Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam ra nhập WTO.doc

Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
đối với chính sách tiền tệ và thanh tra, giám sát khu vực NH.
Trì hoãn để có thời gian cho các NH trong nước cải cách bằng cách hạn chế sự
tham gia của NH nước ngoài là một chiến lược không phù hợp từ khi các cam kết về
cải cách là chắc chắn. Một khi đã cho phép NH nước ngoài vào hoạt động thì việc
hạn chế sự tham gia trên cơ sở nguồn gốc quốc gia sẽ giảm áp lực cạnh tranh. Những
hạn chế làm tăng chi phí tương đối của các NH nước ngoài trong quá trình tham gia
thị trường có thể tạo ra lợi thế cho các NH trong nước nhưng lại dẫn đến hoạt động
kém hiệu quả và mức độ cạnh tranh thấp trên thị trường
Một hệ thống NH hiệu quả cần có mức độ cạnh tranh cao. Do vậy, việc nâng cao
năng lực cạnh tranh ở các NH và việc sở hữu nhà nước chi phối trong các NH cần
được nắm giữ ở mức phù hợp sao cho không ảnh hưởng tới mức độ cạnh tranh của
hệ thống NH, nếu các NH có sở hữu nhà nước chi phối thì các NH này cần phải có
khả năng hoạt động như một pháp nhân độc lập.
Các NHTM quốc doanh là những NH nắm thị phần lớn trong ngành NH tuy nhiên
vẫn gặp phải khó khăn đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động do cấu trúc có
tính lịch sử, thách thức lớn là phải tạo ra áp lực đối với ban quản lý để hoạt động có
tính cạnh tranh. Điều này đòi hỏi các NH phải hoạt động trên cơ sở thương mại, theo
khuôn khổ bảo đảm an toàn đã được quy định cho lĩnh vực NH. Nếu các NHTM
quốc doanh không được chuyển sang hoạt động hoàn toàn trên cơ sở cạnh tranh, sự
phát triển của hệ thống NH sẽ bị hạn chế và Chính phủ sẽ phải gánh chịu những hậu
quả phát sinh từ hoạt động kém hiệu quả của các NH này. Các NHTM quốc doanh có
thể giữ được thị phần của mình trong một thị trường đang tăng trưởng nhanh chóng
nhưng về lâu dài trong bối cảnh hội nhập quốc tế khó có thể duy trì được nếu đặt
dưới sự sở hữu tập trung của NN. Để giữ vị trí có tính chất chi phối của mình, các
NH này cần chuyển đổi theo một cấu trúc có tính cạnh tranh đầy đủ, cho phép phản
ứng được với các tác nhân thị trường trong chiến lược kinh doanh và quy trình quản
lý của NH.
2.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
27
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
2.2.1 Việt Nam nỗ lực hội nhập vào WTO
Ðồng thời với việc tham gia Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) vào
tháng 7/1995; là thành viên đồng sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) vào
tháng 3/1996; tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
vào tháng 11/1998; VN đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc tham gia vào
WTO.
VN cũng như bất kỳ nước nào khác khi gia nhập WTO đều phải trải qua một trình
tự nhất định; có chăng chỉ là khác nhau về thời gian thực hiện trình tự. Thời gian dài
hay ngắn phụ thuộc vào việc nước xin gia nhập và các thành viên khác của WTO
đàm phán với nhau ra sao, chấp nhận những nhượng bộ nhau như thế nào.
Quá trình đàm phán của VN thể hiện qua các mốc đánh dấu chặng đường gia
nhập WTO của VN kéo dài hơn 11 năm, gặp nhiều khó khăn phức tạp, trải qua nhiều
thời điểm cam go nhưng cuối cùng VN và WTO đã đi đến thỏa thuận .
- 1/1/1995: VN nộp đơn xin gia nhập WTO
- 4/1/1995: Đơn xin gia nhập WTO của VN được Đại hội đồng tiếp nhận và VN
trở thành quan sát viên của tổ chức này.
- 31/1/1995: Ban xem xét công tác gia nhập (WP) của VN được thành lập với chủ
tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO.
- 24/8/1995: VN nộp bị vong lục
(*)
về chính sách thương mại của VN và gửi tới
Ban thư ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác.
- 1996 - 2001: Tiến hành quá trình đàm phán tập trung chủ yếu vào việc làm rõ
chế độ, chính sách thương mại của VN. Đoàn đàm phán VN đã phải trả lời hơn 2000
câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư.
- 8/2001: Chính thức đưa ra bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Initial
Offer) bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường.
(*) Bị vong lục: là bản tóm tắt toàn bộ hệ thống cơ chế, chính sách kinh tế, thương mại của
Việt Nam.
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
28
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Ban chấp hành T.Ư khóa 8, 9, 10 và
của Chính phủ, đoàn đàm phán của Chính phủ nước ta đã tiến hành nhiều vòng đàm
phán đa phương với ban công tác nhằm tổng kết hoá các cam kết của VN về việc VN
gia nhập WTO và đàm phán song phương với các đối tác liên quan nhằm xác các lợi
ích mà các thành viên của WTO có thể thu được từ việc gia nhập của một thành viên
mới. Khi các cuộc đàm phán song phương này kết thúc và VN trở thành thành viên
WTO, các cam kết qua các cuộc đàm phán sẽ trở thành cam kết áp dụng cho tất cả
các thành viên WTO:
- Đầu năm 2002: VN gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO và
bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bản chào
ban đầu về thuế quan và dịch vụ.
- 9-10-2004: VN và EU đạt thỏa thuận về việc VN gia nhập WTO.
- 9-6-2005: VN và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mở đường cho
VN sớm gia nhập WTO.
- 18-7-2005: VN và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để VN
- 31/5/2006: Ký thoả thuận chính thức kết thúc đàm phán song phương với Mỹ,
đối tác cuối cùng trong số 28 đối tác có yêu cầu.
- 26/10/2006: kết thúc phiên đàm phán đa phương thứ 14, phiên đàm phán đa
phương cuối cùng của VN, Ban Công tác đồng ý thông qua cả gói hồ sơ, mở đường
đưa VN trở thành thành viên chính thức của WTO.
2.2.2 7/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO
Tháng 11/2006, VN và WTO đã ký nghị định thư về việc VN gia nhập Hiệp định
thành lập WTO. 17h chiều 7/11/2006 (giờ Hà Nội), tức 11h ở Geneva, Đại hội đồng
WTO họp phiên đặc biệt để bỏ phiếu thông qua các văn kiện về việc VN gia nhập
ngôi nhà chung của kinh tế thế giới. Thời khắc cuối cùng của hành trình 11 năm VN
tìm đường vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đến.
Đối với VN, tiếng búa của ông Eirik Glenne - Chủ tịch Đại hội đồng WTO gõ
xuống bàn chủ tọa, kết thúc phần biểu quyết thông qua từng văn kiện có giá trị như
hồi trống đồng lớn mang nhiều cảm xúc, kết thúc 11 năm gian lao đàm phán, kết thúc
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
29
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
quá trình đại diện ngoại giao VN giao dịch đàm phán với các đối tác WTO tại
Geneva chỉ được dùng thẻ quan sát và nay có thể ra vào tự do trụ sở WTO và tham
dự các cuộc họp chung đưa đất nước vào một sân chơi mới mang tính toàn cầu. Tất
cả chỉ diễn ra trong vòng 30 phút.
Sau tiếng búa, nhà chỉ huy đàm phán, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển
sẽ thay mặt Chính phủ và người dân VN ký vào nghị định thư gia nhập WTO cùng
với Tổng giám đốc WTO Pascal Lamy. Vào lúc 12g (tức 18g VN) Tổng giám đốc
WTO Pascal Lamy đã trịnh trọng tuyên bố trước sự có mặt của đại diện 149 thành
viên của WTO tại Geneva, VN chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
Đại sứ và đại diện nhiều nước thành viên Ban Công tác đã phát biểu chào mừng VN
kết thúc thành công quá trình đàm phán gia nhập WTO, đánh giá cao những nỗ lực và
thành tựu mà VN đạt được trong thời gian vừa qua. Sự kiện này đã đánh một dấu
mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một ghi nhận ở tầm quốc tế
về thành công trong sự nghiệp đổi mới kinh tế của VN.
Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, ngày 11/12/2006, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng
Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã gửi Ban Thư ký WTO thư thông báo VN hoàn thành
thủ tục phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO. Theo thông lệ,
kể từ ngày thứ 30 sau khi Ban Thư ký WTO nhận được thư thông báo của VN, nghị
định thư trên sẽ có hiệu lực. Như vậy, bắt đầu từ ngày 11/1/2007, VN sẽ trở thành
thành viên đầy đủ của WTO và bắt đầu chính thức hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ
thực hiện các cam kết gia nhập WTO.
Việc gia nhập WTO biết là sẽ có nhiều khó khăn, vất vả ở phía trước, nhưng cũng
không thiếu các cơ hội mang lại cho VN, là động lực để VN thúc đẩy đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài, tạo nên năng lực sản xuất mới; hàng hóa, dịch vụ của
nước ta được hưởng sự đối xử bình đẳng khi tiếp cận thị trường với tất cả các thành
viên WTO; tạo cơ hội sử dụng quy chế giải quyết tranh chấp của WTO để đấu tranh
bình đẳng với các đối tác thương mại, nâng cao vị thế của VN trên trường quốc tế,
tham gia bình đẳng vào việc hoạch định các định chế thương mại toàn cầu. Đó cũng
là bước quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và NN
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
30
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
về hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.3 WTO là bệ phóng đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển
Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, là điều kiện tiền
đề cần thiết để phát triển kinh tế quốc gia đi vào quỹ đạo chung của thế giới thông
qua việc tận dụng được dòng chảy vốn khổng lồ cùng với công nghệ tiên tiến.
Gia nhập WTO là mốc quan trọng để VN thúc đẩy các lộ trình hội nhập sâu hơn
vào nền kinh tế khu vực cũng như toàn cầu, thúc đẩy quá trình điều chỉnh cơ cấu, cơ
chế kinh tế, năng lực cạnh tranh, các thể chế kinh tế theo hướng hình thành đồng bộ
nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Trở thành thành viên của WTO
cũng đồng nghĩa với việc VN tạo cho mình một thế và lực mới trong sự cạnh tranh và
thương lượng quốc tế. Sự tự tin và sức mạnh sẽ được gia tăng sau khi trở thành thành
viên chính thức của WTO với sự bình đẳng như một nguyên tắc trong việc quan hệ
song phương với các nước lớn và các nước phát triển, hướng tới một thể chế thương
mại công bằng, công khai, minh bạch. Gia nhập WTO, nền kinh tế nước ta sẽ thuận
lợi hơn khi tiếp cận toàn diện vào các nền kinh tế thành viên, vốn, công nghệ, kỹ
thuật… sẽ theo các kênh di chuyển thương mại, tài chính, đầu tư thâm nhập mạnh
vào thị trường nước ta để phát huy hợp lý lợi thế, tạo ra nguồn lực mới.
Tư cách thành viên WTO còn cải thiện quan hệ của VN với chính phủ các nước
thành viên. Các cuộc đàm phán song phương cũng như đa phương của VN với các
nước trở nên thuận lợi hơn, khi các thiết chế thương mại được hình thành và hoạt
động theo các luật chơi chung đã quy định thống nhất trong WTO. Do đó, bên cạnh
thách thức đặt ra như phải nâng cao khả năng cạnh tranh, chúng ta coi đây là một
dấu mốc quan trọng để VN bước vào giai đoạn mới.
2.2.4 Đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng
Các cam kết gia nhập WTO của VN được tổng hợp trên cơ sở kết quả đàm phán
song phương theo hướng tổng hợp các mức cam kết cao nhất. Do đó, các cam kết đã
đạt được trong thoả thuận song phương với Hoa Kỳ là nền tảng cơ bản cho cam kết
gia nhập WTO của VN trong lĩnh vực NH.
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
31
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
Theo thoả thuận đã được ký với Hoa Kỳ, trong lĩnh vực NH, các cam kết về tiếp
cận thị trường và đối xử quốc gia đối với các NH nước ngoài sẽ được nới lỏng dần,
với lộ trình dài nhất là 5 năm kể từ khi gia nhập. Kể từ ngày 1/4/2007 các NH nước
ngoài được phép thành lập NH 100% vốn nước ngoài hoạt động tại VN.
Đồng thời, để thu hút được các NH lớn vào hoạt động tại thị trường VN, trong
cam kết cũng đã đưa ra yêu cầu về tổng tài sản có đối với TCTD nước ngoài muốn
thành lập hiện diện thương mại tại VN (cam kết này cũng đã được thể chế hoá trong
Nghị định số 22 ban hành ngày 28/2/2006), cụ thể là: Để mở một chi nhánh của
NHTM nước ngoài tại VN, NH mẹ phải có tổng tài sản hơn 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối
năm trước thời điểm xin mở chi nhánh, trong khi đó mức yêu cầu đối với việc thành
lập NH liên doanh hoặc NH 100% vốn nước ngoài là 10 tỷ đô la Mỹ; đối với mở
công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty cho
thuê tài chính 100% vốn nước ngoài và công ty cho thuê tài chính liên doanh, TCTD
nước ngoài phải có tổng tài sản hơn 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm xin
phép.
Ngoài ra theo cam kết WTO, VN không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch
vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ
trợ. Chi nhánh của NH nước ngoài được phép huy động tiền đồng tăng dần theo thời
gian (từ 1-1-2011 sẽ được phép như NH trong nước), nhưng không được mở ATM và
các điểm giao dịch ngoài trụ sở, cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua
cổ phần trong các NH VN nhưng tỷ lệ vẫn còn hạn chế theo lộ trình. Bên nước ngoài
chỉ được phép mua tối đa 30% cổ phần của NH trong nước.
Các cam kết gia nhập WTO của VN trong lĩnh vực NH mà nền tảng là các cam
kết đã đạt được trong thoả thuận song phương với Hoa Kỳ là khá toàn diện với cam
kết trong hầu hết các phân ngành dịch vụ. So với cam kết về lĩnh vực NH trong Hiệp
định thương mại Việt nam - Hoa Kỳ, lộ trình nới lỏng các hạn chế về tiếp cận thị
trường và đối xử quốc gia đối với các TCTD nước ngoài trong các cam kết gia nhập
WTO của VN đã rút ngắn hơn.
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
32
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
Như vậy, rõ ràng biểu cam kết này, VN đã đạt được sự thỏa thuận có lợi cho dịch
vụ NH trong nước. Sự thuận lợi thể hiện ở chỗ: Tuy mở cửa, cho phép sự đầu tư từ
bên ngoài nhưng vẫn hạn chế số lượng, mức vốn đầu tư, nhằm bảo vệ quyền lợi các
NH trong nước.
Việc thực hiện các cam kết quốc tế này tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn cho
các đối tác nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực NH, góp phần thúc đẩy hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực NH, các TCTD VN sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường tài
chính quốc tế để mở rộng nguồn vốn, đầu tư kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc
tế, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư trong nước cũng như ở nước ngoài, học hỏi
kinh nghiệm và đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá công nghệ NH. Tuy nhiên, mở cửa
thị trường tài chính - ngân hàng trong nước cũng sẽ đặt hệ thống NH VN trước nhiều
khó khăn, thách thức, do đó, đòi hỏi ngành NH VN cần xây dựng một chương trình
hành động toàn diện để tận dụng cơ hội, vượt qua những thách thức, đồng thời
biến những thách thức này thành cơ hội mới.
2.3 ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.3.1 Sự cần thiết hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Lĩnh vực NH là một lĩnh vực nhạy cảm cao, nhạy cảm không những vì nó kinh
doanh trong lĩnh vực chứa nhiều rủi ro, mà nó còn có tác động trực tiếp đến an toàn
tài chính của từng quốc gia, sẽ kéo theo biến động về chính trị. Nếu không tỉnh táo
trong tiến trình hội nhập về NH thì hậu quả mà nó mang lại thật không dễ gì kiểm
soát. NH là lĩnh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập WTO và để không bị thua
thiệt ngay trên chính "sân nhà" cần phải đẩy mạnh hội nhập NH, xây dựng hệ thống
NH vững mạnh trở thành kênh dẫn nhập vốn hàng đầu, là “bà đỡ” tốt nhất cho nền
kinh tế đang cần vốn như VN đang từng bước chuyển dịch cơ cấu vốn theo định
hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, các NHTM không chỉ thực hiện vai trò quan
trọng phân phối lại vốn đầu tư, mà còn là nơi chuyển tải thông tin kinh tế, thậm chí là
nơi xuất phát những thay đổi và những rối loạn về kinh tế vĩ mô. Vì vậy lĩnh vực NH
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
33
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
cần nhanh chóng hội nhập cùng với hệ thống NH khu vực và thế giới, xây dựng hệ
thống NH có năng lực cạnh tranh vững mạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn và cung
ứng sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập. VN cần phải
đưa ra những cải cách hợp lý về thể chế và pháp lý, công cuộc cải cách này trong xu
thế hội nhập quốc tế là quá trình phức tạp và không thể hoàn thành trong một sớm
một chiều. Tuy nhiên cái giá phải trả do cải cách chậm trễ và của việc duy trì hệ
thống NH yếu kém chính là: tăng trưởng chậm, bỏ qua những thời cơ thuận lợi để
phát triển kinh tế và hạn chế khả năng tận dụng được lợi ích từ hội nhập tài
chính quốc tế.
2.3.2 Những cơ hội và thách thức của ngành ngân hàng khi Việt Nam gia
nhập WTO
Trong lĩnh vực NH, ngành NH đã chủ động thực hiện các chủ trương chính sách
của Chính phủ về đổi mới kinh tế và đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã xây dựng
được những cơ sở quan trọng cho một nền tiền tệ và hệ thống NH phù hợp dần với cơ
chế thị trường, hiện đại hóa công nghệ và tự do hóa hoạt động kinh doanh tiền tệ, góp
phần củng cố và phát triển hệ thống NH. Trong đó, thể chế hoạt động NH đã được
hoàn thiện đáng kể, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ được đổi mới căn bản, các
nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về hoạt động của các NHTM đang từng bước được
áp dụng, chất lượng tín dụng vì thế đã được cải thiện đáng kể.
Nhằm chủ động trong quá trình hội nhập, ngành NH cần nhận thức đầy đủ
những lợi thế có thể phát huy và những khó khăn thách thức phải vượt qua.
2.3.2.1 Cơ hội:
Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống NH VN, nhất là trên
thị trường tài chính khu vực.
+ Đối với NHNN: hội nhập quốc tế sẽ tạo cơ hội thúc đẩy công cuộc đổi mới, cải
cách hệ thống NH, nâng cao năng lực và hiệu quả điều hành và thực thi chính sách
tiền tệ, đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỉ giá theo nguyên tắc thị trường.
Hội nhập cũng là cơ hội để NHNN tăng cường phối hợp với các NHTW và các tổ
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
34
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
chức tài chính quốc tế về chính sách tiền tệ, trao đổi thông tin và ngăn ngừa rủi ro,
qua đó hạn chế biến động của thị trường tài chính quốc tế và đảm bảo an toàn cho hệ
thống NH VN. Hệ thống NHTM và thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và hiệu quả
sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ. Hội
nhập quốc tế sẽ thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao
năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý tài chính, loại bỏ các hình thức bảo hộ,
bao cấp vốn, tài chính đối với các NHTM trong nước, hạn chế tình trạng ỷ lại, trông
chờ vào sự hỗ trợ của NHNN và Chính phủ.
+ Đối với các TCTD: hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các
NH trong nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường và minh bạch hơn, khắc
phục những nhược điểm còn tồn tại. Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường
tài chính trong nước, khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ
quốc tế, dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân
chia lại thị phần giữa các nhóm NH theo hướng cân bằng hơn, thị phần của NHTM
NN có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm NH khác, nhất là tại các thành phố và
khu đô thị lớn. Tùy theo thế mạnh của mỗi NH sẽ xuất hiện những NH hoạt động
theo hướng chuyên môn hóa như NH bán buôn, NH bán lẻ, NH đầu tư, đồng thời
hình thành một số NH qui mô lớn, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hiệu quả.
- Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc các tổ chức tài chính phải có
cơ chế quản lý và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là chính sách đãi ngộ và đào
tạo nguồn nhân lực nhằm thu hút lao động có trình độ, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt
động và sức cạnh tranh trên thị trường tài chính.
- Mở cửa thị trường dịch vụ NH và nới lỏng hạn chế đối với các tổ chức tài chính
nước ngoài là điều kiện để thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân
hàng, các NHTM trong nước có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào
tạo, trình độ quản lý tiên tiến, trình độ ứng dụng công nghệ thông qua các hình thức
liên doanh, liên kết với các NH và tổ chức tài chính quốc tế. Vì thế, các NH cần tăng
cường hợp tác để chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và dịch vụ NH tiên
tiến, khai thác thị trường. Trong quá trình hội nhập, việc mở rộng quan hệ đại lý quốc
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
35
Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO
tế của các NH trong nước sẽ tạo điều kiện phát triển các hoạt động thanh toán quốc
tế, tài trợ thương mại, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư và chuyển giao công
nghệ
- Nhờ hội nhập quốc tế, các NH trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài chính quốc
tế một cách dễ dàng hơn, hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn sẽ tăng lên, góp
phần nâng cao chất lượng và loại hình hoạt động. Các NH trong nước sẽ phản ứng,
điều chỉnh và hoạt động một cách linh hoạt hơn theo tín hiệu thị trường trong nước
và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
- Ngoài ra chính hội nhập cho phép các NH nước ngoài tham gia tất cả các dịch
vụ NH tại VN và gia tăng sở hữu nước ngoài trong các NH trong nước cũng mang lại
nhiều lợi ích khác.Việc cạnh tranh với các NHTM nước ngoài và quá trình mở cửa,
hội nhập chính là quá trình các NH trong nước được cọ xát, cạnh tranh và học tập
kinh nghiệm. Sức ép cạnh tranh buộc các NH trong nước phải giải quyết những tồn
tại yếu kém, chủ động điều chỉnh mô hình và chính sách quản lý, nâng cao trình độ
quản trị điều hành, tăng cường khuôn khổ thanh tra, giám sát ngành NH trong nước,
đào tạo nhân viên, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyên môn hoá sâu hơn về nghiệp
vụ NH, quản trị NH, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, cải thiện chất lượng tín
dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, phát triển dịch vụ NH nhằm
tạo được lợi thế với các NH nước ngoài và để tăng độ tin cậy đối với khách hàng.
2.3.2.2 Thách thức
- Việc gia nhập WTO đã tạo ra những cơ hội và động lực cho các TCTD VN phát
triển thành một hệ thống NH hoạt động năng động, an toàn, hiệu quả và phù hợp với
các thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó, kinh doanh trong lĩnh vực
tài chính – ngân hàng cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro đối với các NHTM VN.
Thách thức lớn nhất đối với quá trình hội nhập quốc tế trong dịch vụ NH của VN là
xuất phát điểm còn thấp - thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên
thế giới. Không chỉ các NHTM mà ngay cả NHNN cũng sẽ gặp phải những khó
khăn, thách thức trên đường hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể ở những mặt sau:
SVTH: Hoàng Thị Vân Anh
36

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét