Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp

♦ Quần thể hang động Tràng An
Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, với những dải đá vôi, các
thung lũng và những dòng sông ngòi đan xen với nhau tạo nên một không gian
huyền ảo và thơ mộng. Du khách đến bến thuyền sông Sào Khê, từ đây những chiếc
thuyền nan lướt nhẹ trên mặt nước qua Xuyên Thủy Động vào đến quần thể hang
động Tràng An. Hai bên dòng sông là những phong cảnh hữu tình mà thiên nhiên đã
ban tặng nơi đây.
♦ Tam Cốc
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động là một quần thể du lịch, một địa danh nổi tiếng
từ xa xưa, thuộc địa phận huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; cách thủ đô Hà Nội 100
km về phía Nam. Nơi đây vẫn giữ được nét nguyên sơ, thiên tạo, với nhiều hang
động, di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước như: đền Thái Vi, Tam
Cốc, chùa Bích Động, động Tiên, chùa Linh Cốc…
Tam Cốc nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Du khách đi thăm Tam
Cốc chỉ có một con đường thủy duy nhất vào ra mất khoảng hai tiếng đồng hồ.
Những du khách ưa thích mạo hiểm có thể tiếp tục xuôi thuyền theo dòng Ngô
Đồng khoảng 2 km nữa tới thăm suối Tiên và tham gia chuyến du lịch mạo hiểm leo
núi vào đền Nội Lâm.
♦ Động Địch Lộng
Động thuộc huyện Gia Viễn, được nhân dân phát hiện từ năm 1739. Đến năm 1740
động được nhân dân trong vùng tu bổ thành một ngôi chùa để thờ Phật. Động rộng
chừng 10 gian nhà, trong động được bày nhiều tượng Phật, tượng La Hán, tượng Hộ
pháp đặt trên các bệ đá. Đặc biệt còn có 2 tượng phật được tác bằng đá xanh nguyên
khối, rất đẹp. Động gồm có 3 hang nối liền nhau, hang ngoài thờ Phật, rồi đến hang
Tối, hang Sáng. Cảnh đẹp của Địch Lộng được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ:
“ Nam thiên đệ tam động” – Động đẹp thứ 3 trời Nam .
♦ Động Tiên
Động nằm ở huyện Hoa Lư, cách Bích Động gần 1km. Động gồm có 3 hang lớn,
rộng và cao vời vợi. Trần động là vân đá, nhũ đá rủ xuống lấp lánh nhiều màu sắc.
Nhiều khối nhũ đá từ trên trần rủ xuống nền động cao hơn chục mét tựa như những
rễ cây đa cổ thụ. Xung quanh vách động và trên nền cũng có rất nhiều măng đá, nhũ
đá. Những nhũ đá được thiên nhiên chạm trổ vừa phóng khoáng, vừa tinh xảo mà
sống động. Đứng bên ngoài nhìn vào, dưới ánh sáng kì ảo, động Tiên như một lâu
đài nguy nga tráng lệ trong huyền thoại.
♦ Động Sinh Dược
Thuộc địa phận huyện Gia Viễn, là một động xuyên thủy dài gần 2km chạy dài theo
lòng núi Mắt Rồng, hai đầu hang là hai thung lũng rộng. Vào động bằng 1 trong 2
cửa: lối thứ nhất qua cửa hang Vồng – thung Nước và lối thứ hai là cửa hang thung
áng Nhồi. Hang Vồng là một chiếc cống bằng đá, mái uốn vòm cong tựa một chiếc
cầu vồng nhỏ bắc trên một dòng suối trong mát lạnh. Thung áng Nhồi là một lòng
thung rộng khoảng 3 ha, xung quanh là cây và hoa rừng, những thảm cỏ xanh mướt,
không khí trong lành.
♦ Đèo Tam Điệp
Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội, thuộc thị xã Tam Điệp, cách thành phố
Ninh Bình 18km về phía Nam . Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình
về, ăn ra biển Đông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam . Điều độc đáo là Đèo Tam
Điệp có đất đỏ. Từ đây du khách có thể quan sát cả một vùng rộng lớn. Toàn cảnh
đèo là những dãy núi hung vĩ, hiểm trở, quanh co như những con rồng uốn khúc,
đan xen là những thung lũng rộng và nhiều dòng suối trong xanh uốn lượn. Ngoài ra
Đèo Tam Điệp còn là một phòng tuyến lợi hại , có vị trí chiến lược trong quân sự,
như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường Bắc Nam
♦ Suối nước nóng Kênh Gà
Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc huyện Gia Viễn. Dòng nước từ trong núi chảy
ra, trong vắt, chưa bao giờ ngừng. Năm 1940 người Pháp biết tới, bắt đầu nghiên
cứu và đi vào khai thác. Nước khoáng Kênh Gà có chứa nhiều muối Natriclorua,
Kaliclorua, nước không màu, trong, nhiệt độ ổn định quanh năm 53
0
C. Nước
khoáng Kênh Gà dùng để tắm hay ngâm mình nhiều lần sẽ khỏi các bệnh như khớp
mãn tính, viêm dây thần kinh, các bệnh ngoài da và phụ khoa. Nước khoáng Kênh
Gà uống vào có tác dụng kích thích hoạt động của gan, mật, chữa bệnh bướu cổ và
dùng để bào chế huyết thanh tiêm tĩnh mạch.
♦ Động Vân Trình
Động rộng gần 3500m
2
, là một động lớn nhất và đẹp nhất tỉnh Ninh Bình, sánh
ngang với động Thiên Cung ở vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh). Động nằm trong núi
Mõ, tên chữ thời xưa là núi Thổ Tích, thuộc huyện Nho Quan. Động Vân Trình gồm
2 hang liền nhau, so le một cao một thấp là Hang Cả và Hang Hai. Trong cả hai
hang đều có những nhũ đá đẹp như những “ vách gấm”, nhiều khối nhũ đá từ trên
nóc động chảy xuống, có khối chạm đến nền hang, như những nhánh rễ cây đa cổ
thụ to lớn thả xuống mặt đất. Động Vân Trình còn giữ được nét đẹp trinh nguyên,
tinh khiết của đá.

♦ Hồ Đồng Chương
Là một hồ nước trong nằm giữa hai xã Phú Lộc và Phú Long, huyện Nho Quan.
Xung quanh hồ là những dải đồi thông xanh mướt, nhấp nhô, trùng điệp vây phủ lấy
mặt hồ làm cho nước hồ đã xanh lại càng thêm xanh. Gần hồ có thác Ba Tua và
dòng Chín Suối. Đi thăm hồ và leo lên đến đỉnh du khách sẽ gặp được một hồ nước
nhỏ gọi là Ao Trời, cũng trong xanh và không bao giờ cạn nước. Hồ Đồng Chương
được ví như Đà Lạt của Ninh Bình.
♦ Hồ Đồng Thái
Nằm trên địa bàn hai xã Đông Sơn ( thị xã Tam Điệp) và Yên Đồng ( huyện Yên
Mô), có diện tích rộng hơn 380 ha được bao bọc bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ và
con đê trải dài hơn 10km. Hồ có trữ lượng hơn 8.000.000 m
3
nước với hàng trăm
loài động vật, thực vật thủy sinh. Hồ không chỉ phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp,
nuôi trồng thủy sản mà còn là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng.
♦ Núi chùa Bái Đính
Núi Bái Đính thuộc địa phận huyện Gia Viễn. Núi Bái Đính cao 200m sừng sững
giữa vùng bán sơn địa, với diện tích gần 150.000 m
2
, được tạo thành bởi hai dãy núi
khép lại hình cánh cung và hướng về phía tây - tựa như tay ngai, mở ra một thung
lũng rộng hơn 3 ha - gọi là Thung Chùa. Lên thăm hang động ở núi Bái Đính, bước
trên 300 bậc đá đước xếp theo độ dốc vừa phải. Lên hết dốc là tới ngã ba: Bên phải
là động thờ Phật, bên trái là động thờ Tiên. Phía trên Động thờ Phật ( hay còn gọi là
Động Sáng) có 4 chữ đại tự khắc trên đá: “Minh Đỉnh Danh Lam” có nghĩa là: “Lưu
Danh Thơm Cảnh Đẹp”. Động Tiên lớn hơn động Phật nhiều lần, gồm 7 hang.
Khu núi chùa Bái Đính mới đang được qui hoạch đồng bộ và nổi tiếng bởi 5 cái
nhất: chuông to nhất, nhiều tượng La Hán nhất, chùa lớn nhất, tượng phật to nhất,
khuôn viên rộng nhất. Khu núi chùa Bái Đính mới gồm có điện Tam Thế, chùa
Pháp Chủ, cổng Tam Quan, chùa Quan Âm, La Hán Đường, Tháp Chuông, khu hồ
phóng sinh,…


♦ Hệ sinh thái ven biển Kim Sơn
Với 18km đường bờ biển nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành 2 cồn nổi ( Cồn
Thoi và Hòn Nẹ), thảm thực vật ngập mặn đã hình thành nơi cư trú của nhiều loài
sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quí hiếm như Cò Thìa,…
2. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1. Các di tích lịch sử - văn hóa
♦ Cố đô Hoa Lư
Cố đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước ta, thuộc
huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích khoảng 400ha.
Ngàn năm trước, Hoa Lư là đế đô nguy nga với núi đồi trùng điệp xung quanh kinh
đô như tấm bình phong, sông Hoàng Long và cánh đồng Nho Quan, Gia Viễn mênh
mông là hào sâu thiên nhiên rất thuận lợi về mặt quân sự. Khu thành Hoa Lư có qui
mô rộng lớn, có nhiều tuyến liên hoàn. Thành gồm hai khu, khu trong và khu ngoài,
thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở. Mỗi khu gồm nhiều vòng,
nhiều tuyến nhỏ.
♦ Đền vua Đinh
Đến thờ vua Đinh Tiên Hoàng, hiện ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Đền quay
hướng Đông, trên khuôn viên rộng khoảng 5 mẫu, được xây dựng vào khoảng thế kỉ
17, lấy núi Mã Yên làm án. Đền vua Đinh Tiên Hoàng kiến trúc theo kiểu "nội công
ngoại quốc", đường đi trong đền theo hình chữ "vương". Các công trình kiến trúc
đối xứng nhau theo đường chính đạo, tên gọi phỏng theo tên gọi của cung điện ngày
xưa.
♦ Đền vua Lê
Đền thờ vua Lê Đại Hành, hiện ở làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa
Lư, cách đền vua Đinh chừng 300m về phía Bắc, cũng xây dựng trên nền cung điện
xưa của kinh đô Hoa Lư. Đền ở làng Trường Yên Hạ nên gọi là đền Hạ. Đền lấy núi
Đèn làm án. Kiến trúc của đền xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc", có thêm
Từ Vũ.


♦ Nhà thờ đá Phát Diệm
Cách thành phố Ninh Bình 28km, Nhà thờ toạ lạc trên một khu đất rộng khoảng
117m, dài 243m, giữa trung tâm thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn. Nhà thờ là một
kiệt tác về kiến trúc do cha Phê Rô Trần Lục (quen gọi là cụ Sáu) xây dựng trong
suốt 24 năm (1875 - 1899) với vô vàn khó khăn, phương tiện làm việc thô sơ. Đây
là một quần thể kiến trúc kiểu Đình chùa Phương Đông, kết hợp với lối kiến trúc
Gôtic của nhà thờ Phương Tây. Quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm được xây dựng
nhiều hạng mục khác nhau như: ao hồ, tượng đài, Phương Đình, Nhà thờ lớn, Nhà
nguyện kinh thánh Rô Cô, Nhà nguyện kinh trái tim chúa, Nhà nguyện kinh thánh
Giu-Se, Nhà nguyện kinh thánh Phê-Rô và các hang đá nhân tạo
♦ Đền Thái Vy
Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tôn, hiện ở xã
Ninh Hải, huyện Hoa Lư.
♦ Đền đức Thánh Nguyễn
Đền thờ quốc sư Nguyễn Minh Không hay còn được gọi là Lý Quốc Sư, tọa lạc tại
huyện Gia Viễn. Đền đức Thánh Nguyễn vốn là một ngôi chùa nhỏ do chính ông
xây dựng, khoảng năm 1121 và đặt tên là Viên Quang. Đền được xây dựng trên một
khu đất rộng gần 2 mẫu.
2.2. Các lễ hội
♦ Lễ hội Trường Yên: Hội được tổ chức từ 10 – 13 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã
Trường Yên, huyện Hoa Lư để tưởng nhớ công đức vua Đinh Tiên Hoàng và vua
Lê Đại Hành.
♦ Lễ hội đền Thái Vy: Hội được tổ chức hàmg năm từ ngày 14-17 tháng 3 âm lịch
tại xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Đây là dịp nhân dân Ninh Bình và cả nước tưởng
nhớ công lao của các vua Trần, những người có công lớn với đất nước.
♦ Lễ hội đền Địch Lộng: Được tổ chức vào ngày mùng 6,7 tháng 3 âm lịch, tại chùa
Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn.
♦ Lễ hội chùa Bái Đính: Được tổ chức vào mùng 6 tháng giêng âm lịch hàng năm
tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn
♦ Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng âm lịch hàng
năm, tại làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô.
♦ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: Tổ chức ngày 13-15 tháng 11 âm lịch hàng năm,
tại xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn. Ngày 13 tế yết cáo, ngày 14 tế chính kị, ngày
15 tế tạ.
2.3. Các làng nghề truyền thống
♦ Thêu ren Ninh Hải: Nghề thêu ren ở đây đã có trên 700 năm. Tương truyền năm
1285 bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ đã theo triều đình nhà Trần về
đây và truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Đường nét thêu ren
rất tinh xảo nhưng sống động. Sản phẩm thêu ren rất phong phú: ga trải giường, rèm
cửa, gối, khăn bàn, tranh, ảnh,…
♦ Mỹ nghệ cói Kim Sơn: Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỉ nhưng
chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây. Người
dân Kim Sơn dùng cây cói làm nhiều sản phẩm như: chiếu, thảm, làn, khay, hộp,
cốc, mũ,…đặc biệt là nghề dệt chiếu
♦ Chạm khắc đá Ninh Vân: Đây là làng nghề cổ truyền được cả nước biết đến. Sản
phẩm bao gồm nhiều loại, như tượng, chim, thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, xà
nhà,…Ngoài ra còn có các mặt hàng thủ công mĩ nghệ và những đồ vật bằng đá
như: bộ ấm trà, gạt tàn thuốc lá, khóm trúc, bé cưỡi trâu, tranh ảnh.
2.4. Ẩm thực
Bên cạnh những món ăn của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, ẩm thực Ninh Bình
có đặc trưng riêng. Đó là: Tái dê Ninh Bình, Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy),
Nem Yên Mạc ( Yên Mô), Rượu Lai Thành, Mắm tép Gia Viễn, Rượu cần Nho
Quan




Tỉnh Ninh Bình định hướng tổ chức các khu du lịch:
1. Khu du lịch Tam Cốc - Bích Ðộng, Tràng An, núi chùa Bái Đính và Cố đô Hoa Lư:
Du lịch Văn hóa, lễ hội, tâm linh; Du lịch nghiên cứu; Du lịch tham quan, thắng cảnh; Du
lịch cuối tuần.
2. Khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và
hồ Kỳ Lân: Du lịch Văn hóa, Du lịch MICE, Du lịch vui chơi giải trí, Du lịch đô thị.
3. Khu du lịch vườn quốc gia Cúc Phương, Kỳ Phú, hồ Ðồng Chương: Du lịch sinh
thái, Du lịch thể thao, Du lịch tham quan, nghiên cứu, Du lịch nghỉ dưỡng.
4. Khu du lịch Suối nước nóng Kênh Gà - động Vân Trình, Vân Long, chùa Ðịch
Lộng: Du lịch Sinh thái, Du lịch Văn hóa- Lịch sử, Du lịch nghỉ dưỡng- Chữa bệnh
5. Khu du lịch phòng tuyến Tam Ðiệp - Biện Sơn: Du lịch Văn hóa – Lịch sử; Du lịch
Thể thao- Vui chơi giải trí
6. Khu du lịch hồ Yên Ðồng, Yên Thắng, động Mã Tiên, cửa Thần Phù: Du lịch Vui
chơi giải trí; Du lịch Thể thao; Du lịch nghỉ dưỡng vãn cảnh.
7. Khu du lịch quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm và khu dự trữ sinh quyển ngập mặn
Kim Sơn: Du lịch Văn hóa tín ngưỡng; Du lịch Tham quan nghiên cứu; Du lịch Biển- ẩm
thực hải sản.











CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG
NHỮNG NĂM QUA
I.Thực trạng đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh
1. Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch của tỉnh
1.1. Hệ thống giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh những năm gần đây đã được xây dựng tương
đối hợp lí, rộng khắp toàn tỉnh ô tô đi được tới tất cả các xã trong tỉnh, việc đi lại
thuận tiện, nhanh chóng. Toàn tỉnh hiện có 2.278,2km đường bộ và 496 km đường
sông với các tuyến quan trọng nối liền thị xã với các huyện thị và tỏa đi các xã. Các
tuyến đường từ tỉnh xuống huyện được nâng cấp rải nhựa. Mạng lưới giao thông
của Tỉnh được phân bố tương đối đều: đường sắt, đường bộ, đường thủy.
٭Đường bộ: bao gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, liên huyện,
đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km. Ngoài quốc lộ 1A , trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình còn có các tuyến quốc lộ chạy qua như 10, 12B, 45, trong đó:
Đường quốc lộ: có 110,5 km
Đường tỉnh lộ: có 261,5 km
Đường huyện lộ: có 194,92 km
Đường xã, liên xã: có tổng chiều dài 911,5 km
Hiện nay mạng lưới giao thông đang được cải thiện ngày một tốt hơn. Tuy nhiên hệ
thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ
thống các đường nội thị vẫn còn yếu kém, nhiều tuyến đường cần được cải tạo và
mở rộng. Đặc biệt cần nâng cấp, cải tạo toàn tuyến 1A trên địa bàn tỉnh nhất là đoạn
đi qua thành phố Ninh Bình. Đây chính là tuyến đường chủ đạo trong giao lưu kinh
tế giữa Ninh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam, đáp ứng nhu cầu vận
chuyển hàng hóa và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn. Hệ thống giao thông
nông thôn, đường liên thôn liên xã đã được nâng cấp, rải nhựa, cải tạo và làm mới.
Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác thế mạnh của vùng, nhằm
phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân đặc biệt là mở rộng giao lưu với
các địa phương trong tỉnh, phát triển các tour liên huyện.
٭ Đường sắt: Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt quốc gia Bắc Nam, đây là tuyến
đường sắt đóng góp một phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
và các địa phương khác trong vùng kinh tế và trên toàn quốc. Toàn tỉnh có 4 ga là :
ga Ghềnh, ga Đồng Giao, ga Cầu Yên và ga Ninh Bình. Ngoài ra tuyến tàu chạy Hà
Nội – Vinh đi qua Ninh Bình đi các tỉnh phía Nam .
٭Đường thủy: Ninh Bình có 22 sông có thể khai thác vận tải đường thủy với tổng
chiều dài 387,3km. Mật độ sông là 27,3km/km
2
( lớn hơn mật độ bình quân cả
nước), phần lớn là sông cấp II, III và IV mang đặc điểm chung của sông, kênh khu
vực đồng bằng sông Hồng. Toàn tỉnh có các sông chảy qua là sông Đáy, sông
Hoàng Long, sông Vạc, sông Vân, sông Lạng, giúp cho Ninh Bình có điều kiện
thuận lợi và là đầu mối quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa các tỉnh
thuộc đồng bằng sông Hồng và toàn vùng Bắc Bộ rộng lớn.
1.2. Hệ thống cấp điện
Mạng lưới điện trong cả tỉnh đã được xây dựng với tổng chiều dài các đoạn đường
dãy trung cao áp là 770km. Hiện nay Tỉnh có 1 nhà máy điện Ninh Bình và 4 trạm
điện phân phối. Nguồn điện hiện nay bao gồm cả mạng lưới điện phân phối về cơ
bản có thể đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
1.3. Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường
Trong những năm gần đây tỉnh Ninh Bình đã từng bước phát triển đảm bảo nước
sinh hoạt cho vùng đô thị ( thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và các thị trấn,
huyện lỵ). Các công trình cấp nước: giếng đào, bể chứa nước, nước tự chảy và
giếng khoan. Trong đó các khu tập trung dân cư và các khu vực thị trấn chủ yếu
dùng nước tự chảy và nước cấp từ bể chứa. Khả năng cung cấp nước trung bình vào
mùa hè là 16.000 m
3
/ngày; vào mùa đông 14.000m
3
/ngày. Tổng số hộ gia đình được
dùng nước sạch trong toàn tỉnh là 26.000 hộ. Trữ lượng nguồn nước ngầm của tỉnh
Ninh Bình là tương đối lớn, việc khai thác nguồn nước ngầm tương đối thuận lợi.
Về chất lượng, nguồn nước này đảm bảo vệ sinh đủ tiêu chuẩn cần thiết để sử dụng
cho ăn uống và sinh hoạt.
Mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tại các đô thị của tỉnh sử dụng hệ thống thoát
chung ( cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt). Hệ thống thoát nước mưa bao
gồm các lọai ống tròn bê tông cốt thép, cống hộp và mương có nắp đan. Nhìn chung
các tuyến thoát nước đều hoạt động tốt nhưng do mật độ còn quá thấp chưa đáp ứng
được nhu cầu nên ảnh hưởng không ít đến môi trường đô thị. Các lọai nước thải hầu
không được xử lí đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông suối.
Nước thải công nghiệp từ các nhà máy xi măng, nhà máy phân lân chưa được xử lí
đến độ trước khi xả ra sông suối. Nước thải bệnh viện được xử lí riêng đơn giản và
xả vào hệ thống thóat nước chung, phần lớn là hơn giới hạn cho phép. Lượng thu
gom rác thải để xử lí còn nhỏ. Các loại rác thải được xử lí chung, chôn lấp tự do.
Chính vì thế, hiện nay UBND tỉnh đã phê duyệt dự án và đang triển khai thi công
xây dựng nhà máy xử lí rác thải với công suất 2200 tấn/ngày.
1.4. Hệ thống bưu chính viễn thông
Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đài
điện tử hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ
thống viễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh
chóng thuận tiện giữa Ninh Bình và các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc
quốc tế.
Hệ thống bưu cục: 32 trạm. Các tuyến, trạm truyền thông tin: 25 tuyến, trạm. Hiện
toàn tỉnh có khoảng 6,6 máy điện thoại/ 100 dân. Mạng điện thoại di động đã phủ
sóng gần hết lãnh thổ Ninh Bình. Đến cuối 2005 đã có 112 xã có điểm bưu điện văn
hóa xã ( đạt 82%).
1.5. Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngân
hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến các
huyện, thị xã, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ sở
dịch vụ này hiện tại thường xuyên được cải tiến về nghiệp vụ chuyên môn và phong
cách phục vụ, tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hóa trong quản
lí và thanh toán… đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất –
kinh doanh, đáp ứng tốt hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ;
phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo, quản lí của các cấp, các ngành; góp phần
tích cực cho phát triển kinh tế, caỉ thiện đời sống nhân dân trong tỉnh.
1.6. Hệ thống nhà hàng, khách sạn
Thời gian qua, với vị thế đã có và khai thác có hiệu quả tiềm năng phong phú về tài
nguyên phục vụ phát triển du lịch, Ninh Bình đã dần khẳng định du lịch là một
ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, nhiều công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng, tu
bổ tôn tạo để phục vụ phát triển du lịch. Hạ tầng Ninh Bình thay đổi mạnh mẽ và
nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là hoạt
động du lịch.
Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách quốc tế ngày càng
tăng và khách nội địa có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn nhà trọ được
xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch. Ngành du lịch Ninh
Bình cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du
lịch. Số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về số
lượng và qui mô và phương thức hoạt động.
Năm 1992, toàn tỉnh chỉ có duy nhất 1 khách sạn Hoa Lư được tách ra từ công ty du
lịch Hà Nam Ninh với 33 phòng nghỉ. Hiện tại, Ninh Bình có 290 cơ sở lưu trú du
lịch trong đó có 67 khách sạn với 1.680 phòng ngủ ( có 359 phòng đạt tiêu chuẩn
quốc tế); 8 bể bơi, 1 sân golf, 48 sân tennis, 82 phòng xông hơi - massage - vật lí trị
liệu và 128 cơ sở phục vụ ăn uống với 9.107 chỗ ngồi. Trong đó có 7 cơ sở với 266
buồng đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn 2 sao và 1 cơ sở với 17 buồng đạt tiêu
chuẩn 1 sao. Công suất sử dụng khách sạn bình quân đạt khoảng 50%. Qui mô xây
dựng hầu hết là vừa và nhỏ, trang thiết bị nội thất chưa đồng bộ. Nhìn chung chất
lượng của các khách sạn của tỉnh còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng
cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch thương mại. Giá phòng trung bình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét