Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước Việt Nam để kích thích kinh tế của nhóm nghiên cứu Harvard.doc

Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
 Nếu chi phí bằng ngoại tệ gia tăng cùng một tốc độ với tổng chi phí ( chi phí
bằng ngoại tệ chiếm tỷ trong lớn hơn trong tổng chi phí) thì chính sách giảm
giá sẽ ít ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa đầu ra (đặc biệt là giá cả nội địa ).
 Ngược lại, nếu chi phí ngoại tệ chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí thì
tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng hóa xuất khẩu và ít tác
động đến hàng hóa nội địa.
Cần lưu ý rằng tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái thay đổi còn phụ thuộc vào khả
năng và mức độ tự nguyện giảm giá bán của nhà cung cấp.
1.2.2./ Trung hạn:
GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của dân cư, chi
cho đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu ròng. Việc phá giá làm
tăng cầu về xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ điều chỉnh như sau:
 Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực nhàn
rỗi sẽ được huy động và làm tăng tổng cung.
 Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực không thể
huy động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ tăng lên rất ít dẫn đến việc
tăng tổng cầu kéo theo giá cả, tiền lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh
tranh của việc phá giá. Vì thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh
tranh và đạt mục tiêu tăng xuất ròng thì chính phủ phải sử dụng chính sách tài
chính thắt chặt (tăng thuế hoặc giảm mua hàng của chính phủ) để tổng cầu
không tăng nhằm ngăn chặn sự tăng lên của giá cả trong nước.
1.2.3./ Dài hạn:
Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài chính thắt chặt
có thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì trong dài hạn các yếu tố từ phía
cung sẽ tạo ra áp lực tăng giá. Hàng nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh
nghiệp sử dụng đầu vào nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng
giá; người dân tiêu dùng hàng nhập khẩu với giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương và
gây áp lực làm cho tiền lương tăng. Cuối cùng việc tăng giá cả và tiền lương trong
nước vẫn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh do phá giá. Các nghiên cứu thực nghiệm cho
thấy lợi thế cạnh tranh do phá giá bị triệt tiêu trong vòng từ 4 đến 5 năm.
Trang 5
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
1.3./ Tại sao chính phủ phá giá tiền tệ
Chính phủ sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để có thể nâng cao năng lực cạnh
tranh một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn so với cơ chế để nền kinh tế tự điều
chỉnh theo hướng suy thoái (vì khả năng cạnh tranh kém nên cầu xuất khẩu ròng
giảm dẫn đến tổng cầu giảm) đi kèm với mức lạm phát thấp kéo dài cho đến khi
năng lực cạnh tranh tăng lên (do tiền lương, giá cả giảm xuống đến mức có khả
năng cạnh tranh). Chính phủ các nước thường sử dụng chính sách phá giá tiền tệ khi
có một cú sốc mạnh và kéo dài đối với cán cân thương mại.
Trong thị trường cầu về nội tệ giảm thì chính phủ sẽ phải dùng ngoại tệ dữ trữ
để mua nội tệ vào nhằm duy trì tỷ giá hối đoái và đến khi ngoại tệ dự trữ cạn kiệt thì
không còn cách nào khác, chính phủ phải phá giá tiền tệ. Dùng dự trữ ngoại tệ để
khống chế tỷ giá là việc bán ra USD với giá rẻ hơn giá thị trường nhằm khống chế
tỷ giá cao hơn giá trị thực của nó, mà thực tế là lên giá tương đối bản tệ. Đến khi tỷ
giá danh nghĩa vượt quá xa tỷ giá thực tế mà nhà nước lại không đủ lượng dự trữ
ngoại hối để bán ra với giá rẻ thì sẽ phải thả nổi tỷ giá, tỷ giá danh nghĩa sẽ rơi tự
do xuống tỷ giá thực của nó. Đây là việc phá giá một cách bị động, ảnh hưởng rất
tiêu cực đối với nền kinh tế, mà điển hình là cuộc khủng hoảng của Mexico và
Thailand.
Ngoài ra, ngân hàng nhà nước có thể liên tục dùng 1 lượng VND nhất định để
mua USD trên thị trường, trực tiếp tác động tới cung cầu, qua đó điều tiết tỷ giá,
làm phá giá nhẹ VND, ưu tiên xuất khẩu, giảm nhập khẩu, cân bằng cán cân thanh
toán. Đây là một cách phá giá chủ động nhằm hướng tới các mục tiêu vĩ mô.
1.4./ Điều kiện cần thiết đế phá giá thành công:
Một đợt phá giá muốn gọi là thành công thì nó phải cải thiện cán cân
thanh toán. Có ba phương pháp.
1.4.1./ Phương pháp tính độ co giãn:
Tác động của chính sách phá giá phụ thuộc vào tính co giãn theo giá của cầu
nội địa với hàng nhập khẩu và cầu nước ngoài đối với hàng xuất khẩu.Chỉ số này
cho thấy nhu cầu sẽ thao đổi bao nhiêu % khi giá cả tăng( giảm ) 1%. Nhu cầu càng
ít thay đổi theo giá thì tác động của chính sách càng giảm.
Trang 6
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
 Điều kiện Marshall- Lerner:
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác
động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo
giá cả của xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều
kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred
Marshall và Abba Lerner.
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu
đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên. Đồng thời, giá hàng nhập khẩu định
danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co
dãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co dãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng
hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu
hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai
điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theo giá cả
trong ngắn hạn, bởi vì thói quên tiêu dùng của người ta không thể thay đổi dễ dàng.
Hơn nữa, giá cả trong ngắn hạn chưa chắc đã thay đổi do chi phí vận chuyển, hợp
đồng. Do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tới việc phá giá
tiền tệ chỉ làm cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi. Trong dài hạn, khi
người tiêu dùng đã điều chỉnh thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, cán cân
thanh toán mới được cải thiện.
1.4.2./ Phương pháp hấp thu:
Phương pháp phân tích tác động của sự phá giá hoặc giảm tỷ giá hối đoái của
một nước đối với cán cân thương mại.
Ta có : Y = C + I + G + (X - M)
C + I + G : a
X – M : b
 b = Y – a
Trang 7
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Công thức này giải thích những tác động trung hạn đã nói ở phần trên. Khi nền
kinh tế hoạt động dưới sản lượng tiềm năng, chính sách giảm giá sẽ bù đắp vào sản
lượng xuất khẩu và khuyến khích tiêu dùng hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu.
Nhưng chính sách này lại không phù hợp với nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm
năng. Vì khi đó, tác động của nó chỉ có thể làm chậm nền kinh tế.
1.4.3./ Phương pháp tiền tệ :
Trong khi hai phương pháp trên chỉ áp dụng đối với cán cân thương mại thì
phương pháp này bao gồm cả tài khoản vốn. Phương pháp này giải thích tác động
dài hạn của chính sách.
1.5./ Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ:
Về chính sách tỷ giá hối đoái, quá trình chuyển đổi của Trung Quốc cũng có
những giai đoạn phát triển tương tự như Việt Nam. Bước đầu tiên của quá trình này
là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trước đây thả nổi theo sát với những diễn biến của
tỷ giá trên thị trường. Đây gần như là bước tất yếu để đưa yếu tố thị trường vào
trong cơ chế xác định tỷ giá đối với hầu hết các nước tiến hành chuyển đổi cơ chế
quản lý nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết
và định hướng của nhà nước.
Thực tế, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh liên tục tỷ giá hối đoái danh nghĩa
biến động theo hướng giảm giá trị của đồng nội tệ cho phù hợp với sức mua của
đồng Nhân dân tệ bị đánh giá cao trước đây. Cụ thể từ 1979 đến 1993 (14 năm),
Trung Quốc đã điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái 7 lần. Xu hướng điều chỉnh là phá
giá mạnh đồng nhân dân tệ.
Nhóm thuyết trình sẽ tập trung vào giai đoạn từ năm 1990 – 2005. Những mốc
thời gian chủ yếu:
 Từ năm 1991, Trung Quốc hướng tới chuyển đổi chế độ tỷ giá cố định sang
chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức vẫn ít được áp
dụng hơn tỷ giá thị trường.
 Từ năm 1993, thị trường ngoại hối giữa các doanh nghiệp phát triển mạnh
hơn và hơn 80% sử dụng tỷ giá của thị trường. Sự sai lệch giữa tỷ giá chính
Trang 8
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
thức và tỷ giá thị trường gây ra những tác động tiêu cực, lượng ngoại tệ do
dân cư nắm giữ rất lớn trong khi dự trữ ngoại hối của quốc gia còn hạn chế.
 Từ năm 1994, Trung Quốc có nhiều chuyển biến lớn trong việc điều hành
chính sách tỷ giá: đưa tỷ giá chính thức lên mức cân bằng với tỷ giá thị
trường để thống nhất hai tỷ giá và thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý,
tạo điều kiện cho việc chuyển đổi đồng Nhân dân tệ.
 Đến giữa tháng 7/2005 Trung Quốc đã bất ngờ tuyên bố tăng giá đồng nhân
dân tệ (NDT) từ 8,277 lên 8,11 NDT ăn 1 USD, tương đương 2,1%, chấm
dứt một thập niên duy trì tỷ giá cố định của đồng tiền này với đồng USD.
1.5.1./ Cụ thể hành động của chính phủ:
Đầu những năm 1990, 1 USD chỉ có thể đổi từ 5,8 đến 5,9 nhân dân tệ.
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tỷ giá USD/RMB giai đoạn 1990 - 2005
Cho đến năm 1993, mặc dù phá giá liên tục và với biên độ lớn như vậy, tổn thất
xuất khẩu do tỷ giá (đánh giá cao đồng NDT) gây ra vẫn rất lớn. Lý do là vì tỷ giá
NDT/USD có mặt bằng xuất phát “phá giá” quá thấp nên dù phá giá mạnh như vậy,
mức tỷ giá vẫn chưa đạt đến điểm “hòa vốn” cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Bắc
Kinh cảm thấy phải có biện pháp hỗ trợ mạnh cho xuất khẩu, một đòn bẩy quan
trọng cho tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc đã quyết định định giá lại đồng bản tệ,
Trang 9
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
mà thực chất là làm cho nhân dân tệ trượt giá tới 50%. Biên độ phá giá lên tới 50%:
từ mức 5,8 NDT/1USD năm 1993 xuống 8,7 NDT/1USD kể từ ngày 1/1/1994. Năm
1995, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã giảm xuống. Kể từ đây đến 2005, Trung Quốc
ấn định tỷ giá ngoại tệ ở mức 8,2-8,3 nhân dân tệ đổi 1 USD và coi đây là cơ chế tỷ
giá thả nổi có kiểm soát. Tuy nhiên, dưới con mắt của các chuyên gia tài chính quốc
tế, thực chất đây là một tỷ giá cố định.
Khi chính phủ bắt đầu chuyển đổi sang chế độ tỷ giá thả nổi, để giảm bớt những
tác động của chính sách tỷ giá lên thị trường tiền tệ, Trung Quốc đã ban hành một
loạt các quy định hỗ trợ như:
 Thực hiện chế độ ngân hàng kết hối.
 Xoá bỏ sự ghìm giá và tăng giá ngoại hối của các công ty.
 Xây dựng thị trường giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng.
 Cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái.
 Cải tiến và hoàn thiện quản lý thu chi.
 Kết toán ngoại hối.
 Xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối…
Thực hiện đồng thời với việc kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương:
 Đối với các hoạt động ngoại hối ở các ngân hàng thương mại bằng cách quy
định ngân hàng nào được phép chuyển đổi và với số lượng là bao nhiêu. Các
ngân hàng này có toàn quyền hoạt động trong thị trường ngoại hối.
 Đối với các công ty nước ngoài, Trung Quốc yêu cầu phải có bảng cân đối
ngoại tệ hàng năm.
 Đối với các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài phải có giấy phép đổi
ngoại tệ mạnh sang Nhân dân tệ.
 Còn đối với doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước yêu cầu phải nộp 100%
ngoại tệ thu được thay vì 50% như trước đây
Trang 10
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một sự phối hợp khá linh hoạt và mềm dẻo
giữa chính sách tỷ giá với chính sách tiền tệ, tài chính. Sau khi có nhiều biện pháp
quản lý chặt ngoại hối đầu những năm 90, từ năm 1994 - 1996 Trung Quốc đã có
những điều chỉnh quản lý ngoại hối lỏng hơn như :
 Cho phép các công ty xuất khẩu tăng tỷ lệ giữ ngoại tệ.
 Các công ty nước ngoài từng bước được giao dịch, mua bán các loại ngoại tệ
mạnh, tạo điều kiện để đồng Nhân dân tệ xâm nhập nhanh hơn vào thị trường
tiền tệ Thế giới…
Năm 1998, để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ khu vực, một lần nữa Trung Quốc lại quay lại kiểm soát chặt chẽ thị trường
ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ giảm những dự kiến về phá giá đồng
NDT. Song song với việc quản lý chặt trên thị trường ngoại hối, để giảm bớt sức ép
đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng của nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã phối
hợp với các chính sách tiền tệ nới lỏng và kích cầu.
Trong năm 1998, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền
gửi bằng đồng NDT, lãi suất tái chiết khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc
giảm cả lãi suất với các tiền gửi bằng ngoại tệ. Kết hợp với chính sách lãi suất là
chính sách hạ thấp tỷ lệ dự bắt buộc, tăng hoạt động nghiệp, vụ thị trường mở của
ngân hàng trung ương, chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, kích thích tiêu
dùng của các tầng lớp dân cư….
Bảng 1.1: Tình hình lãi suất và một số chỉ số của thị trường tiền tệ 1998.
Chỉ tiêu 20/03/98 01/07/98 06/12/98
Lãi suất tiền cho vay giảm
(%)
1,6 0,49 0,27
Lãi suất tiền gửi giảm (%) 0,6 1,12 0,55
Lãi suất tiền gửi USD (%) 4,875 4,250 3,755
Nguồn: IMF
Trang 11
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Tác động của một loạt những phối hợp trong chính sách để điều chỉnh này là
cách gián tiếp giảm giá đồng NDT, giảm sức ép phá giá đồng NDT đè nặng lên
chính sách tỷ giá của Trung Quốc.
1.5.2./ Những mặt lợi mà Trung Quốc có được từ phá giá:
 Hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc rẻ đi rất nhiều, có sức cạnh tranh mạnh
trên thị trường quốc tế. Nhờ vậy, trong nhiều năm qua, Trung Quốc liên tục
thặng dư thương mại.
Nguồn: IMF
Biểu đồ 1.2: T ình hình xuất nhập khẩu Trung Quốc giai đoạn 1990 – 2004
 Cũng nhờ câu chuyện định giá đồng nội tệ, Trung Quốc đã tăng được một
lượng lớn dự trữ ngoại tệ.
Trang 12
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard

Biểu đồ 1.3: Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ năm 1996 - 2005
 Không chỉ nhanh chóng đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh nhiều thị phần quan
trọng trên thị trường quốc tế mà phá giá còn tạo cơ sở để Trung Quốc có thể
trở lại duy trì chính sách tỷ giá ổn định trong một thời gian dài, giảm thiểu
những rủi ro hối đoái và tạo môi trường hấp dẫn thu hút mạnh các nguồn đầu
tư nước ngoài. Trung Quốc đã vươn lên đứng đầu các nước đang phát triển về
mức độ thu hút đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp.
Trong thu hút đầu tư, Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành nước thu hút FDI
(vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) lớn nhất thế giới. Nếu như trước năm 2001, khi
Trung Quốc chưa gia nhập WTO, số vốn FDI đổ vào đất nước này mới là 6,5 tỷ
USD thì đến năm 2002 đã là 52 tỷ USD.
Trang 13
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Bảng 1.2: Tình hình tỷ giá và đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc 1994 – 1997
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997
Tỷ giá hối đoái trung bình năm NDT/USD 8,4462 8,3174 8,2982 8,2798
Đầu tư trực tiếp (triệu USD) 317897 33849 38066 41673
Vốn từ các công ty - thị trường (Triệu USD) 3543 789 1744 6804
Nguồn: IMF
 Cán cân thanh toán được cải thiện:
Bảng 1.3: Cán cân tài khoản vốn c ủa Trung Qu ốc giai đo ạn 1994 – 2003
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét