2. Thiết kế chơng trình theo kiểu đệ quy.
Các bài toán áp dụng giải thuật đệ quy thờng có đặc điểm sau:
- Bài toán dễ dàng giải quyết trong một số trờng hợp riêng ứng với
các giá trị đặc biệt của tham số. Trong trờng hợp này, ta có thể
giải quyết bài toán mà không cần gọi đệ quy. Ta gọi trờng hợp
này là trờng hợp suy biến.
- Trong trờng hợp tổng quát, bài toán có thể quy về bài toán cùng
dạng nhng giá trị của tham số thay đổi. Và sau một số hữu hạn
bớc biến đổi đệ quy, sẽ dẫn tới trờng hợp suy biến.
Giả sử bài toán tính n!, dễ dàng thấy:
- Với n=0 hoặc n = 1 thì n! = 1. Khi đó ta không cần gọi đệ quy vẫn
có thể tính đợc n!. ta gọi trờng hợp này là trờng hợp suy biến.
- Trờng hợp n > 1: n! = n* (n-1)!. Tức là để tính n!, ta có thể quy
về bài toán tính (n-1)!. Sau một số hữu hạn bớc biến đổi, ta có
thể quy về bài toán tính 1!. Vậy đây là trờng hợp tổng quát
Nh vậy:
- Trờng hợp suy biến: n=0 hoặc n=1. Khi đó: n! = 1;
- Trờng hợp tổng quát: n > 1. Khi đó: n! = n* (n-1)!.
Chơng trình đệ quy đợc thiết kế nh sau:
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
1
3
Đề cơng chi tiết Kỹ thuật lập trình
Bớc 1: Xác định các trờng hợp suy biến tổng quát
- Xác định trờng hợp suy biến: giá trị của tham số, công thức để
tính toán trong trờng hợp này.
- Xác định trờng hợp tổng quát: giá trị của tham số, công thức để
tính toán trong trờng hợp này.
Bớc 2: Viết khung chơng trình:
VD1: Thiết kế hàm đệ quy tính n!.
Bớc 1:
- Suy biến : n=0 hoặc n = 1; Công thức n! = 1;
- Tổng quát: n khác 0 và n khác 1; Công thức n! = n* (n-1)!.
Bớc 2:
if (n= = 0 || n= = 1)
return 1;
else
return n * GT(n-1);
Sau khi thiết kế, việc lập hàm đệ quy trở lên rất đơn giản.
VD2. Dãy số Catalan đợc phát biểu đệ quy nh sau:
C
1
= 1;
C
n
=


=

1
1
n
i
ini
CC
Hãy xây dựng hàm đệ quy tìm số CataLan thứ n.
Hàm đệ quy đợc thiết kế nh sau:
Bớc 1:
- Suy biến: n = 1; Công thức suy biến: C
n
= 1;
Biên soạn: Nguyễn Mạnh Cờng Trang
1
4
if (suy biến)
Công thức trong trờng hợp suy biến.
else
Công thức trong trờng hợp tổng quát.

Mạng máy tính -P4

I. Lch s mng mỏy tớnh
Trong những năm 70, các máy tính đợc nối với nhau trực tiếp
thành mạng, đồng thời tại thời điểm này xuất hiện kháI niệm Mạng
truyền thông (communication network), trong đó các thành phần
chính của nó là các nút mạng, đợc gọi là các bộ chuyển mạch.
Từ thập kỷ 80 trở đi thì việc kết nối mạng mới đợc thực hiện rộng
rãi nhờ tỷ lệ giữa giá thành máy tính và chi phí truyền tin đã giảm đi
rõ rệt. Trong gian đoạn này bắt đầu xuất hiện những thử nghiệm
đầu tiên về mạng diện rộng và mạng liên quốc gia.
I. Lch s mng mỏy tớnh
Vo gia thp niờn 1980,ngi s dng dựng cỏc mỏy tớnh
c lp bt u chia s cỏc tp tin bng cỏch dựng modem
kt ni vi cỏc mỏy tớnh khỏc. Cỏch thc ny c gi l
im ni im, hay truyn theo kiu quay s. Khỏi nim ny
c m rng bng cỏch dựng cỏc mỏy tinh l trung tõm
truyn tin trong mt kt niquays. Cỏc mỏy tớnh ny c
gi l sn thụng bỏo (bulletin board). Cỏc ngi dựng kt
ni n sn thụng bỏo ny, li úhayly i cỏc thụng
ip, cng nh gi lờn hay ti v cỏc tptin.Hn ch ca h
thng l cú rt ớt hng truyntin,v ch vi nhng ai bit
v sn thụng bỏo ú. Ngoi ra, cỏc mỏy tớnh ti sn thụng
bỏo cn mt modem cho mi kt ni, khi s lng kt ni
tng lờn, h thng khụng th ỏp ng c nhu cu.
I. Lch s mng mỏy tớnh
Qua cỏc thp niờn 1950, 1970, 1980 v 1990, B Quc
phũng Hoa K ó phỏt trin cỏc mng din rng WAN tin
cy nhm mc ớch quõn s v khoa hc. Cụng ngh ny
khỏc truyn tin im ni im. Nú cho phộp nhiu mỏy tớnh
kt ni li vi nhau bng cỏc ng dn khỏc nhau. Bn thõn
mng s xỏc nh d liu di chuyn t mỏy tớnh ny n mỏy
tớnh khỏc nh th no. Thay vỡ ch cú th thụng tin vi mt
mỏy tớnh ti mt thi im, nú cú th thụng tin vi nhiu
mỏy tớnh cựng lỳc bng cựng mt kt ni. WAN caB
Quc phũng Hoa K v sau tr thnh Internet.
Mc tiờu
- Làm cho các tài nguyên có giá trị cao (thiết bị, chơng
trình, dữ liệu,) trở nên khả dụng đối với bất kỳ ngời sử
dụng nào trên mạng (không cần quan tâm đến vị trí địa lý
của tài nguyên và ngời sử dụng).
- Tăng độ tin cậy của hệ thống nhờ khả năng thay thế khi
xảy ra sự cố đối với một máy tính nào đó.
Mc tiờu
Trong cỏc t chc: Trc khi cú mng, trong cỏc t chc,
mi ni u phi cú ch lu tr d liu riờng, cỏc thụng tin
trong ni b s khú c cp nht kp thi; mt ng dng
ni ny khụng th chia s cho ni khỏc. Vi mt h thng
mng ngi ta cú th:
1. Chia s cỏc ti nguyờn: Cỏc ng dng, kho d liu v cỏc ti
nguyờn khỏc nh sc mnh ca cỏc CPU c dựng chung
v chia s thỡ c h thng mỏy tớnh s lm vic hu hiu hn.
2. tin cy v s an ton ca thụng tin cao hn. Thụng tin
c cp nht theo thi gian thc, do ú chớnh xỏc hn. Mt
khi cú mt hay vi mỏy tớnh b hng thỡ cỏc mỏy cũn li vn
cú kh nng hot ng v cung cp dch v khụng gõy ỏch
tc.
Mc tiờu
3. Tit kim: qua k thut mng ngi ta cú th tn dng kh
nng ca h thng, chuyờn mụn hoỏ cỏc mỏy tớnh, v do ú
phc v a dng hoỏ hn.
Vớ d: H thng mng cú th cung cp dch v sut ngy v
nhiu ni cú th dựng cựng mt chng trỡnh ng dng,
chia nhau cựng mt c s d liu v v cỏc mỏy in, do dú
tit kim c rt nhiu.Ngoi ra, khi to mng, ngi ch
ch cn u t mt hoc vi mỏy tớnh cú kh nng hot
ng cao lm mỏy ch cung cp cỏc dch v chớnh yu
v a s cũn li l cỏc mỏy khỏch dựng chy cỏc ng
dng thụng thng v khai thỏc hay yờu cu cỏc dch v
m mỏy ch cung cp. Mt h thng nh vy gi l mng
cú kiu khỏch-ch (client-server model).
Mc tiờu
Cỏc mỏy dựng ni vo mỏy ch l mỏy trm (work-
station). Tuy nhiờn, cỏc mỏy trm vn cú th hot
ng c lp m khụng cn n cỏc dch v cung
cp t mỏy ch.
Mng mỏy tớnh cũn l mt phng tin thụng tin mnh
v hu hiu gia cỏc cng s trong t chc.
Mc tiờu
Cho nhiu ngi: H thng mng cung cp nhiu tin li
cho s truyn thụng tin trong cỏc mi quan h ngi vi
ngi nh l:
1. Cung cp thụng tin t xa gia cỏc cỏ nhõn
2. Liờn lc trc tip v riờng t gia cỏc cỏ nhõn vi nhau
3. Lm phng tin gii trớ chung nhau: nh cỏc trũ chi, cỏc
thỳ tiờu khin, chia s phim nh, vv qua mng.
Cỏc ng dng quan trng hin ti qua mng l: th in t, hi
ngh truyn hỡnh (video conference), in thoi Internet,giao
dch v lp hc o(e-learning hay virtual class), dch v tỡm
kim thụng tin qua cỏc mỏy truy tỡm
, vv.
Cỏc vn cn gii quyt
Lm dng h thng mng lm iu phi phỏp hay thiu o
c: Cỏc t chc buụn ngi, xxx, lng gt, hay ti phm
qua mng, t chctintc n cp ti sn ca cụng dõn v
cỏc c quan, t chc khng b,
Mng cng ln thỡ nguy c lan truyn cỏc phn mm ỏc tớnh
cng d xy ra.
H thng buụn bỏn tr nờn khú kim soỏt hn nhng cng
to iu kin cho cnh tranh gay gt hn.
Cỏc vn cn gii quyt
Mt vn ny sinh l xỏc nh biờn gii gia vic kim
soỏt nhõn viờn lm cụng v quyn t hu ca h. (Ch thỡ
mun ton quyn kim soỏt cỏc in th hay cỏc cuc trũ
chuyn trc tuyn nhng iu ny cú th vi phm nghiờm
trng quyn cỏ nhõn).
Vn giỏo dc thanh thiu niờn cng tr nờn khú khn
hn vỡ cỏc em cú th tham gia vo cỏc vic trờn mng m
cha m khú kim soỏt ni.
Hn bao gi ht vi phng tin thụng tin nhanh chúng thỡ
s t do ngụn lunhaylm dng quyn ngụn lun cng cú
th nh hng sõu rng hn trc õy nh l cỏc trng
hp ca cỏc phn mm qung cỏo
(adware) v cỏc th rỏc
(spam mail).

Xem chi tiết: Mạng máy tính -P4


Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Hoàn thiện chế độ tính khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp Việt Nam

Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
2. Phân loại và đánh giá TSCĐ.
2.1. Phân loại TSCĐ.
TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại, tính năng công dụng khác nhau, sử dụng
vào nhiều lĩnh vực đầu t, kinh doanh khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý và
hạch toán TSCĐ, cần phân loại TSCĐ theo những tiêu thức phù hợp
2.1.1. Phân loại TSCĐ theo hình thái vật chất gồm 2 loại:
TSCĐ hữu hình: là TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, thuộc loại này gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Bao gồm nhà làm việc, nhà kho, nhà ở, xởng sản xuất, cửa
hàng, ga để xe, bể chứa, cầu cống, đờng xá
- Máy móc thiết bị: gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh
- Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: ôtô, máy kéo, hệ thống đờng ống dẫn nớc,
dẫn hơi, hệ thống dây dẫn điện thuộc tài sản của doanh nghiệp.
- Thiết bị dụng cụ quản lí: bao gồm thiết bị dụng cụ sử dụng trong quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính, dụng cụ đo lờng, thí nghiệm
- Vờn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm.
- TSCĐ hữu hình khác nh: gồm các loại cha đợc xếp vào các loại TSCĐ kể trên (sách
chuyên môn kỹ thuật, tác phẩm nghệ thuật ).
TSCĐ vô hình: là các TSCĐ không có hình thái vật chất nhng có giá trị kinh tế
lớn, thuộc về TSCĐ vô hình gồm có:
- Quyền sử dụng đất có thời hạn;
- Nhãn hiệu hàng hoá;
- Quyền phát hành;
- Phần mềm máy vi tính;
- Giấy phép và giấy phép nhợng quyền;
- Bản quyền, bằng sáng chế;
- Công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và vật mẫu;
- TSCĐ vô hình đang triển khai.
Phơng pháp phân loại TSCĐ theo hình thái vật chất sẽ giúp cho ngời quản lí có một
nhãn quan tổng quát về cơ cấu đầu t của doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để xây
dựng các quyết định đầu t hoặc điều chỉnh phơng hớng đầu t cho phù hợp với thực tế. Mặt
khác, nhà quản lý có thể dùng phơng pháp phân loại này để đề ra biện pháp quản lý tài
sản, quản lý vốn, tính toán khấu hao chính xác hợp lý.
2.1.2. Theo quyền sở hữu, TSCĐ đợc chia thành 2 loại:
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
5
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
- TSCĐ tự có là các TSCĐ đợc xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân
sách Nhà nớc cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của
doanh nghiệp và các TSCĐ đơc tặng biếu
- TSCĐ thuê ngoài là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo
hợp đồng đã ký kết. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê
chia thành:
+ TSCĐ thuê tài chính: là các TSCĐ đi thuê nhng doanh nghiệp có quyền sử dụng và
kiểm soát theo đúng các điều khoản của hợp đồng thuê, TSCĐ thuê tài chính coi nh
TSCĐ của doanh nghiệp và phản ánh trên bảng cân đối kế toán của đơn vị.
+ TSCĐ thuê hoạt động: là các TSCĐ thuê không thoả mãn bất cứ điều khoản nào
của hợp đồng thuê TSCĐ tài chính. Bên đi thuê chỉ đợc quản lý, sử dụng trong thời
hạn hợp đồng và phải hoàn trả khi kết thúc hợp đồng.
Phân loại TSCĐ thuê quyền sở hữu giúp cho việc quản lý và tổ chức hạch toán TSCĐ
đợc chặt chẽ, chính xác, và sử dụng TSCĐ có hiệu quả cao nhất.
2.1.3. Theo nguồn hình thành, TSCĐ đợc phân thành:
+ TSCĐ đợc mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn nhà nớc cấp.
+ TSCĐ đợc mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay.
+ TSCĐ đợc mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung.
+ TSCĐ nhận liên doanh, liên kết với đơn vị khác.
Cách phân loại này giúp cho ngời sử dụng phân biệt đợc quyền - nghĩa vụ của đơn vị
trong quản lý TSCĐ, giúp ra quyết định sử dụng nguồn vốn khấu hao một cách hợp lý.
2.1.4. Theo công dụng và tình hình sử dụng, TSCĐ đợc phân thành:
TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh: Đây là TSCĐ đang thực tế sử dụng trong các
hoạt động sản xuất - kinh doanh của đơn vị. Những TSCĐ này bắt buộc phải trích khấu
hao tính vào chi phí sản xuất - kinh doanh.
TSCĐ hành chính sự nghiệp: là TSCĐ của các đơn vị hành chính sự nghiệp (đoàn thể
quần chúng, tổ chức y tế, văn hoá ).
TSCĐ phúc lợi: là những TSCĐ của đơn vị dùng cho nhu cầu phúc lợi công cộng nh:
nhà văn hoá, nhà trẻ, câu lạc bộ, xe ca phúc lợi
TSCĐ chờ sử lí: gồm những TSCĐ không cần dùng, cha cần dùng vì thừa so với nhu
cầu sử dụng hoặc vì không thích hợp với sự đổi mới quy trình công nghệ, bị h hỏng chờ
thanh lý, TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết. Những TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu
hồi vốn sử dụng cho việc đầu t đổi mới TSCĐ.
Dựa vào cách phân loại này, có thể tiến hành phân tích hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp thông qua việc phân tích kết cấu TSCĐ ở doanh nghiệp. Kết quả phân tích thể
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
6
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
hiện: kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp có hợp lý không? Phơng hớng đầu t và trọng điểm
quản lý TSCĐ của doanh nghiệp?
Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một
loại TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định. Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp biến động khác nhau giữa các kỳ khác
nhau do chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố nh quy mô sản xuất, khả năng thu hút vốn đầu t,
khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản
xuất. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu
TSCĐ là một việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
Phân loại TSCĐ góp phần quan trọng trong quản lý tài sản cũng nh việc tổ chức hạch
toán TSCĐ đợc nhanh chóng, chính xác, từ đó cung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản lý
nhằm cải tiến, thay đổi TSCĐ theo kịp sự phát triển của công nghệ. Tuỳ quy mô, cách thức
tổ chức quản lý mỗi doanh nghiệp có thể phân loại chi tiết hơn để tiện quản lý.
2.2. Đánh giá TSCĐ.
Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc nhất
định. Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để hạch toán TSCĐ, trích khấu hao va phân
tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản
lý TSCĐ trong qua trình sử dụng TSCĐ đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại
2.2.1. Xác định nguyên giá:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, nguyên giá TSCĐ đợc xác định nh sau:
Xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình mua sắm:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồm giá mua (trừ (-) các khoản đợc chiết
khấu thơng mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế đợc hoàn
lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng,
nh: Chi phí chuẩn bị mặt bằng; Chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu; Chi phí lắp đặt,
chạy thử (trừ (-) các khoản thu hồi về phế phẩm, phế liệu do chạy thử; Chi phí chuyên gia
và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu t xây dựng theo phơng thức giao thầu:
nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu t xây dựng, các chi phí liên quan trực tiếp
khác và lệ phí trớc bạ (nếu có ).
Trờng hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng
đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng biệt và ghi nhận là TSCĐ vô hình.
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
7
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Trờng hợp TSCĐ hữu hình mua sắm đợc thanh toán theo phơng thức trả chậm: nguyên
giá TSCĐ đó đợc phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch
giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay đợc hạch toán vào chi phí theo kỳ
hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó đợc tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình (vốn hoá
) theo quy định của chuẩn mực kế toán Chi phí đi vay.
TSCĐ hữu hình tự xây hoặc tự chế.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây
hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt chạy thử. Trờng hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do
mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó
cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Trong các trờng hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không đợc tính vào nguyên giá của các tài
sản đó. Các chi phí không hợp lí, nh nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động hoặc các
khoản chi phí khác sử dụng vợt quá mức bình thờng trong quá trình tự xây dựng hoặc tự
chế không đợc tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình thuê tài chính.
Trờng hợp đi thuê TSCĐ hữu hình theo hình thức thuê tài chính, nguyên giá TSCĐ đ-
ợc xác định theo qui định của chuẩn mực kế toán thuê tài sản.
TSCĐ hữu hình mua dới hình thức trao đổi.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình
không tơng tự hoặc tài sản khác đợc xác định theo giá trị hợp lí của TSCĐ hữu hình nhận
về, hoặc giá trị hợp lí của tài sản đem đi trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc t-
ơng đơng tiền trả thêm hoặc thu về.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tơng
tự hoặc có thể hình thành do đợc bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tơng tự. Nguyên
giá TSCĐ nhận về đợc tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi và không có bất kỳ
khoản lãi - lỗ nào đợc ghi nhận trong quá trình trao đổi.
TSCĐ hữu hình tăng từ các nguồn khác.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình đơc tài trợ, đợc tặng biếu, đợc ghi nhận ban đầu theo giá
trị hợp lí ban đầu. Trờng hợp không ghi nhận theo giá trị hợp lí ban đầu thì doanh nghiệp
ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đa tài sản
vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Xác định nguyên giá TSCĐ vô hình.
Mua TSCĐ vô hình riêng biệt
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua riêng biệt, gồm giá mua (trừ (-)các khoản đợc chiết
khấu thơng mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không gồm các khoản thuế đợc hoàn lại)
và các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đa tài sản vào sử dụng theo dự tính.
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
8
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Trờng hợp TSCĐ vô hình mua sắm đợc thanh toán theo phơng thức trả chậm, nguyên
giá của TSCĐ vô hình đợc phản ảnh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản
chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay đợc hạch toán vào chi phí
sản xuất, kinh doanh theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó đợc tính vào TSCĐ
vô hình (vốn hoá) theo qui định của chuẩn mực kế toán chi phí đi vay.
Nếu TSCĐ vô hình hình thành từ việc trao đổi thanh toán bằng chứng từ liên quan
đến quyền sở hữu vốn của đơn vị, nguyên giá TSCĐ vô hình là giá trị hợp lí của các chứng
từ đợc phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn.
Mua TSCĐ vô hình từ việc sáp nhập doanh nghiệp.
Nguyên giá TSCĐ vô hình hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính
chất mua lại là giá trị hợp lí của TSCĐ đó vào ngày mua ( ngày sáp nhập doanh nghiệp ).
Giá trị hợp lí có thể là:
- Giá niêm yết tại thị trờng hoạt động;
- Giá của nghiệp vụ mua bán TSCĐ vô hình tơng tự.
Nếu không có thị trờng hoạt động cho tài sản thì nguyên giá của TSCĐ vô hình đợc
xác định bằng khoản tiền mà doanh nghiệp lẽ ra phải trả vào ngày mua tài sản trong điều
kiện nghiệp vụ đó đợc thực hiện trên cơ sở khách quan dựa trên các thông tin tin cậy hiện
có. Trờng hợp này doanh nghiệp cần cân nhắc kết quả của các nghiệp vụ đó trong mối
quan hệ tơng quan với các tài sản tơng tự.
Khi không có thị trờng hoạt động cho TSCĐ vô hình đợc mua thông qua việc sáp
nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại, thì nguyên giá TSCĐ vô hình là giá trị mà tại đó
không tạo ra lợi thế thơng mại có giá trị âm phát sinh vào ngày sáp nhập doanh nghiệp.
TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn.
Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn khi đợc giao đất hoặc số
tiền khi đợc chuyển nhợng quyền sử dụng đất hợp pháp từ ngời khác, hoặc giá trị quyền sử
dụng đất nhận góp vốn liên doanh.
TSCĐ vô hình đợc nhà nớc cấp hoặc đợc tặng, biếu.
Nguyên giá TSCĐ vô hình đợc nhà nớc cấp, tặng, biếu, đợc xác định theo giá trị hợp
lí ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đa tài sản vào sử dụng theo dự
tính.
TSCĐ vô hình mua dới hình thức trao đổi.
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua dới hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình không
tơng tự hoặc tài sản khác đợc xác định theo giá trị hợp lí của TSCĐ vô hình nhận về hoặc
bằng giá trị hợp lí của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tơng đ-
ơng tiền trả thêm hoặc thu về.
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
9
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua dới hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình tơng tự,
hoặc có thể hình thành do nhợng bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tơng tự (tài sản
tơng tự là tài sản có công dụng tơng tự, trong cùng lĩnh vức kinh doanh và có giá trị tơng
đơng). Trong cả hai trờng hợp không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào đợc ghi nhận trong
quá trình trao đổi. Nguyên giá TSCĐ vô hình nhận về đợc tính bằng giá trị còn lại của
TSCĐ vô hình đem trao đổi.
TSCĐ vô hình đợc tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp.
Nguyên giá TSCĐ vô hình đợc tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp gồm tất cả các chi phí
liên quan trực tiếp hoặc đợc phân bổ theo tiêu thức hợp lí và nhất quán từ các khâu thiết
kế, xây dựng, sản xuất thử nghiệm đến chuẩn bị đa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính.
Nguyên giá TSCĐ vô hình đợc tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp bao gồm :
+ Chi phí nguyên - vật liệu hoặc dịch vụ đã sử dụng trong việc tạo ra TSCĐ vô hình;
+ Tiền lơng, tiền công và các chi phí khác liên quan đến việc thuê nhân viên trực
tiếp tham gia vào việc tạo ra tài sản đó.
+ Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc tạo ra tài sản, nh chi phí đăng ký
quyền pháp lý, khấu hao bằng sáng chế phát minh và giấy phép đợc sử dụng để tạo
ra tài sản đó;
+ Chi phí sản xuất chung phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán vào tài sản (ví
dụ: phân bổ khấu hao nhà xởng, thiết bị, phí bảo hiểm ).
2.2.2. Xác định giá trị hao mòn của TSCĐ.
Khấu hao: là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của tài sản đó
vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, trong suốt thời gian sử dụng hữu ích cả tài sản.
Số khấu hao luỹ kế của TSCĐ: là tổng số khấu hao đã trích vào chi phí kinh doanh
qua các thời kỳ kinh doanh của TSCĐ tính đến thời điểm xác định.
Giá trị hao mòn TSCĐ là khoản chi phí đợc trích định kỳ ( hàng tháng, hàng quý)
vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để hình thành một nguồn vốn nhằm tái đầu t lại
TSCĐ do quá trình sử dụng nó bị hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình.
Khi xác định đợc nguyên giá và giá trị hao mòn của TSCĐ, kế toán sẽ xác định đợc
giá trị còn lại của TSCĐ.
2.2.3. Giá trị còn lại của TSCĐ.
Giá trị còn lại của TSCĐ là số vốn đầu t hiện còn trong tài sản ở một thời điểm nhất
định, nó là căn cứ để lập kế hoạch tăng cờng đổi mới tài sản. Đợc xác định:
Giá trị còn lại trên sổ
kế toán của TSCĐ
=
Nguyên giá
TSCĐ
-
Số khấu hao luỹ
kế của TSCĐ
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
10
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Cần phân biệt giữa giá trị còn lại của TSCĐ trên sổ sách và giá trị còn lại thực của
TSCĐ. Giá trị còn lại thực của TSCĐ là giá trị thị trờng của tài sản vào thời điểm đánh giá.
Và đợc ghi nhận theo công thức:
NG
1
=
NG
0
*
H
1
*
H
0
Với: NG
1
Nguyên giá đánh giá lại
NG
0
Nguyên giá ban đầu
H
1
Hệ số trợt giá
H
0
Hệ số hao mòn vô hình
Hệ số trợt giá bình quân sẽ do cơ quan tài chính của Bộ chủ quản xác định cuối mỗi
năm, từ đó có thể xác định đợc giá trị còn lại của TSCĐ.
G
CL
= NG
1
* ( 1 - M
KH
/ NG
0
)
Với: G
CL
Giá trị còn lại của TSCĐ tơng ứng với nguyên giá đánh giá lại.
M
KH
Tổng khấu hao TSCĐ cho tới thời điểm đánh giá lại.
Nh vậy bên cạnh việc theo dõi giá trị còn lại trên sổ sách, quản lý còn cần phải theo
dõi giá trị còn lại thực của TSCĐ để có thể đa ra các quyết định thanh lý nâng cấp hoặc
đầu t mới TSCĐ. Tuy nhiên, giá trị còn lại cũng có nhợc điểm ở chỗ không phản ánh đợc
phần vốn mà ta thu hồi đợc.
Qua phân tích trên, ta thấy mỗi loạigiá trị có tác dụng phản ánh nhất định nhng kèm
theo còn có những mặt hạn chế. Vì vậy, kế toán TSCĐ phải theo dõi cả ba loại: giá trị ban
đầu, giá trị hao mòn, giá trị còn lại và định kỳ đánh giá lại TSCĐ không chỉ là cần thiết
mà còn là bắt buộc phục vụ cho yêu cầu quản lý TSCĐ: Để tính trích khấu hao chính xác,
bảo đảm hoàn lại đầy đủ vốn đầu t và phân tích đợc hiệu quả sử dụng vốn cố định trong
doanh nghiệp. Có thể nói việc đánh giá lại TSCĐ là bớc khởi đầu quan trọng trong công
tác hạch toán TSCĐ ở doanh nghiệp.
3. Yêu cầu, nhiệm vụ hạch toán kế toán TSCĐ.
3.1. Yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp.
Quản lý là một qua trình định hớng và tổ chức thực hiện các hớng đã định trên cơ sở
những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Yêu cầu quản lý TSCĐ đó là:
Phải quản lý TSCĐ nh là một yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, góp phần
tạo ra năng lự sản xuất đơn vị. Do đó kế toán phải cung cấp thông tin về số lợng TSCĐ
hiện có tại đơn vị, tình hình biến động tăng, giảm của TSCĐ trong đơn vị.
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
11
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Phải quản lý TSCĐ nh là một bộ phận vốn cơ bản, đầu t dài hạn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, có tốc độ chu chuyển chậm tính bằng nhiều năm tài chính, có độ rủi
ro lớn. Vì vậy, kế toán phải cung cấp những thông tin về các loại vốn đã đầu t cho tài sản
và chi tiết vốn đầu t cho chủ sở hữu phải biết đợc nhu cầu vốn cần thiết để đầu t mới cũng
nh để sửa chữa TSCĐ.
Phải quản lý phần giá trị TSCĐ đã sử dụng nh là một bộ phận chi phí của sản xuất
kinh doanh. Do đó, yêu cầu kế toán phải tính đúng, tính đủ mức khấu hao trích tuỳ từng
kỳ kinh doanh theo hai mục đích: Thu hồi đợc vốn đầu t hợp lý và đảm bảo khả năng bù
đắp đợc chi phí.
Quản lý TSCĐ còn là để bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp không những đảm bảo
cho TSCĐ sống mà là sống có ích cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng tái sản xuất
và có kế hoạch đầu t mới khi cần thiết.
3.2. Nhiệm vụ tổ chức hạch toán kế toán TSCĐ.
TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là đều kiện quan trọng để tăng năng
suất lao động và phát triển nền kinh tế quốc dân nên cần sự tăng thêm và đổi mới không
ngừng. Điều đó có tác dụng quyết định đến yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lí và
sử dụng TSCĐ. Mỗi ngành, mỗi địa phơng cũng nh từng doanh nghiệp phải đề cao trách
nhiệm làm chủ các nguồn vốn, bảo tồn và bảo vệ an toàn triệt để, hiệu quả cao mọi TSCĐ
hiện có nhằm nâng cao chất lợng, hạ giá thành sản phẩm và giữ vững đợc thị trờng, đủ sức
để cạnh tranh với doanh nghiệp khác. Hơn nữa, kế toán TSCĐ rất phức tạp vì các nghiệp
vụ về TSCĐ rất nhiều và thờng có qui mô lớn, thời gian phát sinh dài nh: mua sắm, xây
dựng, khấu hao, sửa chữa, thanh lý Thêm vào đó, yêu cầu về quản lý TSCĐ rất cao. Để
đảm bảo ghi chép kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và cung cấp những
thông tin hữu hiệu nhất cho quản lý thì cần phải tổ chức hạch toán TSCĐ một cách khoa
học, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của kế toán. Có thể
nói tổ chức hạch toán TSCĐ là rất cần thiết. Xuất phát từ đặc điểm , vị trí và vai trò của
TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, kế toán TSCĐ phải đảm bảo thực hiện :
Ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác kịp thời số lợng, giá trị TSCĐ hiện có,
tình hình tăng giảm và hiện trạng TSCĐ trong phạm vi toàn đơn vị, cũng nh tại từng bộ
phận sử dụng TSCĐ, tạo điều kiện cung cấp thông tin để kiểm tra, giám sát thờng xuyên
việc giữ gìn bảo quản, bảo dỡng TSCĐ và kế hoạch đầu t đổi mới TSCĐ.
Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ và chi phí sản xuất kinh
doanh theo mức độ hao mòn của tài sản và chế độ quy định.
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
12
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, giám sát việc
sửa chữa TSCĐ về chi phí kết quả của công việc sửa chữa.
Tính toán kịp thời, chính xác tình hình xây dựng trang bị thêm, đổi mới nâng cấp,
tháo dỡ bớt làm tăng giảm nguyên giá TSCĐ cũng nh tình hình quản lý, nhợng bán.
Hớng dẫn, kiểm tra các đơn vị, các bộ phận phụ thuộc trong doanh nghiệp thực
hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về TSCĐ, mở các sổ, thẻ kế toán cần thiết và hạch
toán TSCĐ đúng nh chế độ qui định.
Tham gia kiểm tra đánh giá lại TSCĐ theo qui định của nhà nớc và yêu cầu bảo
quản vốn, tiến hành phân tích tình hình trang thiết bị, huy động bảo quản, sử dụng TSCĐ
tại đơn vị.
II. Tổ chức hạch toán kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp
1. Hạch toán chi tiết TSCĐ.
1.1. Tổ chức chứng từ kế toán TSCĐ.
Chứng từ kế toán là cơ sở để ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán, đồng thời, chứng từ
giúp các nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát các biến động tài sản. Theo hệ thống kế toán
hiện hành, các chứng từ ban đầu về kế toán TSCĐ bao gồm:
Chứng từ mệnh lệnh: là những chứng từ để chứng minh sự thay đổi TSCĐ trong đơn
vị. Bao gồm các quyết định đầu t, các quyết định điều động tài sản, các quyết định về
thanh lý hoặc bán tài sản, quyết định về đánh giá hoặc kiểm kê tài sản.
Chứng từ thực hiện:
Biên bản giao nhận TSCĐ ( mẫu 01 TSCĐ/ BB).
Biên bản thanh lý TSCĐ (mẫu số 03 TSCĐ/ BB).
Biên bản giao nhận sửa chữa lớn hoàn thành (mẫu 04 TSCĐ/ HD).
Biên bản đánh giá lại TSCĐ (mẫu 05 TSCĐ/ HD).
Thẻ TSCĐ ( mẫu 02 TSCĐ ).
Ngoài các chứng từ chính trên còn thêm một số chứng từ khác tuỳ theo từng trờng
hợp. Bên cạnh việc sử dụng chứng từ để chứng minh cho các nghiệp vụ phát sinh có liên
quan đến TSCĐ, quản lý TSCĐ còn phải dựa trên cơ sở các bộ hồ sơ gồm hồ sơ kỹ thuật
do bộ phận kỹ thuật lập, Hồ sơ kế toán do bộ phận kế toán lập để quản lý nguyên giá,
sử dụng vào đâu và trích khấu hao nh nào.
Qui trình tổ chức chứng từ kế toán TSCĐ.
(4)

Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
13
Thủ trưởng
Kế toán trưởng
Hội đồng
(ban )
Kế toán
TSCĐ
Ra quyết
định về
TSCĐ
Giao nhận
TSCĐ (chứng
từ TSCĐ )
Lập thẻ, huỷ
thẻ, bảng tính
khấu hao, ghi
sổ kế toán
Nghiệp vụ
TSCĐ
Lưu hồ sơ
kế toán
Gvhd: pgs.TS nguyễn thị đông luận văn tốt nghiệp
(1) (2) (3)
(4)
1.2. Tổ chức hạch toán chi tiết TSCĐ.
Để thuận lợi cho việc quản lý TSCĐ đợc chi tiết, chính xác và cung cấp các thông tin
kịp thời cho quản lý đòi hỏi phải hạch toán chi tiết TSCĐ. Hạch toán chi tiết TSCĐ đợc
tiến hành căn cứ vào các chứng từ về tăng, giảm TSCĐ, khấu hao TSCĐ và các chứng từ
gốc có liên quan.
Nội dung chính của hạch toán chi tiết TSCĐ bao gồm:
1.2.1. Đánh số TSCĐ.
Là qui định cho mỗi TSCĐ một số hiệu tơng ứng theo những nguyên tắc nhất định.
Việc đánh số TSCĐ đợc tiến hành theo từng đối tợng TSCĐ (đối tợng ghi TSCĐ ). Mỗi đối
tợng ghi TSCĐ không phân biệt đang sử dụng hay dự trữ đều phải có số hiệu riêng. Số
hiệu của mỗi đối tợng ghi TSCĐ không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng.
1.2.2. Tổ chức kế toán chi tiết.
Tại phòng kế toán, kế toán chi tiết TSCĐ đợc thực hiện trên thẻ TSCĐ. Thẻ TSCĐ
dùng để theo dõi chi tiết từng TSCĐ của đơn vị, tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị
hao mòn đã trích hàng năm của từng TSCĐ. Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập cho từng đối
tợng ghi TSCĐ. Thẻ TSCĐ đợc lu giữ ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng. Để
tổng hợp theo từng loại, từng nhóm TSCĐ kế toán còn sử dụng sổ TSCĐ :
H ớng 1 : có thể mở trên cùng một sổ theo dõi cả loại tài sản và nơi sử dụng TSCĐ. Sổ
này thờng áp dụng ở đơn vị có ít loại TSCĐ và có tính chuyên dùng theo bộ phận:
Sổ chi tiết TSCĐ
Năm: Loại TSCĐ:
Bộ phận sử dụng:
S
T
T
Ghi tăng TSCĐ Khấu hao TSCĐ Ghi giảm TSCĐ
Chứng
từ
SH NT
Tên
nớc
đặc
điểm
Nớc
sản
xuất
Thời
gian đa
vào sử
dụng
Số
hiệu
TSCĐ
Khấu hao
NG
TSCĐ
%
khấu
hao
Mức
khấu
hao
Luỹ kế
KH tới
ngày
thanh lý
Chứng
từ
SH NT
Lý do
giảm
TSCĐ
1
2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
H ớng 2 : Tách mẫu sổ trên thành hai loại sổ chi tiết
Sổ chi tiết theo loại TSCĐ đợc thiết kế giống nh trên. và Sổ chi tiết theo bộ phận sử
dụng: chỉ theo dõi nguyên giá tăng, giảm không theo dõi hao mòn và giá trị còn lại:
Sổ tài sản sản theo đơn vị sử dụng
Hà Thị Lê Dung Kế toán 41B
14

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay" docx


4
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân
công trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao
động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người
làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu
cu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v
Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không x
ảy ra và
người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi
xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn
mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới
thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt
đến đời sống kinh tế xã h
ội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra
can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm
tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và
giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được
tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với
người làm thuê. Số tiền đóng góp của c
ả chủ và thợ hình thành
một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn
được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo
đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao
động và
gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy
mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn
quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng.
Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm
bảo.
Toàn bộ những hoạt
động với những mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao
động. Như vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách

5
quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc
gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia
BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động và
được thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan.
2. Quá trình phát triển của BHXH
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển chính sách về
BHXH trên thế giới
BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính
xã hội từ đầ
u thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm được
hình thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi "Luật nhà máy" và tập
trung vào bảo hiểm cho người lao động làm việc trong các xưởng
thợ. Vào năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng
tại Đức, một số các luật khác được hình thành, sau đó chẳng hạn
luật tai nạn lao động hình thành năm 1884; luật bả
o hiểm người
già và tàn tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH
được thực hiện trên rất nhiều nước và trở thành một bộ phận quan
trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn
nhất thế giới hiện nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông
qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 có ghi: "Tất cả mọi người, với tư
cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng BHXH. Quyền đ
ó
đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá
cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người" Để thể chế
hoá tinh thần đó, tổ chức lao động quốc tế ILO (một tổ chức cơ
cấu trong liên hợp quốc) đã đưa ra Công ước 102 quy định về tiêu
chuẩn tối thiểu của BHXH và những khuyến nghị các nước thành
viên về việc thự
c hiện các tiêu chuẩn này.
2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách
BHXH ở Việt Nam
Như ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai
trị, bọn thực dân Pháp hầu như không đề ra được những gì để bảo
vệ các quyền cơ bản của con người. Không thực hiện được chế độ

6
chính sách về BHXH đối với người lao động Việt Nam. Ngay sau
cách mạng tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt
các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu
trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày
12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL
ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể
hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta
đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH.
Quyền này được cụ thể hoá trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối
với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định
218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành
kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt
trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách
BHXH nước ta
đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc
sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp
phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạ
ch hoá tập trung sang cơ chế thị
trường. Sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi
tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH
nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: "Nhà nước thực hiện
chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn
lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với
người lao động". Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng c
ộng sản
Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo
hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành
phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách
quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ VIII cũng đã nêu lên "Mở rộng chế độ BHXH đối với
người lao động thuộc các thành phầ
n kinh tế". Như vậy, các văn

7
bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị
trường. Ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày
1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày
26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các
thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực
hiện mục tiêu c
ủa Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần thực hiện
công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị
trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của
đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả
nước.
II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA BHXH
1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan
trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế
hoá và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các
nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả
năng làm việc.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ
bị mất hoặc giảm khoản
thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động
hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình
thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của
người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an
toàn xã hội". Chính vì v
ậy, đối tượng của BHXH chính là thu
nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người
lao động tham gia BHXH.
Đồi tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử
dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội

8
cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận
những người lao động nào đó.
Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định
bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người
lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà
nước, nhằm trợ
cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết
tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết.
Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản
lý phí được hình thành từ đóng góp của ng
ười lao động, chủ sử
dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước.
Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ để tồn tại và phát triển.
Mục đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất cho
người bảo hiểm khi gặp rủi ro đã được quy định trong luật.
2. Những nguyên tắc của BHXH
2.1. BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội để
người lao động có
thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời
(ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v ).
Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm.
Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này
được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế
độ BHXH). Mứ
c bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng
đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên
tắc này, BHXH lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực
tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia
vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi).
2.2. BHXH v
ừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời
gian mức đóng bảo hiểm v.v ). Như vậy, Nhà nước đóng vai trò
tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động

9
hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan
hệ về BHXH. Điều này được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động
và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý
nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo
hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển
của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhấ
t
định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện để phát triển
và mở rộng hơn.
2.3. Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH
Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên
quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng
chế độ BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng
định kỳ (hàng tháng), mứ
c thời gian tối thiểu để tham gia và được
hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết
kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân,
quảng đời lao động v.v Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính
đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng.
Nguyên tắc này liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng
quỹ
BHXH, và khuyến khích người lao động và các tầng lớp xã
hội tham gia.
2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người
lao động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ
chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có
thể xảy ra, thậm trí mang tính thường xuyên. Sự
thay đổi nơI làm
việc và thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v…
tạo ra những giai đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá
trình làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về
BHXH. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì
quan hệ một cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống
nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thu
ận tiên

10
cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy
đủ và tích cực hơn. Do vậy, mức tham gia và thời gian thực tế
tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với
người lao động.
2.5. Công bằng trong BHXH
Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp
trong chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong
một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá
trình đó có thể có sự thay đổi di
ễn ra. Mức và thời gian tham gia
của từng người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không
giống nhau. Việc theo rõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn
giản nhất là trong điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có
những khác biệt về đối tượng thành phần và khu vực tham gia ở
nước ta hiện nay. Do vậy đảm bảo công bằng trong BHXH là rất
cần thiết nhưng rất khó đả
m bảo tính tuyệt đối .
Sự công bằng, trước hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa
đóng góp và được hưởng. Điều này được thể hiên trong nội dung
và điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc
độ khác, công bằng còn đặt trongcác quan hệ xã hội giữa những
người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa
bàn, ngành nghề khác nhau v.v… dựa trên nguyên tắc tính xã hội
của bảo hiểm.
Trên đây là những nguyên tắc ph
ải tính đến khi thiết kếvà
thực hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH.
3. Bản chất của BHXH
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu
sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã
hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ
chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triể
n đến
một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa

11
dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của
BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi
nước.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở
quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên
BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là
người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao
động. Bên BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ
quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên
được
BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện
ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý
muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra
không hoàn toàn ng
ẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v Đồng
thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi
gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ
một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này
do bên tham gia BHXH đóng góp là ch
ủ yếu, ngoài ra còn được sự
hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu
nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc
tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để

đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư
và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.

12
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong
những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa
nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng:
"Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền
hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn
các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và
s
ự tự do phát triển con người".
Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách
bảo đảm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có
cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu
nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên trong
xãhội, trong nhưng trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói,
khôngđủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thânvà gia
đình. Sự giúp đỡ này dược thể hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng
của Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật đíng góp của các tổ chức
xã hội và những người hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh
thầ
n của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với
những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã
hội. Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ và thân
nhân liệt sỹ, thương binh,bệnh binh v.v đều là những đối tượng
được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội
tuyệt nhiên không ph
ải là sự bố thí, ban ơn, mà nó là một chính
sách xã hội có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng
cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo
sự công bằng xã hội.
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi,
song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính
sách xã hội không thể thiếu được trong một quốc gia. Nhữ
ng

13
chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và tất cả đề
góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
4. Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động
tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế ho
ặc bù
đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao
động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động
theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất
khả năng lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức
hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời
điểm và thời
hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản
nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ
chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao
động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều
ph
ải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một
số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số
lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số
những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông
bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều
dọc và chiều ngang. Phân phối lại gi
ữa những người lao động có
thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc
với những người ốm yếu phải nghỉ việc v.v Thực hiện chức
năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản
xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động
xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao độ
ng sản xuất, người lao động
được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau,