5 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
"Có ai dám bắt chước việc Kỷ Tín thời xưa không
1
?".
Người ở thôn Ðặng Tú là Lê Lai khẳng khái vâng mệnh, tự nguyện thay đổi mặc áo bào nhà vua,
xưng là vua Lê Lam Sơn, dẫn quân ra đánh nhau với quân Minh, quân Minh mừng rỡ, liền dồn cả quân
vây chặt Lê Lai, Lai chống cự đến kiệt sức thì bị bắt, quân Minh dẫn Lai về thành Đông Quang giết chết,
[tờ 12a] chúng bèn lui binh, ta được thoát nạn.
Hoàng đế được biết Trịnh Khả và Lê Lôi đã từng đi đón tiếp con voi tự nước Ai Lao về, tất nhiên
am hiểu tiếng nói và văn tự nước Ai Lao, bèn sai hai Tướng này mang tờ thông điệp sang bảo Quốc
Vương nước Ai Lao rằng:
"Quốc gia tôi phụng tờ thông điệp của triều Đại Minh ban cho nhà vua. Vậy nhà vua hãy đem số
lương thực đủ quân sĩ dùng trong 5 tháng, và khí giới cùng voi trận tới yết kiến, rồi nhận tờ điệp văn về
thi hành, để khỏi phải bắt giải. Nếu không tuân mệnh, lập tức sai nước Xa Lý và Lão Qua hợp quân 6
nước tiến đánh".
Vua nước Ai Lao sợ hãi, xin tuân mệnh trên. Hoàng đế nhờ được lương thực và quân dụng đó,
nên thế quân lại trở nên phấn chấn.
Ngày mồng 4 tháng 4 (năm Mậu Tuất), Hoàng đế kéo quân về Lam Sơn, trao rất nhiều vàng bạc
cho Tướng Trịnh Đồ, Trịnh Khả và Lê Lôi, đem đút lót cho Tướng nhà Minh là Trần Trí, Sơn thọ và Mã Kỳ,
[tờ 12b] để cầu được hoãn binh.
Ngày mồng 9 (tháng 4 năm Mậu Tuất), người Minh cất quân đánh vào Lam Sơn, Hoàng đế bỏ
Lam Sơn lui quân và đóng tại Lạc Thủy, rồi đặt phục binh sẵn để đợi địch.
Ngày 13 (tháng 4 năm Mậu Tuất), quả nhiên quân địch kéo đến, phục binh nổi dậy xung đột; 4
Tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân và Lê Lý xông lên trước hãm trận, chém đầu hơn 2.000 tên địch, thu
được hàng mấy nghìn chiến lợi phẩm.
Ngày 16 (tháng 4 năm Mậu Tuất), tên bầy tôi phản bội của ta là Thượng Ái, dẫn quân Minh do
đường tắt đánh úp vào sau quân ta, và bắt hết vợ con binh sĩ. Quân sĩ đâm chán nản, mất hết tinh thần
chiến đấu. Hoàng đế bèn thu quân cùng với Lê Lễ, Phạm Hướng, Đỗ Bí, Nguyễn Xí và Lê Đạp, tạm náu ở
núi Linh Sơn, hơn 3 tháng trời, chỉ dùng võ măng tre và rễ cỏ làm bửa ăn khỏi đói.
Sau khi địch đã lui binh, Hoàng đế lại trở về Lam Sơn, đắp đồn lũy và chiêu tập tàn binh, được
chừng trăm tên, dựng trại sách ở xứ Mang Khao. Ngài vỗ về tướng sĩ, chỉnh đốn hàng ngũ và khí giới,
quân nhu cũng khá đầy đủ, lúc ấy lòng quân lại phấn khởi, đều xin tình nguyện thù tử chiến đấu. Hoàng
đế biết là quân sĩ có thể dùng được, bèn đặt phục binh ở Mang một, rồi sai độị khinh binh ra khiêu chiến,
quân địch tiến tới chỗ hiểm, phục binh liền dùng nỏ bắn tên tẩm thuốc độc ra như mưa, quân địch thua
chạy tán loạn. Hoàng đế lại tiến quân tới Mang Ninh, ngày đêm tiến đánh, quân địch bị tổn hại, phải lui
về giữ một xã Nga Lạc Hạ.
Năm Kỷ Hợi (1419), niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 17, tháng 4, Hoàng đế tiến quân đóng tại trại A Đả,
đánh nhau với quân Minh ở xứ Nghĩa Canh, bắt được viên Chỉ huy là Nguyễn Sao và chém đầu 300 tên
địch.
Tháng 5, Hoàng đế đóng dồn quân ở trại Đà Sơn, đặt phục binh ở Mang Chánh, đánh đuổi đước
quân địch, rồi dời quân đến đóng tại trại Lưu Sơn, [tờ 13b] được nước Ai Lao đem quân lại giúp, lại dời
tới Mang Thôi đóng đồn.
Mùa thu, tháng 7, viên Tri phủ Phan Liêu là Thổ quan tỉnh Nghệ An phản nhà Minh, người Minh
dẫn quân vây thành Nghệ An, Tổng binh Phong thành hầu là Lý Bân cũng dẫn quân lại cứu, Phan Liêu
1
Thời Hán, Hán- Cao- Tổ đóng quân ở thành Vinh Dương, bị Hạng Võ dẫn quân Sở vây chặt mấy vòng. Tướng quân Kỷ
Tín thấy tình thế nguy cấp, dânng kế lừa Sở: Tín bèn vận mũ áo Đại Vương, dùng cờ quạt xe ngựa Hoàng đế ra cửa Đông hô rằng:
"Ta là Hán Vương, vì cạn hết lương thực xin ra đầu hàng nước Sở". Quân Sở bèn xúm cả vào đấy. Hán Vương thừa cơ hội lẻn ra
cửa Tây trốn thoát. Sau Hạng Võ biết là giả, giết chết Kỷ Tín.
6 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
thua chạy sang nước Ai Lao, Lý Bân đuổi đến châu Ngọc Ma, không đuổi kịp dẫn quân về. Thổ quan Lộ
văn tú là Tướng tiền phong của Lý Bân lại phản, bỏ đi.
Tháng 11, các tướng giặc: Trịnh Công Chứng, Phạm Hỉ, Nguyễn Trì và Nguyễn Cấu ở các hạt: Hạ
Hồng, Tân Minh, Khoái Châu và Hàng Giang, đều khởi binh kéo đến sông Nhị Hà đánh phá cầu nổi, Lý
bân sai tướng sĩ đánh phá, giặc đều thua chạy tán loạn. Lúc ấy, các lộ miền Bắc, nơi nào cũng có giặc
nhiễu loạn, duy Tam giang, Qui hóa và Tuyên quang được yên ổn thôi. Bởi thế, người Minh không có thì
giờ để ý đến Thanh Hóa.
[tờ 14a] Năm Canh Tý (1420) niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 18. Mùa xuân, tháng 2, Lý Bân dẫn quân
trở về Đông Quang.
Mùa hạ, tháng 4, Lộ Văn Luật khởi binh ở huyện Thạch Thất, Lý Bân đánh tan, Văn Luật chạy
sang nước Ai Lao.
Tháng 6, triều Minh sai Vĩnh Xương Bá là Trần Trí đóng giữ Đông Quan.
Người đất Phụng Hóa là Trần Văn Xung và người đất Đồ Sơn là Phạm Ngọc Giai đều khởi binh
phản nhà Minh, Lý Bân đánh phá tan cả.
Người ở Tràng Cảng thuộc huyện Thủy Đường là Lê Ngã đổi tên ra Dương Củng, trá xưng là con
cháu xa của vua Trần Duệ Tông, tự nước Lão Qua trở về, Bế Thuấn ở Đan Ba thuộc núi Đan làm Phụ
đạo, dựng Ngã làm chúa, đóng trại Hồng Doanh ở An Bang. Dư đảng của Trịnh Công Chứng và Phạm
Ngọc đều qui phụ, quân số có tới vài vạn. Tự xưng là Thiên Thượng Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Vĩnh
Thiên, đặt đủ các chức quan, rồi chia quân đánh đốt thành Xương Giang; cướp trại Bình Than. [tờ 14b].
Lý Bân dẫn đại binh tới đánh, Lê Ngã và Bế Thuấn thua chạy trốn đi lúc ban đêm. Không biết đi đâu.
Người hạt Kiến Xương là Nguyễn Thuật đánh quân Minh ở Hoàng Giang, giết viên Tham chánh là
Hầu Bảo.
Tháng 10, Tướng Minh lại kéo đại quân tới. Hoàng đế tính trước: Chúng sẽ đến Bổng Tân vào
khoảng giờ Tỵ (15 giờ), bèn đặt sẵn phục binh để chờ. Đúng giờ tỵ, quả nhiên quân địch tràn tới đó, 4
mặt phục binh đều chỗi dậy xông đánh, quân địch tan vỡ, ta giết chết và bắt sông vô kể, thu được hơn
trăm con ngựa, và phóng lửa đốt hết khí giới của chúng.
Ngày hôm sau, Hoàng đế bảo các Tướng lãnh rằng: "Quân địch vừa mới thua trận, tất nhiên
chúng để tâm đề phòng cẩn mật. Vậy ta không nên giao chiến".
Nhưng các Tướng đem lòng khinh địch, không tuân theo, cứ tiến đánh. Quả nhiên bị tổn thương
rất nhiều! Bèn lưu binh ở Nang Ninh, rồi lại lui binh về giữ Mang Thôi.
Phụ đạo châu Quì là Cầm Lan hướng đạo cho [tờ 15a] Trấn Thủ nhà Minh là Lý Bân và đô đốc
là Phương Chánh, dẫn hơn mười vạn quân theo đường châu Quì vào đánh ta. Hoàng đế sai Lê Hướng và
Lê Lý đem mấy nghìn khinh binh đi trước tiên, để đón đường chặn đánh, rồi đặt phục binh ở Bồ Mộng để
đợi. Khi quân địch tới, ta đánh phá đại thắng! Nhưng quân địch ỷ vào thế mạnh, vẫn cứ tiến quân, địch
đánh thẳng tới doanh trại của Hoàng đế. Hoàng đế tiên liệu, đã đặt sẵn phục binh ở các lối hiểm yếu.
Ngày hôm sau, quân giặc kéo tới, ta dồn quân đánh úp ở Thi Lang, đại thắng! Chém đầu hơn ba nghìn
tên địch, Lý Bân và Phương Chánh chỉ chạy thoát thân lấy mình thôi. Ta thừa thắng đuổi dài suốt ba
ngày đêm mới ngừng, rồi tiến đóng trại Ba Lẫm ở Suối Giang, dẫn quân khiêu chiến. Các Tướng nhà
Minh tại đồn Tạ Phượng, đồn Hoàng Thành và trại Nga Lạc, đều giữ trại Quan Du để phòng bị cho thành
Tây Đô, cố thủ trong trại, không chịu ra đánh, [tờ 15b] Hoàng đế ngày đêm dồn quân vây đánh các
đồn, chia tướng Lê Hào và Lê Sát dẫn quân đánh úp trại Quan Du, phá tan quân địch, chém đầu hơn vạn
tên, thu được rất nhiều khí giới. Tự đấy, thế địch một ngày một suy. Nhân dân các xứ trong nước, không
nơi nào là không hưởng ứng Hoàng đế.
Năm Tân Sửu (1421) niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 19, ngày 20 tháng 11. Tham Tướng nhà Minh là
Trần Trí, đem hơn mười vạn vệ quân ở Giao Châu, đánh trại Ba Lãm ở ải Kình Lộng Hoàng đế bàn với các
Tướng rằng:
7 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
"Hiện tình, bên địch nhiều quân, bên ta thì ít, bên địch hành quân vất vả, mà bên ta thì quân sĩ
được thảnh thơi. Binh pháp có câu rằng: "Sự thắng địch cốt ở Tướng giỏi, chứ không quan hệ ở số quân
nhiều hay ít". Nay chúng ta tuy nhiều quân, nhưng ta dùng quân được thảnh thơi đánh quân vất vả,
nhọc mệt, thì tất phá được".
[tờ 16a] Tối hôm ấy ta chia quân đánh úp các ngả, quân sĩ hò la vang động, đánh phá được 4
trại, chém đầu hơn nghìn quân địch, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm.
Thần Trí lại phá núi mở đường tiến quân đánh ta, Hoàng đế ngầm đặt phục binh các nơi hiểm
yếu ở xứ Úng Ải để đợi. Đến giữa trưa, quả nhiên Thần Trí dẫn quân do đường núi tới, bị hai cánh quân
ta đánh vào hai bên, Thần Trí thua trận dẫn quân lui.
Thời ấy, nước Ai Lao cường thịnh, Hoàng đế giao thiệp thân thiện, thỉnh thoảng có đưa quân
sang giúp ta. Chỉ vì thổ quan Lê Văn Luật trốn chạy sang đấy, đem lời gièm pha, nên vua Ai Lao sinh
lòng oán giận. Đến đây, ta đang chống cự với quân Minh, chưa phân thua được, thì bổng Ai Lao đem
50.000 quân và 100 con voi đến đóng tại phía trước trại Hoàng đế, nói là lại giúp ta. Hoàng đế yên chí
vẫn thân thiện, không ngờ là khi trá, bèn ước hẹn cùng hợp đánh quân Tàu. [tờ 16b] Đến nửa đêm, ta
bị quân Ai Lao đánh úp! Hoàng đế thân tự đốc chiến, đánh rất hăng hái, tự giờ tý (1 giờ sáng) đến giờ
mão (5 giờ sáng), đánh tan quân Ai Lao, chém đầu hơn vạn tên, thu 14 con voi và hàng vạn chiến lợi
phẩm. Ta thừa thắng đánh đuổi bốn ngày đêm, đến tận sào huyệt chúng. Tù trưởng là Man Sát xin hòa,
ta không nghe. Bình chương là Lê Thạch Kinh tiến đánh trước, trúng phải chông nhọn, chết.
Năm Nhâm Dần (1422) niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 20, tháng 2, quan tổng binh nhà Minh là lý Bân
chết.
Ngày 21, tháng 12, Ai Lao đem quân đến Kiệt Mang dựng trại kết trận, Thiếu úy là Lê Chích đánh
lui.
Mã Kỳ ước hẹn với Ai Lao cùng đánh ta ở Quan gia, quan quân giao chiến mấy trận, thường bị
tổn thất [tờ 17a] bèn lui quân về đóng tại Khối Sách, ủy lạo quân sĩ, tu sữa khí giời, được 7 ngày thì
quân Minh kéo đến, Hoàng đế bảo Tướng sĩ rằng:
"Hiện giờ bị quân địch bao vây bốn mặt, ta không còn lối thoát đi đâu được! Đó tức binh pháp
gọi là "tử địa" Vậy, phải đánh chớp nhoáng mới sống, nếu chậm trễ sẽ chết".
Nói xong, ngài sa hai hàng lệ, mọi người đều cảm khích, tranh đua thù tử chiến đấu! Các Tướng
Lê Lĩnh, Lê Hướng, Lê Hào và Lê Triện, đích thân xông ra hãm trận, chém đầu tham tướng là Phùng Quí
và hơn nghìn quân, thu được hơn trăm con ngựa, Mã Kỳ và Trần Trí chạy về Đông Quan, quân Ai Lao
cũng trốn về. Hoàng đế bèn thu quân về núi Chí Linh. Ở đây thiếu lương thực, trong 2 tháng trời, quân sĩ
toàn ăn rau cỏ và măng tre, phải giết bốn con voi và một số ngựa để quân sĩ ăn. Thường có quân bỏ
trốn, [tờ 17b] Hoàng đế kiểm soát rất nghiêm nhặt, bắt được viên Tướng bỏ trốn là Thượng Khanh,
đem chém đầu để làm gương, tự đấy quân sĩ lại nghiêm chỉnh như trước. Lúc này, ta từng trải nhiều
phen nguy nạn, Tướng sĩ mỏi mệt, muốn được nghĩ ngơi, đều khuyên Hoàng đế hòa với người Minh, ngài
bèn sai thân thần là Lê Vận và Lê Trăn đưa thư đến Mã Kỳ và Sơn Thọ để cầu hòa, bọn Mã Kỳ ưng
thuận.
Năm Quí Mão (1423) niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 21, ngày mồng 10 tháng 4, Hoàng đế trở về Lam
Sơn, Trần Trí và Sơn Thọ thường đem tặng trâu, bò, muối, cá, nông cụ và thóc giống, ngài cũng sai bọn
Lê Trăn đem vàng bạc tặng đáp. Nhưng Trần Trí ngờ ta chỉ giả vờ giao hảo bề ngoài, mà bề trong có ý
thực đánh úp, nên bắt giữ Lê Trăn không cho về. Hoàng đế bèn tuyệt giao.
[tờ 18a] Năm Giáp Thìn (1424) niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 22, mùa thu, tháng 7, vua Thái Tông nhà
Minh chết, Thái tử lên nối ngôi Thiên Tử, đổi niên hiệu là Hồng Hưng. Lúc này mới có tờ chiếu đình chỉ
việc kiếm vàng bạc và các thứ hương ở Giao Chỉ ta, triệt hồi các viên Giám đốc về công tác trên.
Ngày 20, tháng 9. Hoàng đế hỏi các bầy tôi rằng:
"Nay chúng ta nên tới xứ nào để mưu đồ việc nước"
Thiếu úy Lê Chích đáp:
8 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
"Hạ thần thường qua lại tỉnh Nghệ An nhiều lần, nên có biết những nơi hiểm yếu trong tỉnh ấy.
Nay xin dẫn quân vào trại của Cầm Bành tỉnh Nghệ An, hễ ai hàng thì ta phủ dụ, nếu không hàng thì ta
đánh lấy trại ấy làm căn bản, rồi từ từ tính việc lấy lại Đông Đô. Như vậy việc nước có thể sẽ thành".
Hoàng đế cho lời bàn của Lê Chích là phải, bèn chia quân đến đánh úp phá thành Đa Căng, số
quân địch bị giết và bị chết đuối có tới hơn một ngàn, ngụy Tham chánh là Lương Nhữ Hốt chỉ kịp chạy
thoát lấy một mình, ta thu được chiến lợi phẩm vô kể, rồi đốt hết trại thành. Tướng của Cầm Bành là Hoa
Anh [tờ 18b] dẫn quân lại cứu, ta lại đánh tan. Hoa Anh thua chạy vào Tây Đô.
Sau khi thắng trận, Hoàng đế sai thả hết các phụ nữ đã bắt được, rồi ở đấy tuyển mộ binh sĩ,
seo sửa khí giới, chỉnh đốn hàng ngũ, chứa đủ lương thực, dẫn quân thẳng tới tỉnh Nghệ An, do đường
châu Trà Long, vượt qua núi Bồ Lạp thuộc châu Quì.
Đồng Tri là Sư Hựu tướng chỉ huy quân Minh, cùng với tri phủ châu Trà Long là Cầm Bành dẫn
5.000 quân đón đánh vào mắt tiền quân ta; các Tướng Minh là Trần Trí, Lý An, Phương Chánh và Thái
Phúc dẫn quân đánh vào mặt hậu quân ta, quân ta bị địch áp bức cả mặt tiền mặt hậu! Hôm ấy, trời sắp
tối, Hoàng đế đặt phục binh các ngả rồi ung dung chờ quân địch. Một lát thì Trần Trí dẫn quân đến, quân
phục binh ta nổi dậy xông đánh, quân địch tan vỡ, ta chém đầu Đô ty là Trần Quí và hơn hai ngàn sĩ tốt,
thu hơn trăm con ngựa, Trần Trí và Phương Chánh bị thua chạy.
Ngày hôm sau [tờ 19a] quân ta đi đến trang Trịnh sơn, gặp cánh quân của Tướng Sư Hựu, ta
xông thẳng tới đánh phá, chém đầu Thiên hộ là Trương Bản và hơn nghìn quân sĩ. Sư Hựu chỉ kịp chạy
thoát lấy một mình. Hoàng đế bèn đóng quân ở Mộc Sách, còn Trần Trí thì thu vét tàn quân, đuổi ta đến
sông Trạm Hoàng, nhưng sợ không dám tiến, trở về giữ thành Nghệ An.
Tháng 11, Hoàng đế sai Sứ Giả chiêu hàng Cầm Bành, Bành không chịu hàng, đem hơn nghìn
quân lập doanh trại trên đỉnh núi, để chờ viện binh. Quan quân vây chặt nơi đây.
Tháng 12, Sơn Thọ sai Nguyễn Sĩ đưa Lê Trăn trả về ta để cầu hòa. Số là Trần Thọ và Đức Chính
đóng ở Nghệ An, thấy Cầm Bành bị vây, vẫn muốn cứu lắm, nhưng sợ không dám tiến, bèn sai Sứ giả
đem thư cầu hòa, xin giải vây. Sau khi tiếp sứ giả, Hoàng đế triệu các Tướng bàn rằng:
"Hiện Cầm Bành bị vây khốn đốn, lẽ ra bọn tên Chánh phải cấp cứu ngay mới phải, thế mà đến
nay vẫn còn dùng dằng quanh co. Đó tất là có ý nhát sợ. [tờ 19b] Chi bằng ta hãy cứ vờ bằng lòng hòa,
để xem tình thế. Trong khi thư từ qua lại độ một tháng, thì ta đã bắt được Cầm Bành rồi".
Bàn xong, cho viết bức thư, để lên trên một cái bè, thả cho xuôi dòng, trong thư nói: "Chúng tôi
muốn trở về Thanh Hóa, nhưng bị Cầm Bành ngăn chặn. Vậy ông cho người tới giải hòa để thông lối về,
rất mong". Chánh nhận được thư, tin là thật, bèn sai Trần Đức Nhị đưa thư đến Cầm Bành bảo nên hòa
giải. Cầm Bành được thư, biết là viện binh không đến, bèn mở cửa thành ra hàng. Sau khi bình định châu
Trà Long, Hoàng đế ra lệnh các quân sĩ không ai được xâm phạm một mảy may của dân, còn các quân
địch đều được xá tội hết, không giết một người nào. Ngài thưởng lạo các bộ trưởng và tù trưởng, tuyển
được 5.000 trai tráng sung vào ngạch binh. Thanh thế trở nên lừng lẫy! (Sau Cầm Bành mưu toan trốn
đi, bị giết). Người Minh nghe thanh thế ta phấn chấn, lại tới đánh sơn trại ta, Hoàng đế đánh lui, rồi tiến
quân đóng tại cửa ải Khả Lưu, định đánh thành Nghệ An, [tờ 20a] nhưng chưa biết rõ tình thế, nhân
gặp hồi vua Nhân Tông nhà Minh mới lên ngôi, sai Sơn Thọ đến phủ dụ Hoàng đế hàng. Ngài rằng:
"Đó chỉ là kế của quân địch lừa dối ta. Nhưng ta hãy nhân đó để thi hành kế sách của mình".
Ngài bèn cho sứ giả qua lại, để dò hư thực. Sau Sơn Thọ biết là kế của y không ăn thua gì, lại
tuyệt hòa nghị. Hoàng đế bèn phát binh đánh Nghệ An. Sắp hành quân thì có tin báo: "Người Minh phái
rất nhiều binh mã và thuyền bè, cả thủy binh và bộ binh đều tiến, và sắp tới. Hoàng đế bèn hội các
Tướng mà bảo rằng:
"Hiện bên địch rất nhiều quân, mà ta thì ít. Bên ít quân mà muốn địch nổi bên nhiều quân, chỉ có
cách giữ lấy cái chỗ hiểm yếu trước, thì mới thành công. Binh pháp có câu: "Thiện chiến giã trí nhân nhi
bất tri ư nhân". Những Tướng tài giỏi, thường bắt buộc đối phương phải đến chỗ mình đã chỉ định, chứ
không bao giờ đến chỗ đối phương định.
9 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
Nói xong, ngài chia hơn nghìn quân cho Đinh Liệt dẫn đi trước, theo con đường tắt chiếm lấy
huyện Đỗ Gia, tranh cướp lấy nơi địa lợi, rồi ngài thân đốc đại quân chiếm đóng ở các chỗ hiểm yếu, để
chờ quân địch. Vừa sắp đặt xong đô 3, 4 ngày, quả nhiên địch dẫn đại quân [tờ 20b] đến cửa ải Lậu
Thư và Khả Lưu, chúng đóng trại ở phía dưới dòng nước, Hoàng đế thì đóng ở phía trên dòng nước, ban
ngày dựng cờ và thúc trống ầm ầm, ban đêm thì đốt đèn đuốc sáng choang trong trại, rồi ngầm sai binh
mã qua sông phục nơi hiểm yếu. Trời sắp sáng, địch dẫn quân đánh vào trại ta, Hoàng đế vờ thua chạy
lui, dẫn địch vào ổ phục binh, bốn mặt phục binh đều dhỗi dậy xông phá, có hàng vạn quân địch bị giết
và chết đuối! Thua trận này, chúng bèn lập trại tựa vào thế núi để đóng quân, mà không chịu ra giao
chiến nữa.
Lúc này, bên địch lương thực dồi dào, mà lương thực bên ta thì chưa đủ để quân sĩ dùng trong
10 ngày. Hoàng đế bảo các tướng sĩ rằng:
"Giặc cậy nhiều lương, nên cứ cố thủ trong trại, không chịu ra đánh. Đó là chúng định lập cái kế
lâu dài vậy. Ta ít lương thực, không có thể cầm cự lâu dài với chúng được".
Ngài bèn sai tự đốt hết các doanh trại, vờ như trốn lánh, rồi đi ngầm ra lối tắt. Quân địch thấy
vậy rất mừng, liền tiến quân đóng vào doanh trại cũ của ta, và đắp thêm đồn lũy lên trên núi.
Ngày hôm sau, Hoàng đế [tờ 21a] ngầm đặt phục binh ở Bồ Ải, rồi sai đội khinh kỵ đến khiêu
chiến. Địch không hay biết, liền dẫn hết quân ra ứng chiến, đến Bồ Ải trúng ổ phục binh, quân phục binh
liền chỗi cả dậy, các viên dũng Tướng: Phạm Vấn, Lê Sát, Lê Ngân, Đinh lễ, Lê Xý, Lê Đạp, Lê Triện, Lê
Bôi, Lê Nhân Chú, Lê Chiến, Lê Tông Kiều và Lê Khôi đều tranh đua xông trận trước, đánh phá quân địch
chém đầu vô kể, thây địch lấp sông, khí giời đầy đường, thuyền bè trôi ngang. Bắt sống Đô ty là Chu
Kiệt, chém Tướng Tiền phong là Hoàng Thành, bắt sống chừng nghìn quân. Trần Trí và Sơn Thọ chạy về
tỉnh Nghệ An, cố thủ trong thành.
Năm Ất Tỵ (1425) niên hiệu Hồng Hưng thứ nhất (tự tháng 11 năm này trờ xuống, là niên hiệu
Thiên Khánh thứ nhất vua Trần Cao thời Hậu Trần). Mùa xuân, Hoàng đế tiến quân đóng tại làng Mỹ Lôi
huyện Thổ Du (nay là huyện Thiên Lộc) tỉnh Nghệ An [tờ 21b] các người già trẻ trong làng, đều mang
rượu thịt ra đón mừng tướng sĩ, và cùng bảo nhau rằng:
"Không ngờ ngày nay chúng ta lại được trông thấy uy nghi nước nhà".
Viên tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quí, dẫn hơn 8 nghìn quân và 10 con voi về hàng Hoàng đế,
được ngài phong cho chức Thái úy. Hoàng đế hạ lệnh rằng:
"Nhân dân ta lâu nay đã khốn khổ về chánh trị bạo tàn của người Minh! Vậy quân sĩ đến châu
huyện nào, cũng không được xâm phạm của dân một mảy may. nếu không phải là trâu bò thóc gạo của
ngụy quan, thì dù có thiếu thốn cũng không được lấy".
Lúc ấy, quân sĩ có người ba ngày chưa được một bữa ăn, mà không ai dám phạm lệnh trên! Về
phần nhân dân, thì ai nấy cũng đem những trâu bò thóc gạo của người Minh đã chứa tích ra để tiếp tế
quân sĩ ta. Hoàng đế chia quân đi thu phục các châu huyện, quân ta đến châu huyện nào, chúng cũng ra
hàng tức khắc, ngài bèn vây thành Nghệ An, địch cố thủ trong thành, không dám ra giao chiến.
[tờ 22a] Hoàng đế huấn luyện Tướng sĩ, tu sửa khí giới, trong một tuần chiến cụ đầy đủ, ngài
bèn duyệt vũ nghệ, dạy quân sĩ biết các phép: Ngồi, đi, đánh và đâm; chỉ cho biết các thế: Kỳ, chính,
chia và hợp; lại cho biết các hiệu lệnh về chiêng, trống, và lá cờ để biết lệnh tiến lệnh lui. Đội ngũ
nghiêm chỉnh, thưởng phạt công minh, quân sĩ đều hăng hái, nhân dân cả vùng dắt díu qui phục đông
như người về chợ. Hoàng đế ủy lạo vỗ về, ai ai đều hoan hỉ.
ngày 15, tháng 4, tham Tướng nhà Minh là Lý An tước An bình bá, dẫn thủy quân tự Đông Quan
lại cứu thành Nghệ An. Hoàng đế tính: Trần Trí bị vây khốn đã nhiều ngày, bây giờ có viện binh tới, y tất
nhiên ra đánh. Ngài bèn dời quân đến tại cửa sông Quật Giang thuộc huyện Đỗ Gia, sai Lê Ninh dẫn binh
phục nơi bờ sông.
10 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
Ngày 17, địch dẫn hết quân trong thành ra [tờ 22b] đánh trại Lê Thiệt của ta, chúng mới qua
sông được nửa số quân, bị phục binh chỗi dậy đánh phá, chém hơn mười thủ cấp. quân địch bị chết đuối
rất nhiều. Trần Trí chạy vào trong thành.
Tháng 5, Hoàng đế sau Tư Không là Đinh Lễ đến châu Diễn, đặt phục binh đón đánh cướp
những thuyền lương của Đô Tư là Trương Hùng, ta vừa đuổi vừa đánh cho đến thành Tây Đô. Hoàng đế
lại tuyển 2.000 tinh binh sai các Tướng Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Triện và Bùi Bị dẫn tiếp theo làm hậu
viên cho Đinh Lễ, đánh úp thành Tây Đô, chém hơn năm trăm đầu quân địch, thu rất nhiều chiến lợi
phẩm. Tướng nhà Minh đóng chặt cửa thành cố thủ, Đinh lễ và Lê Triện chiếu tập nhân dân, hợp binh
vây thành. Người tỉnh Thanh Hóa đều đua nhau đến cửa quân xin hàng.
Tháng này, vua Nhân Tông nhà Minh chết, Thái tử lên nối ngôi, đổi niên hiệu là Tuyên Đức.
Mùa thu, tháng 7, [tờ 23a] Hoàng đế hội các Tướng mà bảo rằng:
"Các vị Tướng giỏi thời xưa, thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn; lánh chỗ xung đột
mà đánh vào nơi trống không. Như vậy thì chỉ dùng nửa phần sức lực, mà thu lượm được thành công
gấp đôi. Nay hai xứ Thuận Hóa và Tân Bình, mất liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã lâu rồi. Vậy ta nên
thừa thời thế tiến đánh hai xứ đó".
Ngài bèn sai Tư Đồ và Trần Nguyên Hãn, Thượng Tướng quân là Doãn Nỗ, và Chấp lệnh là Lê Đa
Bồ, dẫn hơn nghìn quân đi kinh lược xứ Thuận Hóa và Tân Bình, để chiêu phủ nhân dân, bọn Trần
Nguyên Hãn đánh phá tướng nhà Minh là Nhiệm Năng ở sông Bố Chánh. Hoàng đế lại sai Lê Ngân, Phạm
Bôi và Lê Văn An dẫn thuyền chiến ra ngoài biển, để làm đội quân kế tiếp, liền phá được thành này, quân
dân hai phủ trên thảy đều qui thuận, ta thu lọc được vài vạn quân tinh nhuệ, để sung thêm vào binh số,
thanh thế rất lừng lẫy! Các Tướng bèn suy tôn Hoàng đế là [tờ 23b] "Đại thiên hành hóa". Tự đây,
trong những tờ Bảng hoặc những tờ Dụ đều nêu bốn chữ này.
Mùa đông, tháng 11, dựng Trần Cao làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Khánh. Trần Cao chính tên
là Hồ Ông, lánh nạn đến châu Ngọc Ma, mà thổ quan là Cầm Quí đã giả mạo xưng Ông là dòng dõi vua
họ Trần. Vì vua triều Minh cho là quốc dân nước ta vẫn còn nhớ họ Trần, cho nên đón Trần Cao dựng
nên làm vua, để mượn việc đó trả lời cho triều Minh và sai viên Tả Bọc Xạ là Bùi Quốc Hưng truyền tin
này, còn Hoàng đế thì tự xưng một cách khiêm tốn là: "Kiểm hiệu Thái sư bình chương quân quốc trọng
sự, đại thiên hành hóa, tứ kim ngư đại kim hổ phù trang võ vệ quốc công". Ngày 30 tháng 12, là ngày
Mậu Tý, làm lễ tâu cáo với các vị Vua và Hoàng hậu thời trước của nhà Trần về việc dựng vua này.
[tờ 24a] Niên hiệu Tuyên Đức (triều Minh) thứ 1, nhằm niên hiệu Thiên Khánh vua Trần năm
thứ 2 (1427), thuộc năm Mậu Ngọ. Mùa hạ, tháng 5, vua triều Minh ban tờ chiếu tha tội bạn nghịch cho
các quan lại và quân dân nước Giao Chỉ ta; và bãi bỏ hết thẩy các thứ thuế trưng thầu buôn bán các loại:
vàng, bạc, đồng, thiếc, sắt, muối, hương và cá. Những loại này để cho người bản xứ tự do mua bán, các
quan không được cấm. Tưởng cũng nên biết, trước đây, pháp luật nhà Minh rất hà khắc nghiêm nhặt!
Nhân tình không ưa, cho nên mới ban tờ chiếu mệnh này. Nhưng lòng dân oán ghét đã lâu, phần nhiều
điều phụ về với quân ta, đại thế không thể kéo trở lại được nữa.
Mùa thu, tháng 8 (năm Bính Ngọ), Hoàng đế tính: Bao nhiêu quân tinh nhuệ của nhà Minh đều
đóng ở thành Nghệ An, còn các xứ thuộc Đông Đô, thẩy đều chỉ có một số quân yếu kém. Ngài bèn sai
các Tướng thi hành kế sách: Sai Cơ mật đại sứ là Phạm Văn Sảo, Thiếu úy là Lê Triện, Thái giám [tờ
24b] là Lê Khả, Á hầu là Đỗ Bí, Lê Như Thận, dẫn 3.000 quân và một con voi đi chiêu phủ nhân dân các
xứ: Thiên Quang, Quảng Oai, Quốc Oai, Gia Hưng, Qui Hóa, Đà Giang, Tam Đới và Tuyên Quang, để
ngăn chặn quân cứu viện tự tỉnh Vân Nam (thuộc Trung Hoa) tới; Thông hầu là Lưu Nhân Chú, Thiếu úy
là Bùi Bị, Thái giám là Lê Văn, Lê Ninh, dẫn 2.000 quân và 1 con voi đến các xứ: Thiên Trường, Tân
Hưng,và Kiến Xương, để chặn con đường chạy trở về của Đức Chính và Lý An khi thua trận. Hai đạo binh
này sau khi đã chiếm được đất, liền chia quân đóng giữ các nơi; Nhân Chú, Bùi Bị cùng với Lê Bồi, Lê Vị
Tẩu, dẫn 2.000 quân Thanh Hóa và một con voi, đi chiêu mộ nhân dân các xứ: Khoái Châu, Bắc Giang và
Lạng Giang, rồi đóng quân giữ các nơi hiểm yếu, để ngăn chặn quân cứu viện do tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây (thuộc Trung Hoa) tới; Tư Không là Đinh Lễ Nguyễn Sí và Lê Bì, [tờ 25a] dồn quân tinh nhuệ
tiến đánh Đông Đô, để biểu dương thanh thế. Ra lệnh cho các Tướng: Đến đâu đều không được lấy của
11 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
dân một mảy may. Bởi thế quân đi qua mà chợ vẫn hợp như thường. Các Trấn ở các Lộ thẩy đều hoan
nghênh, thi đua đem thịt trâu thịt dê cơm rượu ra khao lạo quân sĩ.
Ngày 12, Lê Triện dẫn 3.000 quân tiến sát Đông Đô, tham Tướng nhà Minh là Trần Trí, thấy
quân ta kéo đến một cách bất thình lình! Sợ quá! Bèn dẫn quân ra ứng chiến ở Ninh Kiều thuộc phủ Ứng
Thiên, Lê Triện, Lê Khả và Đỗ Bí hết sức chiến đấu. Quân Minh thua, ta chém đầu 2.000 quân địch, rồi
tiến quân đến bờ phía tây sông Ninh. Trần Trí thấy thành Đông Quang cô lập nguy cấp, bèn đào hào đắp
lũy thêm, để làm kế "cố thủ", rồi phi một tờ cáo cấp, để vào trong hộp bằng thiếc gởi tới Nghệ An, bảo
Lý An và Phương Chánh dẫn quân về cứu nơi cỗi rễ.
Ngày 17 tháng 9, Lý An và Phương Chánh [tờ 25b] để chỉ huy là Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ
An, rồi xuống thuyền lẻn ra biển lúc ban đêm. Quan quân ta đã phục sẵn các nơi yếu hại, để chặn đường
về của chúng, bởi thế bọn Phương Chánh chỉ loanh quanh ở trong biển, không lên bờ được. Về phần
quân ta, lúc ấy hãy còn ít thuyền, khó bề đuổi đánh, nên bọn Phương Chánh chạy thoát. Hoàng đế bèn
để Lê Ngân, Lê Văn An, Phạm Bôi, Lê Thận, Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng ở lại vây thành Nghệ An, ngài
thì đích thân đốc suất cả thủy quân và lục quân, tiến theoo sau Lý An và Phương Chánh. Khi quân tới Tây
Đô, ngài đóng doanh trại tại Lỗi Giang, uý lạo Tướng sĩ; ban thưởng cho các vị phụ lão trong làng và các
người thân thuộc trong họ, tùy theo từng hạng. Nhiều người trong các Quận, các Huyện tỉnh Thanh Hóa
nghe thấy Hoàng đế tới, đều đến cửa viên tình nguyện theo ngài xông pha ra trận, ngài đều cho dẫn vào
bệ kiến, [tờ 26a] rồi tùy tài cho ghép vào các đội binh.
Ngày 20, viên Đô tư tỉnh Vân nam nhà Minh là Vương An Lão dẫn hơn vạn quân tới cứu viện, đi
đến cầu Xa Lộc thuộc Tam Giang, Văn Sảo đón đánh phá tan. Địch bị giết và chết đuối tới hơn một
nghìn quân, còn thì chạy vào thành Tam Giang.
Lê Triện đánh nhau với Ty Đô nhà Minh là Vi Lượng ở cầu Nhân Mục, đại thắng bắt được Vi
Lượng.
Mùa đông, tháng 10, vua nhà Minh sai tổng binh là Thành Sơn Dật và Vương Thông, giữ chức
Tham tán việc quân, cùng với Thượng thư bộ binh là Trần Hợp, và Tham Tướng là Mã Anh dẫn 50.000
quân và 5.000 kỵ binh tới cứu viện. Khi chúng tới Đông Đô, thì hơn vạn quân đạo binh Vân Nam đã đến
Tam Giang rồi, và đang xuôi dòng thẳng tiến. Bọn Lê Khả được tin này, lập tức tự Ninh Kiều vội vã tới
gấp, đón đánh ngay ở cầu Xa Lộc. [tờ 26b] phá tan được đạo quân Minh này.
Ngày mồng 6, Vương Thông ỷ vào thế mạnh lúc mới đến, bèn suất tất cả 1.000.000 quân, cùng
với bọn Trần Hợp, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Lý An, Trần Trí và Phương Chánh, chia làm 3 đạo quân kéo ra ngoài
thành, đánh vào trại của Lê Triện và Lê Bí ở bến đò Cổ
1
, Lê Triện bèn cấp báo cho lê Lễ và Lê Sí biết,
bọn Lê Lễ dẫn quân tự Thanh Đàm lại cứu, rồi cùng nhau bàn kế dụ lừa quân địch, và cùng hăng say
chiến đấu, phá tan quân Vương Thông ở Ninh Kiều Túy Động (việc này có chép ở truyện tiểu sử Lê
Triện). Trần Hợp và Lý Lương nhà Minh cùng 50.000 quân chết đuối rất nhiều, ta bắt sống được hơn vạn
quân địch, và thu được khí giới, ngựa trâu, vàng bạc của cải rất nhiều, bọn Vương Thông chỉ chạy thoát
lấy thân về Đông Quan đóng thành cố thủ. Lê Lễ và Lê Triện [tờ 27a] thừa thắng thẩng tiến vây thành,
quân uy lừng lẫy sấm vang! Lúc này Hoàng đế đang hội các Tướng Hải Tây đóng ở Thanh Hóa, nhận
được thư báo thắng trận, ngài bèn thân xuất đại quân và 20 con voi thẳng tiến, ngày 11 tới Lũng Giang,
các Tướng đón mừng.
Tri Châu châu Bình Chánh là Hà Hoạn bị quân ta bắt, nhưng y chịu chết không hàng.
Vương Thông tự sau khi thua trận, khí giời gần hết, phải phá quả chuông Qui Điền và cái đỉnh
Phổ Minh để đúc đạn súng.
Ngày 22, Hoàng đế tiến quân đến Phù Liệt, ngày hôm sau, ngài sai Trần Hãn, Bùi Bị lĩnh 100
thuyền chiến tự sông Đại Lũng bơi ra cửa sông Hác Giang, rồi xuôi dòng thẳng xuống; Đinh Lễ dẫn hơn
vạn quân bản bộ đánh vào cầu Tây Dương, ngài thì đích thân cầm quân đánh vào cửa Nam Thành Đại
1
Đây là tên một bến đò, có 2 chữ, nhưng bản chính chỉ chép có 1 chữ "cổ", còn phần dưới bỏ trắng khoảng một chữ.
Vậy không thể biết là bến đò cổ gì?.
12 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
La. Đến trống canh ba đêm hôm ấy, quân ta đánh cả bốn mặt, rồi phóng lửa đốt những nhà của dân ở
bên ngoài thành, binh Tướng của Phương Chánh ở doanh ngoài, [tờ 27b] vội tranh nhau chạy vào trong
thành, bị chết ngổn ngang! Ta giải phóng hết những người Việt ta từng bị chúng ức hiếp phải theo, và
thu được hơn trăm chiếc thuyền chiến, cùng rất nhiều khí giới đồ đạc. Quân dân vùng này thảy đều qui
phụ quân ta. Bọn Vương Thông và các quan 3 Ty đều cố chết giữ thành, để đợi quân cứu viện. Hoàng đế
bèn đóng dinh tại Đông Phù Liệt gần đó để uy hiếp.
Sau khi Hoàng đế tới thành Đông Đô 3 ngày, các vị hào kiệt các Lộ; nhân dân các Phủ Huyện; và
Tù Trưởng các Trấn kéo nhau đến cửa dinh đông nghịt, thẩy đều tình nguyện giúp sức đánh phá các
thành, Hoàng đế cho dẫn các người vào bệ kiến, ngài phủ dụ an ủi và giảng cho biết lẽ lui tới; các sĩ phu
và thứ dân đến yết kiến ngài đều niềm nở tiếp đãi đúng lễ, rồi tùy tài cao thấp của từng người, cho liệt
vào các chức; ban hành cả thưởng và phạt, để cho mọi người biết sự khuyên răn. [tờ 28a] Ai nấy đều
cảm khích.
Chia các lộ và các Trấn ở Đông Đô làm thành 4 Đạo; đặt các quan văn võ trong Triều và ngoài
Đạo; đặt chức tuần kiểm ở các cửa biển, để khám xét ngưởi qua lại, và bắt những kẻ phản đảng đã làm
quan với nhà Minh, cùng những kẻ ngoan dân có lòng phản bội định đem thư về Trung Hoa.
Lại ban lời dụ rằng:
"Các bậc văn nhân tài tử nào chưa ra làm quan, mà có thể viết thư đưa vào thành Đông Đô,
khuyên được Tướng Tá trong đó mở cửa thành ra hàng, hoặc giảng hòa để về nước. Sẽ đặt cách trọng
dụng ngay".
Ban lệnh tịch thu sản nghiệp, vợ con, tôi tớ của bọn ngụy quan (làm quan với triều Minh), lấy
thóc lúa sung vào kho dự trữ, để cung cấp quân nhu.
Tháng 12, ra lệnh cấm quân sĩ không được chặt phá cây cối hoa quả, cướp bóc tài sản của nhân
dân.
Quan quân ta vây thành Đông Đô rất gấp. Vương Thông bị cùng quẩn quá! Bèn gởi thư giảng
hòa, xin cho được đem hết quân sĩ về Trung Hoa. Hoàng đế rằng:
[tờ 28b] "Binh pháp có câu: "Không cần đánh mà đối phương phải khuất phục. Đó là thượng
sách của nhà binh vậy".
Ngài bèn bằng lòng cho hòa, và hẹn Vương Thông phải dồn tất cả người và lính ở các thành
khác, về hội cả Đông Đô, càng sớm càng hay. Nhưng mới qua một thời gian, có bọn cận thân qua lại với
Vương Thông là bọn ngụy Đô ty Trần Phong, Tham chánh Lương Nhữ Hốt, và Đô chỉ huy Trần An Vinh
bảo Vương Thông rằng:
"Thời xưa, Ô Mã Nhi thua trận ở sông Bạch Đằng, phải đem quân lại hàng, Hưng Đạo Vương
bằng lòng cho hàng, rồi sai đem các thuyền lớn chở đưa về nước, nhưng lại dùng các người tài lặn làm
thủy thủ. Khi thuyền ra tới ngoài biển, chờ khi ban đêm, các người trong thuyền ngủ say, lúc ấy thủy thủ
lặn xuống nước, khoan thủng đáy thuyền, làm cho binh Tướng Tàu đều chết đuối hết trơn, không còn
một mống".
Bởi thế, Vương Thông đâm ngờ, lại đắp thêm lũy, đào thêm hào, và gài chông nhọn để làm kế cố
thủ [tờ 29a] rồi ngầm sai mấy chục người đem bức thư bọc ngoài bằng sáp ong, lén đi lối tắt để cầu
viện binh. Quan quân ta bắt được bọn này, nên Hoàng đế phát ghét về thói tráo trở, ngài bèn sai đặt
phục binh khắp bốn mặt bên ngoài thành, để bắt các người trong thành ra vào, tổng số bắt được đã tới
hơn 3.000 lính và 5 con ngựa, thì tự đấy Vương Thông đóng thành không ra, sứ giả qua lại cũng chấm
dứt.
Hoàng đế sai các Tướng dẫn quân đi đánh các Phủ Huyện: Bùi Quốc Công đánh Đao Kê Thị Kiều;
Lê Khả và Lê Văn đánh Tam Giang; Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý và Lê Lãnh đánh Xương Giang; Lê Lưu và Phạm
Bôi đánh Khâu Ôn.
13 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
Ngày 20, đặt chức An Phủ Sứ vào các Lộ, dùng Đào Công Soạn và Nguyễn Dực cả thảy 24 người
sung chức này; đặt chức Viên ngoại lang vào 6 đạo quân, dùng Nguyễn Tông Vỹ cả thảy 6 người sung
chức này. Bọn Công Soạn hết thảy đều là [tờ 29b] sĩ tử mới trúng tuyển.
Năm Đinh Tỵ, niên hiệu Thiên Đức thứ 21
1
, Mùa xuân, tháng giêng, Hoàng đế tiến quân đóng tại
bờ phía Bắc sông Lô, rồi chia quân vây thành Đông Đô: Lê Hướng giữ vây cửa Đông thành, Đinh Lễ giữ
vây cửa Nam thành, Thái giám Lê Chửng giữ vây cửa Tây thành, Lê Triện giữ vây cửa Bắc thành. Sơn
Thọ sai Thông Sự là bọn Nguyễn Nhiệm gồm 3 người, lại thông tin tức với ta.
Hoàng đế ban chức Hỏa thủ quân trong các Lộ, tùy theo từng hạng; bổ 515 người vào thuộc lại
trong Viện Hàn Lâm, và thuộc lại trong bốn Đạo; sai Dương Thái Nhất tu sửa đền thờ Trần Hưng Đạo,
cấm không được chặt phá cây cối nơi đây; ra lệnh cho Lộ An Bang nộp gỗ sung và tên bắn bằng tre; ra
mệnh lệnh cho các Lộ các Trấn chuyển vận lương hướng tới Xương Giang và Tam Giang, để cung cấp
quân lính; ra lệnh cho các Tướng và quan chức các Lộ, phải dò hỏi [tờ 30a] tìm tòi người có tài ba trí
dũng, có thể làm chức Thượng Tướng Tư Mã, mỗi viện phải tiến cử một người; ra lệnh cho nhân dân,
người nào dâng thóc để cấp phát cho quân, sẽ được phong tước, tùy theo từng hạng.
Viên chỉ huy tỉnh Nghệ An là Thái Phúc đầu hàng ta. Thành Diễn Châu cũng hàng.
Phạm Cự Luyện ở huyện Đường Hào, và Đoàn Lộ ở huyện Cổ Phí, đều dâng kế sách đánh phá
thành trì; và cách thức làm phên chiến đấu, xe phá thành và xe ngựa bay. Hoàng đế khen hay, bèn sai
các Tướng y theo kiểu mẫu đó để làm các thứ trên.
Ra lệnh cho các xứ phải tôn thờ miếu thờ các vị Công thần thời trước.
Sai người đã đầu hàng là viên Bách Hộ Hà Vượng, mang thư vào thành Đông Quan dụ Vương
Thông ra hàng. Sai Tư Mã Tuyên Quang là Lương Thế Vinh và Đề Đốc Phụ Đạo là Ma Tông Kế coi việc
đóng thuyền chiến.
Sai Nhập nội Thiếu bảo là Lê Lưu tổng quản việc quân dân các xứ Lạng Sơn và An Bang, [tờ
30b] xuất quân đánh thành Khâu Ôn, rồi chia quân đóng giữ các chỗ hiểm yếu nơi ấy, và cho Lê Lưu
được quyền "tiên trảm hậu văn" (mỗi khi kẻ nào phạm pháp, được quyền chém đầu kẻ ấy ngay, rồi sau
mới tâu lên vua).
Mời viên Nhập nội thiếu phủ là Lê Chích ở Nghệ An về Đông Đô.
Phong cho viên Hàn Lâm Viện Thừa chỉ học sĩ là Nguyễn Trãi chức "Triều liệt đại phu nhập nội
hành khiển, Lại bộ Thượng thư, kiêm Cơ Mật viện". Hoàng đế sai dựng một cái lầu mấy tầng trong dinh
Bồ Đề, hằng ngày ngài ngự tại từng lầu trên cùng, để trông vào thành bên địch, cho Nguyễn Trãi ngồi ở
tầng lầu dưới, để bàn luận cơ mưu hầu ngài, và thảo những thư từ gởi đi, xét những thư từ gởi tới.
Ngày 13, Lê Lưu và Phạm Bôi đánh chiếm được thành Khâu Ôn, người Minh bỏ thành chạy trốn
vào lúc ban đêm.
Viên Tư mã là Lê
2
cậy có chiến công [tờ 31a] thường thốt ra những lời khinh nhờn. Hoàng đế
sai giết chết, và tịch thu gia sản. Viên Thiên hộ là Lý Vân, và Tòng nhân là Bùi Vĩnh, lấy trộm muối chở
vào thành Chí Linh, ngài cũng sai giết cả. và đều bị tịch thu gia sản.
Ra lệnh kiểm điểm khí giới của binh sĩ, kẻ nào thiếu, sẽ trị theo quân luật.
Ra lệnh cho tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Lạng Sơn nộp vỏ cây gai, để dùng vào việc quân. Ra lệnh
cho huyện Tân Phúc mở lò rèn sắt.
Sai viên Tư mã Tổng đốc Trấn Thiên quan là Cao Ngự dẫn quân vây thành Cổ Lộng, và cho ông
được quyền "tiên trị hậu văn" (mỗi khi kẻ nào phạm pháp, được quyền trị tội ngay, rồi sau mới tâu lên
1
Năm trước đây là năm Bính Ngọ niên hiện Tuyên Đức thứ nhất, nhằm niên hiệu Thiên Khánh triều Trần thứ 2. Năm này
là năm ĐinhTỵ, liền sát ngay với năm trước, sao lại chép niên hiệu thứ 21? Hoặc chép lầm chăng ?.
2
Đây là tên người, nhưng chính bản chỉ chép một chữ "Lê" (họ Lê) mà bên dưới bỏ trắng khoảng một chữ. Vậy không
biết viên này tên là gì ?.
14 Đại Việt Thông Sử - Quyển I - Đế Kỷ Đệ Nhất (BD:LML)
vua), rồi sai các Tướng đóng đồn giữ nơi đây: Lê Vấn đóng đồn tại cửa Đông thành Đông Quan; Đinh Lễ,
Lê Sát, Lê Lý và Lê Chích đóng đồn tại cửa Nam; Lê Bị đóng đồn tại cửa Tây; Lê Triện và Lê Văn An đóng
đồn tại cửa Bắc.
Ra lệnh cho các xứ : Tam Giang, Tam Đới, Tuyên Quang và Qui Hóa nộp thứ tre [tờ 31b] nứa,
dựng bức thành ở dưới nước, vào phía bờ bên Bắc sông Nhĩ Hà.
Lê Chích đánh chiếm được thành Đao Kê, viên Chỉ huy là Trương Lân và viên Tri phủ là Trần Vân
ra đầu hàng.
Chế tạo súng Tương dương, để dùng vào việc đánh phá thành trì.
Ra lệnh cho người trong nước: Người nào có cha mẹ vợ con, anh em, tôi tớ hoặc họ hàng, đã
trót theo quân địch ở trong thành, cho phép tự nguyện đến ghi tên
1
, chờ sau khi phá được thành, sẽ
chiếu đó giao cho đưa về gia đình. Nếu không khai, đến khi thành phá, lại tư túi tranh nhận xin về chung
sống, sẽ trị tội theo quân luật.
Ban cho các viên Phụ đạo ở các Xứ chức Thủ ngự đoàn luyện, phẩm tước tùy theo từng hạng.
Ngày 7, tháng 2, Thiếu úy là Lê Triện, đánh nhau với Tướng nhà Minh là Phương Chánh ở Khỏa
Động, Triện bị tử trận, Đỗ Bí thì bị giặc bắt.
Ngày 19, quân Minh đánh đồn Bài Sa Đôi thuộc huyện Từ Liêm, quan quân đóng vững cửa thành
và cố sức chống cự, tới khi hết tên đạn [tờ 32a] phải lấy cả vò lọ và gạch nấu bếp liệng ra, quân địch
không tiến nổi, sau phải giỡ nhà của dân chất đống lại, phóng lửa đốt theo chiều gió, rồi kéo nhau bơi lội
qua sông, bị chết đuối khá nhiều. Duy đạo quân Thiên quan không biết bơi lội, ở lại thù tử chiến đấu,
quân địch phải thua chạy.
Lê Chích dẫn quân vây đánh thành Thị Kiều, Tướng nhà Minh là Vương Đường và Bảo Trinh ra
hàng.
Hoàng đế sai Nguyễn Trãi đi cùng với người đã hàng là viên chỉ huy họ Tăng đến thành Tam
Giang chiêu dụ (khuyên hàng).
Sứ thần nước Chiêm Thành lại nước ta dâng cống hiến, Hoàng đế đãi yến, khi trở về ngài lại ban
cho lụa vải và con ngựa, và sai Thiêm tri khu mật là Hà Lật đi cùng với sứ giả tới Chiêm Thành để tuyên
bố ủy lạo.
Ra lệnh các Tướng Tá lại bắt đầu lập công mới. Tự các vị đại thần tới chức Thái úy, ai có công
lớn được thưởng "kim phù", thì được hưởng thuế một Quận; các viên Chấp lệnh có công được hưởng
một Ấp; các viên Đốc Tướng và quân nhân có công [tờ 32b] cũng được hưởng một Quận hoặc một Ấp,
tùy theo từng hạng. Những vị nào không có công thưởng, thẩy đều giáng xuống hạng dân thường.
Ban tờ chiếu cho các điạ phương, nơi nào có Lăng Miếu của các vị vua thời trước, mà bị người
Minh phá hủy, thì quan chức nơi ấy phải tu sửa lại, và phái người trông coi; mỗi Lăng mấy người, tùy
theo từng hạng.
Tháng 3, duyệt binh ở Vĩnh Động, hàng ngũ đội binh của viên Chánh đốc là Nguyễn Liên Khiếm
Khuyết, khí giới lại không tề chỉnh, liền chém đầu Nguyễn Liên để làm gương.
Phong chức Thượng thư bộ lễ, và Kiêm Tư đông đạo quân dân bạ tịch cho Bùi Ư Đài.
Ra lệnh cho ba quân: Kẻ nào có chí hi sinh về việc nước, mà tinh thông võ nghệ, có sức mạnh,
tính quả cảm, đều được tự đến tiến thân, sẽ tuyển vào đội thị vệ nơi Nội phủ.
1
Câu này bản chính chép: "Hứa tự nguyện đăng thành" (cho phép được tự nguyện lên trên thành). Hai chữ "đăng thành"
(lên trên thành) đáng ngờ. Vì đang lúc hai bên đánh nhau, mặt thành là nơi canh phòng cẩn mật, người thường đâu có thể lên
được. Vả lại trèo lên thành để làm gì ?như vậy đũ rõ hai chữ "đăng thành" là không hợp văn lý. hoặc do chữ "đăng ký" (ghi tên vào
quyển sổ) chép lộn ra chăng ? Vậy xin dịch theo nghĩa chử "đăng ký".
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét