Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay" docx


4
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân
công trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao
động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người
làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu
cu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v
Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không x
ảy ra và
người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi
xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn
mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới
thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt
đến đời sống kinh tế xã h
ội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra
can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm
tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và
giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được
tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với
người làm thuê. Số tiền đóng góp của c
ả chủ và thợ hình thành
một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn
được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo
đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao
động và
gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy
mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn
quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng.
Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm
bảo.
Toàn bộ những hoạt
động với những mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao
động. Như vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách

5
quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc
gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia
BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động và
được thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan.
2. Quá trình phát triển của BHXH
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển chính sách về
BHXH trên thế giới
BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính
xã hội từ đầ
u thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm được
hình thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi "Luật nhà máy" và tập
trung vào bảo hiểm cho người lao động làm việc trong các xưởng
thợ. Vào năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng
tại Đức, một số các luật khác được hình thành, sau đó chẳng hạn
luật tai nạn lao động hình thành năm 1884; luật bả
o hiểm người
già và tàn tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH
được thực hiện trên rất nhiều nước và trở thành một bộ phận quan
trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn
nhất thế giới hiện nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông
qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 có ghi: "Tất cả mọi người, với tư
cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng BHXH. Quyền đ
ó
đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá
cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người" Để thể chế
hoá tinh thần đó, tổ chức lao động quốc tế ILO (một tổ chức cơ
cấu trong liên hợp quốc) đã đưa ra Công ước 102 quy định về tiêu
chuẩn tối thiểu của BHXH và những khuyến nghị các nước thành
viên về việc thự
c hiện các tiêu chuẩn này.
2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách
BHXH ở Việt Nam
Như ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai
trị, bọn thực dân Pháp hầu như không đề ra được những gì để bảo
vệ các quyền cơ bản của con người. Không thực hiện được chế độ

6
chính sách về BHXH đối với người lao động Việt Nam. Ngay sau
cách mạng tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt
các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu
trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày
12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL
ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể
hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta
đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH.
Quyền này được cụ thể hoá trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối
với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định
218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành
kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt
trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách
BHXH nước ta
đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc
sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp
phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạ
ch hoá tập trung sang cơ chế thị
trường. Sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi
tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH
nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: "Nhà nước thực hiện
chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn
lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với
người lao động". Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng c
ộng sản
Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo
hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành
phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách
quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ VIII cũng đã nêu lên "Mở rộng chế độ BHXH đối với
người lao động thuộc các thành phầ
n kinh tế". Như vậy, các văn

7
bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị
trường. Ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày
1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày
26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các
thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực
hiện mục tiêu c
ủa Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần thực hiện
công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị
trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của
đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả
nước.
II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA BHXH
1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan
trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế
hoá và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các
nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả
năng làm việc.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ
bị mất hoặc giảm khoản
thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động
hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình
thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của
người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an
toàn xã hội". Chính vì v
ậy, đối tượng của BHXH chính là thu
nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người
lao động tham gia BHXH.
Đồi tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử
dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội

8
cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận
những người lao động nào đó.
Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định
bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người
lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà
nước, nhằm trợ
cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết
tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết.
Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản
lý phí được hình thành từ đóng góp của ng
ười lao động, chủ sử
dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước.
Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ để tồn tại và phát triển.
Mục đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất cho
người bảo hiểm khi gặp rủi ro đã được quy định trong luật.
2. Những nguyên tắc của BHXH
2.1. BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội để
người lao động có
thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời
(ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v ).
Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm.
Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này
được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế
độ BHXH). Mứ
c bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng
đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên
tắc này, BHXH lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực
tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia
vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi).
2.2. BHXH v
ừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời
gian mức đóng bảo hiểm v.v ). Như vậy, Nhà nước đóng vai trò
tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động

9
hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan
hệ về BHXH. Điều này được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động
và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý
nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo
hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển
của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhấ
t
định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện để phát triển
và mở rộng hơn.
2.3. Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH
Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên
quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng
chế độ BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng
định kỳ (hàng tháng), mứ
c thời gian tối thiểu để tham gia và được
hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết
kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân,
quảng đời lao động v.v Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính
đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng.
Nguyên tắc này liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng
quỹ
BHXH, và khuyến khích người lao động và các tầng lớp xã
hội tham gia.
2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người
lao động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ
chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có
thể xảy ra, thậm trí mang tính thường xuyên. Sự
thay đổi nơI làm
việc và thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v…
tạo ra những giai đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá
trình làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về
BHXH. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì
quan hệ một cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống
nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thu
ận tiên

10
cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy
đủ và tích cực hơn. Do vậy, mức tham gia và thời gian thực tế
tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với
người lao động.
2.5. Công bằng trong BHXH
Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp
trong chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong
một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá
trình đó có thể có sự thay đổi di
ễn ra. Mức và thời gian tham gia
của từng người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không
giống nhau. Việc theo rõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn
giản nhất là trong điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có
những khác biệt về đối tượng thành phần và khu vực tham gia ở
nước ta hiện nay. Do vậy đảm bảo công bằng trong BHXH là rất
cần thiết nhưng rất khó đả
m bảo tính tuyệt đối .
Sự công bằng, trước hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa
đóng góp và được hưởng. Điều này được thể hiên trong nội dung
và điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc
độ khác, công bằng còn đặt trongcác quan hệ xã hội giữa những
người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa
bàn, ngành nghề khác nhau v.v… dựa trên nguyên tắc tính xã hội
của bảo hiểm.
Trên đây là những nguyên tắc ph
ải tính đến khi thiết kếvà
thực hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH.
3. Bản chất của BHXH
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu
sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã
hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ
chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triể
n đến
một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa

11
dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của
BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi
nước.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở
quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên
BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là
người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao
động. Bên BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ
quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên
được
BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện
ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý
muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra
không hoàn toàn ng
ẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v Đồng
thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi
gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ
một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này
do bên tham gia BHXH đóng góp là ch
ủ yếu, ngoài ra còn được sự
hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu
nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc
tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để

đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư
và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.

12
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong
những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa
nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng:
"Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền
hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn
các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và
s
ự tự do phát triển con người".
Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách
bảo đảm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có
cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu
nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên trong
xãhội, trong nhưng trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói,
khôngđủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thânvà gia
đình. Sự giúp đỡ này dược thể hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng
của Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật đíng góp của các tổ chức
xã hội và những người hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh
thầ
n của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với
những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã
hội. Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ và thân
nhân liệt sỹ, thương binh,bệnh binh v.v đều là những đối tượng
được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội
tuyệt nhiên không ph
ải là sự bố thí, ban ơn, mà nó là một chính
sách xã hội có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng
cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo
sự công bằng xã hội.
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi,
song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính
sách xã hội không thể thiếu được trong một quốc gia. Nhữ
ng

13
chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và tất cả đề
góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
4. Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động
tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế ho
ặc bù
đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao
động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động
theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất
khả năng lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức
hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời
điểm và thời
hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản
nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ
chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao
động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều
ph
ải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một
số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số
lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số
những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông
bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều
dọc và chiều ngang. Phân phối lại gi
ữa những người lao động có
thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc
với những người ốm yếu phải nghỉ việc v.v Thực hiện chức
năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản
xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động
xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao độ
ng sản xuất, người lao động
được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét