triết học Mác - Lênin. Đó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duy
vật lịch sử biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhất
giữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê,
so sánh và đối chiếu, khách quan và biện chứng trong việc nghiên cứu tư
tưởng triết học.
6. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu tương đối mới về triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ ở Thừa Thiên - Huế, trên cơ sơ đó góp phần làm rõ những vấn đề
và giá trị nhân sinh được thể hiên trong ca dao, tục ngữ tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có hai chương, 5 tiết.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA DAO TỤC NGỮ
1.1. Sự hình thành của ca dao, tục ngữ
Ca dao, tục ngữ là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành văn
học dân gian, là những viên ngọc quý, có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và
nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ
nhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua
nhiều thế hệ. Chính vì vậy ca dao, tục ngữ luôn được trau chuốt mà vẫn giữ
được cái hồn, cái hình mặc dù có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từ
khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau. Ca dao, tục ngữ vừa là một hiện
tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, luôn giữ vai
trò trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh
hoạt, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu
tranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và
xây dựng đất nước.
1.1.1. Khái niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ
1.1.1.1. Ca dao
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao vốn là một thuật ngữ
Hán Việt, là lời của các bài hát dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy
hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể chuyển thành các làn điệu dân ca.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, trang 303, Hà Nội, 1995, thì
“ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản
ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình
yêu nam nữ”.
Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng
để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu, đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ
6
biến và được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân. Ca dao đã trở thành một
thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian, do đó tất cả những sáng tác thơ ca
nào mang phong cách của những câu hát cổ truyền, người ta gọi là ca dao.
Về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian.
Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người
trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh
nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ
không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề.
Cho nên trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như tục
ngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gương phản chiếu
trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân. Đó là tinh thần
lạc quan trong khó khăn, là tinh thần tương ái giữa những con người lương
thiện, đó còn là nhận thức sắc bén về bạn, về thù, về chính nghĩa. Tóm lại,
qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực, tức là “cái vốn có”.
Nội dung của ca dao khá phong phú, đa dạng. Ca dao phản ánh lịch sử,
miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thần
của người dân lao động, bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng tư, đời
sống gia đình và đời sống xã hội, qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu
đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, những phẩm chất tốt đẹp của người dân
trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, trong đấu tranh xã hội để vươn lên
giành lấy hạnh phúc.
Có những câu ca dao, do nội dung lịch sử của nó, thường gọi là ca dao
lịch sử, phản ánh những sự kiện của lịch sử dân tộc, liên quan đến đời sống
của nhân dân, qua đó nhân dân nói lên thái độ, quan điểm của mình. Những
câu ca dao sau đây nói lên sự phấn khởi, hăng hái, lòng yêu nước của nhân
dân trong khi bà Triệu khởi binh chống quân Ngô xâm lược:
7
Ru con, con ngủ cho lành
Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân
Hay nói lên lòng hăng hái đua nhau giết giặc của binh sĩ ta ở trận
Bạch Đằng:
Đánh giặc thì đánh giữa sông
Chớ đánh trong cạn, phải chông mà chìm
Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ
phong kiến, chống quân xâm lược, đã vạch trần những cái xấu, những tội ác
mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta, thể hiện lòng căm thù
sâu sắc của nhân dân, cùng những ý nghĩ, những lời nói oán hờn, căm giận, ấp
ủ lâu ngày đã biến thành hành động, những cuộc khởi nghĩa của nông dân đã
diễn ra.
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quyét lá đa
Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quyét chùa
Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao đấu
tranh chống lại các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích,
chế giễu thói mê tín dị đoan, chống lại những hủ tục hôn nhân cùng những
thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ. Ở
đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:
8
- Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
- Của bụt mất một đền mười
Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho
Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người. Đó là tiếng gọi của tình yêu,
là tiếng than thở của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh và
đấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người lính và vợ của người
lính trong cuộc sống lao động và đấu tranh. Tình yêu của người lao động
được biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt, đó là tình yêu giữa đôi bên trai gái,
yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu thiên nhiên.
Nói về tình yêu nam nữ ca dao có câu:
Tình anh như nước dâng trào
Tình em như dải lụa đào tẩm hương
Về tình yêu thiên nhiên:
Rủ nhau đi tắm hồ sen
Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình
Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh
Thôn quê vẫn cứ hữu tình xưa nay
Và về tình yêu quê hương đất nước, mong muốn xây đắp cho cảnh vật
của tổ quốc được thêm hùng tráng:
Ta về ta dựng mây lên
Trời xe mây lại một bên hòn Lèn
Phong phú nhất, đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ. Trai
gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè,
đình đám, vui xuân:
9
- Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang
- Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau
- Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá cùng nằm một
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quýt, con trong con ngoài
Nội dung của những câu ca dao trên phản ánh được mọi biểu hiện sắc
thái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do
hôn nhân. Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc
với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh
từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách,
nói lên tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những người
nông dân áo vải Việt Nam.
Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu
với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong
đời sống hằng ngày của nhân dân. Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho ca
dao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân,
mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao.
Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng
những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến
muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên và lành mạnh đó. Vì vậy, trong ca
dao bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng
kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do
nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhau
hoặc còn có sự ngập ngừng, e ngại, nhưng phần lớn là do những nguyên nhân
khách quan do xã hội phong kiến gây ra:
10
Trách ai tham phú tham bần
Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa
Một bộ phận quan trọng của ca dao là nhận định về con người và về việc
đời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, là cách
ứng xử của nhân dân. Ca dao thể hiện rất cô đọng cho nên có nhiều bài rất
ngắn, thậm chí chỉ một cặp lục bát mà vẫn nói lên sâu sắc về mặt cách sống
và hành động:
Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàn
Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi
khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế
cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng
nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy. Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm
một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn
được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn
học. Cho nên, thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn
học đến trình độ nghệ thuật cao. Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội, thể
chất và tâm tình con người thể hiện qua ca dao với những hình tượng văn học,
từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặt
nghệ thuật.
Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói
đến nhịp điệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủ
yếu của thơ. Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng, nó luôn có
tác dụng tạo cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ. Ca dao ngắt nhịp
hai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhiều nhịp rất sáng tạo
như để làm bật lên cái quyết tâm vượt lên mọi khó khăn của những con người
muốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau:
11
- Yêu nhau/ tam tứ núi/ cũng trèo/
Thất bát sông/ cũng lội/ tam thập lục đèo/ cũng qua/
- Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/
Ca dao thường là những bài ngắn, âm điệu lưu loát. Đặc điểm của ca dao
về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không dò ép, lại giản dị
và tươi tắn, nghe có vẻ như lời nói nhưng lại rất nhẹ nhàng, gọn gàng chải
chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Dưới hình thức truyền khẩu, trải
qua nhiều thế hệ, nội dung có chỉnh sửa, nhưng nó vẫn giữ được chủ đề tư
tưởng và tính chất mộc mạc, không cầu kỳ. Ngoài hình thức nghệ thuật cụ thể
hóa mà ca dao sử dụng, còn có hình thức nhân cách hóa. Từ những vật vô tri,
vô giác đến chim muông, đều được ca dao gán cho những tâm tình, ý nghĩa
như con người:
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
1.1.1.2. Tục ngữ
Cũng theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4, trang 676, Hà Nội, 2005,
thì tục ngữ là “một bộ phận của văn học dân gian, gồm những câu ngắn gọn, có
vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân”.
Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, đúc kết kinh nghiệm của nhân
dân về các hiện tượng tự nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, về
con người và đời sống xã hội, được lưu truyền qua nhiều thế. Bằng những câu
nói ngắn, gọn, súc tích, tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời
sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động. Những kinh
nghiệm ấy được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã
hội, được thể hiện nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý có
tính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng.
Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ bác học một
12
hình thức biểu hiện giàu hình ảnh và do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết
phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thăng trầm, những khái quát rộng
rãi. Những câu tục ngữ ngắn gọn ấy sẽ thay thế một cách có kết quả những lời
thuyết lý dài dòng và dễ quên. Tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dân
lao động về tự nhiên và xã hội, biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận
thức thế giới, xã hội và con người, nên thường được ví von là “trí khôn dân
gian”. Trí khôn đó rất phong phú và đa dạng, được nhân dân vận dụng trong
đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói và
khuyên răn, bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo
đức, qua đó thể hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những
vấn đề của cuộc sống: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân lao động” [ 11, tr.229].
Về nội dung thì tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con
người về cuộc sống trong gia đình, cuộc sống trong xã hội, phản ánh quá trình
lao động sản xuất, nói về các kinh nghiệm và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,
đánh bắt, làm ruộng. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc và khá sâu
sắc vì nó được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.
Chẳng hạn, trong lao động sản xuất có những câu tục ngữ nêu lên nhận
thức của nhân dân về những đặc tính của những loại lúa khác nhau như:
Chiêm cập cợi, mùa đợi nhau
Những kinh nghiệm làm mạ:
Cơm quanh rá, mạ quanh bờ
Kinh nghiệm cày bừa:
- Nhai kĩ no lâu, cầy sâu lúa tốt
- Nhất cày ải, nhì rãi phân
Kinh nghiệm cấy lúa:
Chiêm to tẻ, mùa nhỏ con
13
Kinh nghiệm chăm bón:
Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân
Một số câu tục ngữ nói về kinh nghiệm đi lưới:
Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông
Kinh nghiệm chọn giống gia súc như chọn trâu:
Tóc tang, khoang nạng, vành trừng, có ba lời ấy xin đừng có mua
Kinh nghiệm chọn bò:
Bò đẻ tháng năm, nỏ bằm thì hui
Kinh nghiệm chọn lợn:
Chấm trán lọ đuôi không ai nuôi cũng nậy
Kinh nghiệm chọn chó:
Mắt bánh rán, trán bánh chưng, lưng tôm càng
Kinh nghiệm chọn gà:
Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua
Gà trắng chân đen mua chi giống ấy
Hay khi nói về thời tiết khí hậu có những câu tục ngữ:
- Sương sa hoa nở
- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
- Vẩy mại thì mưa, bối bừa thì nắng
- Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
- Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm
Phần quan trọng của tục ngữ là nói về lịch sử - xã hội, những quan niệm
nhân sinh, tư tưởng chính trị và xã hội. Thí dụ một số câu tục ngữ ghi lại một
vài ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét