Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

làm rõ cơ sở khoa học của đa dạng hoá sản phẩm, luận giải những vấn đề cơ bản của đa dạng hoá sản phẩm trong nền kinh tế thị trường của các doanh nghiệp nói chung và của nhà máy Chỉ khâu nói riêng.doc.DOC

1.2.8.Phân loại sản phẩm theo công dụng kinh tế của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm là t
liệu sản xuất và sản phẩm là t liệu tiêu dùng.
Tuỳ thuộc vào đối tợng sử dụng mà hàng hoá đó là t liệu sản xuất hay vật
phẩm tiêu dùng nh: chỉ nếu khách hàng là ngời tiêu dùng mua để khâu vá hay may
thì đó là vật phẩm tiêu dùng, nếu đó là doanh nghiệp mua để may thành quần áo,
giày dép hoàn chỉnh bán ra thị trờng thì đó là t liệu sản xuất.
2.Danh mục sản phẩm:
Một danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm một ng-
ời bán cụ thể đa ra để bán cho ngời mua.
Danh mục sản phẩm của một công ty bao gồm chiêù rộng, chiều dài, chiều
sâu và mật độ.
-Chiều rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện doanh nghiệp
có bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau.
-Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sản
phẩm.
-Chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao nhiêu phơng
án của mỗi sản phẩm trong loại. Ví dụ: 1 loại sản phẩm kem đánh răng Crest có 3
kích cỡ và 2 công thức nên chiều sâu của sản phẩm này là 6.
-Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độ
nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị
sản xuất
Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xác định
chiến lợc sản phẩm của công ty
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tuỳ thuộc vào trách nhiệm của
những ngời hoạch định chiến lợc của công ty căn cứ vào những thông tin do
những ngời làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Họ phải đánh giá những
loại sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loại bỏ.
3.Đa dạng hoá sản phẩm:
3.1.Khái niệm đa dạng hoá sản phẩm
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trình
sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ cấu sản
phẩm hợp lý. Một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trờng, phù hợp với
khả năng, năng lực của doanh nghiệp và cho phép các doanh nghiệp tối đa hoá lợi
nhuận.
Trong điều kiện nhu cầu thị trờng rất đa dạng, thờng xuyên biến động, tiến
bộ khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển mạnh mẽ, thì cơ cấu sản phẩm phải đợc
coi là cơ cấu động, nghĩa là phải thờng xuyên đợc thay đổi, hoàn thiện, cải tiến
5
và đổi mới. Bởi đây là một trong những điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo cho
doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng đầy khắc nghiệt.
Quá trình hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm có thể đợc thực hiện theo
nhiều chiều hớng khác nhau nh:
-Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, kém
cạnh tranh hay những sản phẩm không tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
hông có tính cạnh tranh.
1.2.2.Phân loại sản phẩm theo mối quan hệ với thu nhập:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá thông
thờng và hàng xa xỉ.
-Hàng thông thờng là những sản phẩm mà mọi tầng lớp trong xã hội đều có
thể tiêu dùng một cách bình thòng.
-Hàng xa xỉ là những sản phẩm dành cho các đối tợng có thu nhập cao trong
xã hội nh: ô tô, điều hoà
1.2.3.Phân loại sản phẩm theo khả năng thay thế lẫn nhau:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá bổ sung
và hàng hóa thay thế.
-Hàng hoá bổ sung là hàng hoá khi tiêu dùng phải theo một cơ cấu và đồng
bộ nhau, không thể tách rời nhau đợc nh: ô tô và xăng, thuốc lá và bật lửa
-Hàng hoá thay thế là hàng hoá khi tiêu dùng độc lập với nhauvà khi cần có
thể thay thế cho nhau nh: bật lửa và diêm, bia và rợu, bếp dầu và bếp gas
1.2.4.Phân loại sản phẩm theo tuổi thọ của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá lâu bền
và hàng hóa không lâu bền.
-Hàng lâu bền là hàng có thể sử dụng đợc trong một thời gian dài nh: ô tô,
xe máy, nhà cửa
-Hàng không lâu bền là những vật rẻ tiền, mau hỏng nh: bút chì, tẩy
1.2.5.Phân loại sản phẩm theo tần số mua:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng mua thờng
xuyên và hàng không mua thờng xuyên.
-Hàng mua thờng xuyên là hàng hoá cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và
ngời tiêu dùng nó phải thờng xuyên tiêu dùng nó nh: quần áo, giày dép
-Hàng mua không thờng xuyên là hàng hoá mà ngời tiêu dùng không tiêu
dùng nó thờng xuyên nh: áo cới,
1.2.6.Phân loại sản phẩm theo mức độ cấp thiết:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng dùng ngay
và hàng đắn đo.
6
1.2.7.Phân loại sản phẩm theo mức độ chế biến sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm trung
gian và sản phẩm cuối cùng.
-Sản phẩm trung gian là những sản phẩm còn phải trải qua một hoặc một số
bớc chế biến nữa mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho tiêu dùng nh: xơ
bông để kéo sợi, sợi để dệt vải, vải để may quần áo
-Sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh có thể phục vụ cho
tiêu dùng nh: quần áo, giầy dép
1.2.8.Phân loại sản phẩm theo công dụng kinh tế của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm là t
liệu sản xuất và sản phẩm là t liệu tiêu dùng.
Tuỳ thuộc vào đối tợng sử dụng mà hàng hoá đó là t liệu sản xuất hay vật
phẩm tiêu dùng nh: chỉ nếu khách hàng là ngời tiêu dùng mua để khâu vá hay may
thì đó là vật phẩm tiêu dùng, nếu đó là doanh nghiệp mua để may thành quần áo,
giày dép hoàn chỉnh bán ra thị trờng thì đó là t liệu sản xuất.
2.Danh mục sản phẩm:
Một danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm một ng-
ời bán cụ thể đa ra để bán cho ngời mua.
Danh mục sản phẩm của một công ty bao gồm chiêù rộng, chiều dài, chiều
sâu và mật độ.
-Chiều rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện doanh nghiệp
có bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau.
-Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sản
phẩm.
-Chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao nhiêu phơng
án của mỗi sản phẩm trong loại. Ví dụ: 1 loại sản phẩm kem đánh răng Crest có 3
kích cỡ và 2 công thức nên chiều sâu của sản phẩm này là 6.
-Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độ
nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị
sản xuất
Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xác định
chiến lợc sản phẩm của công ty
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tuỳ thuộc vào trách
nhiệm của những ngời hoạch định chiến lợc của công ty căn cứ vào những thông
tin do những ngời làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Họ phải đánh giá
những loại sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loại bỏ.
3.Đa dạng hoá sản phẩm:
3.1.Khái niệm đa dạng hoá sản phẩm
7
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trình
sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ cấu sản
phẩm hợp lý. Một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trờng, phù hợp với
khả năng, năng lực của doanh nghiệp và cho phép các doanh nghiệp tối đa hoá lợi
nhuận.
Trong điều kiện nhu cầu thị trờng rất đa dạng, thờng xuyên biến động, tiến
bộ khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển mạnh mẽ, thì cơ cấu sản phẩm phải đợc
coi là cơ cấu động, nghĩa là phải thờng xuyên đợc thay đổi, hoàn thiện, cải tiến
và đổi mới. Bởi đây là một trong những điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo cho
doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng đầy khắc nghiệt.
Quá trình hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm có thể đợc thực hiện theo
nhiều chiều hớng khác nhau nh:
-Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,
kém cạnh tranh hay những sản phẩm không tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
-Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất, những sản phẩm cải tiến,
hoàn thiện về mặt hình thức và nội dung, kiểu dáng, mẫu mã, thế hệ sản phẩm
mới.
-Bổ sung thêm vào danh mục những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu và
xu hớng phát triển của thị trờng.
-Chuyển hoá vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm, tức là: đa những
sản phẩm ở hàng thứ lên vị trí hàng đầu và ngợc lại bằng cách thay đổi định lợng
sản xuất mỗi loại.
Những sản phẩm mới, bổ sung này có thể là mới tuyệt đối (mới đối với cả
doanh nghiệp và thị trờng), có thể là mới tơng đối (mới với doanh nghiệp và không
mới với thị trờng).
c.Hỗn hợp:
Doanh nghiệp kết hợp xen kẽ giữa biến đổi chủng loại sản phẩm và đổi mới
chủng loại sản phẩm, nghĩa là doanh nghiệp thực hiện đồng thời:
-Hoàn thiện, cải tiến một số sản phẩm đang sản xuất
-Loại bỏ sản phẩm (lỗi thời, kém cạnh tranh, khó tiêu thụ )
-Bổ sung những sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm.
Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm theo hớng biến đổi danh mục sản phẩm,
doanh nghiệp phải theo sát sự biến động của nhu cầu sản phẩm trên thị trờng, tận
dụng quyền lực, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh nhờ các tuyến sản phẩm bổ
sung, hỗ trợ nhau từ tài chính, vận chuyển, cơ sở vật chất kỹ thuật và thị trờng.
3.3.2.Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm:
Theo cách phân loại này có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
a.Đa dạng hoá theo chiều sâu nhu cầu mỗi loại sản phẩm:
8
Doanh nghiệp lấy sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu để mở rộng danh mục
sản phẩm bằng cách tăng thêm nhiều mâũ mã, kiểu cách, chức năng, công dụng để
đáp ứng toàn diện nhu cầu của các đối tợng/ khách hàng khác nhau về cùng một
loại sản phẩm.
Hình thức đa dạng hoá sản phẩm gắn liền với việc phân đoạn nhu cầu sản
phẩm (hay phân đoạn thị trờng sản phẩm )
b.Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm:
Doanh nghiệp lấy sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu để mở rộng danh mục
sản phẩm bằng cách chế tạo một số loại sản phẩm có kết cấu, công nghệ sản xuất,
giá trị sử dụng cụ thể khác nhau, hay nói cách khác, doanh nghiệp sản xuất một số
loại sản phẩm bổ sung để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quan với nhau
của đối tợng tiêu dùng.
c.Đa dạng hoá theo h ớng thoát ly sản phẩm gốc:
Đa dạng hoá theo hớng thoát ly sản phẩm gốc là đa danh mục sản phẩm
mới không liên quan đến sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu cả về giá trị sử dụng
và công nghệ sản xuất vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
3.3.3.Xét theo mối quan hệ với sử dụng nguyên liệu chế tạo sản phẩm:
Có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
-Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhng có chung
chủngloại sản phẩm gốc.
-Sử dụng các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên liệu để sản xuất
một số loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau.
3.3.4.Xét theo ph ơng thức thực hiện:
Có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
a.Đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có:
Bằng việc áp dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm đợc đầu t,
giảm bớt thiệt hại do khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng đợc khả năng
sản xuất, năng lực hiện có của doanh nghiệp, tận dụng hết công suất thiết bị.
Tuy nhiên, sự tận dụng này lại dẫn đến hạn chế khả năng mở rộng danh
mục sản phẩm của doanh nghiệp.
b.Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở hiện có kết hợp với đầu t bổ sung:
Mở rộng danh mục sản phẩm đòi hỏi phải có đầu t, nhng đầu t ở đây chỉ
dừng lại ở nghĩa bổ sung, nhằm khắc phục khâu yếu kém, khâu thiếu khi thực hiện
đa dạng hoá sản phẩm. So với phơng thức trên, phơng thức này có khả năng mở
rộng danh mục sản phẩm cao hơn.
c.Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu t mới:
Hình thức này đợc áp dụng khi doanh nghiệp quyết định triển khai sản xuất
các sản phẩm mới mà khả năng, năng lực sản xuất hiện tại cha đáp ứng đợc.
9
Hình thức này thờng có nhu cầu đầu t cao mà rủi ro cũng cao, nhng khả
năng sản xuất đợc mở rộng. Hình thức này đòi hỏi nhà quản lý phải có tính mạo
hiểm, cơng quyết.
Nhận xét từ các hình thức đa dạng hoá sản phẩm:
-Trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có
thể thấy nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩm khác nhau. Các cách phân loại chỉ
là sự tiếp cận các hình thức đa dạng hoá sản phẩm theo những góc độ khác nhau.
-Mỗi hình thức đa dạng hoá sản phẩm có những u việt riêng và chúng chỉ
bộc lộ khi doanh nghiệp đảm bảo cho nó có những điều kiện thích hợp mà hình
thức này đòi hỏi.
-Dù áp dụng một hay nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩm thì cũng làm
cho danh mục sản phẩm của mỗi doanh nghiệp đợc mở rộng, cơ cấu sản phẩm trở
nên phức tạp hơn và mỗi doanh nghiệp có thêm nhiều thang, dòng và mặt hàng sản
phẩm.
4.Tầm quan trọng của đa dạng hoá sản phẩm:
4.1.Sự cần thiết khách quan của đa dạng hoá sản phẩm:
Trong những năm gần đây, lý luận và thực tiễn quản trị có những thay đổi
to lớn và đợc sự chú ý của các nhà lý luận và các nhà quản trị thực tiễn. Để thấy đ-
ợc tầm quan trọng của đa dạng hoá sản phẩm, cần tìm hiểu những đặc điểm lớn
của môi trờng kinh doanh hiện đại. Những đặc điểm này chi phối và quyết định sự
tồn tại và phát triển của tất cả các doanh nghiệp hiện nay. Nó vừa tạo ra những cơ
hội, vừa tạo ra những thách thức cho sự phát triển.
Thứ nhất, đa dạng hoá sản phẩm là điều kiện đảm bảo doanh nghiệp công
nghiệp thích ứng với nhu cầu đa dạng của thị trờng và sự vận động biến đôỉ của thị
trờng.
Thị trờng luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng làm nảy sinh những
nhu cầu mới, những đòi hỏi mới cao hơn, khắt khe hơn những sản phẩm đã và
đang tồn tại, đào thải những sản phẩm đã lỗi thời. Sự vận động biến đổi ấy mang
tính chất tự nhiên, phổ biến, quy luật ở tất cả các nớc trên thế giới.
Đặt mình vào môi trờng kinh doanh đa dạng và luôn vận động nh vậy,
doanh nghiệp phải có đối sách để đảm bảo sự thích ứng với thị trờng, để tồn tại và
phát triển. Để làm đợc điều đó, mỗi doanh nghiệp phải luôn bám sát những diễn
biến của các quan hệ cung cầu trên thị trờng, định hớng sản xuất, xác định cho
mình một danh mục và cơ cấu sản phẩm hợp lý. Nghĩa là, doanh nghiệp phải luôn
hoàn thiện sản phẩm đang sản xuất ngay cả khi chúng đang ở giai đoạn hng thịnh
nhất. Song song với công việc ấy, doanh nghiệp cũng cần mở rộng danh mục sản
phẩm của mình để đạt tới cơ cấu sản phẩm có hiệu quả trong điều kiện mới của
môi trờng kinh doanh. Điều đó đòi hỏi ngời kinh doanh phải có tầm nhìn chiến lợc
xa, phải luôn biết hoàn thiện cái đang thực hiện và chuẩn bị đón lấy cái mới ngay
trong hiện tại, không chờ đến khi thị trờng từ chối sản phẩm của mình mới tự lo
ứng phó.
10
Chính nhờ sự chủ động này, doanh nghiệp có đợc tính tích cực trong hớng
dẫn tiêu dùng, tác động tích cực đến thị trờng, tạo nên lợi thế so với các đối
thủ cạnh tranh trên thị trờng.
Trong tình hình nhu cầu thị trờng kinh doanh đa dạng mà cơ hội không gõ
cửa hai lần, đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc kỹ lỡng, phải nắm
nhanh cơ hội kinh doanh, phát huy lợi thế tơng đối so với các doanh nghiệp khác.
Nh vậy, sự đa dạng và vận động của thị trờng đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
công nghiệp phải năng động cải biến, hoàn thiện cơ cấu sản phẩm của mình theo
hớng đa dạng hoá nếu không muốn bị đào thải khỏi trờng kinh doanh.
Thứ hai, đa dạng hoá sản phẩm gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diễn ra nh vũ bão. Với tốc độ này, một
khối lợng khổng lồ các kiến thức và công nghệ đợc tạo ra. Những lợi ích to lớn của
cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật-công nghệ đã đợc biết đến nhiều song cũng tạo
ra những thách thức lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Tiến bộ khoa học
công nghệ đợc áp dụng vào sản xuất và đời sống làm tăng thêm tính đa dạng của
nhu cầu, làm nảy sinh những nhu cầu mới, rút ngắn chu kì sống của sản phẩm và
tạo ra những khả năng sản xuất mới, làm xuất hiện những cơ hội kinh doanh mới.
Không những sản phẩm bị lỗi thời mà công nghệ cũng trong tình trạng tơng
tự. Sự lạc hậu của công nghệ và sản phẩm đòi hỏi các doanh nghiệp phải tranh thủ
nắm bắt nhanh những thành tựu cải tiến của khoa học kỹ thuật và thể hiện nó trong
cơ cấu sản phẩm, phải khuyến khích mọi ngời sáng tạo.
Hiện nay, nhân loại đang chứng kiến những thành tựu to lớn về khoa học-kỹ
thuật-công nghệ. Doanh nghiệp nào không chú ý đến, không nắm bắt nhanh những
thành tựu ấy, tự hài lòng với những gì hiện có, doanh nghiệp sẽ bị đào thải khỏi th-
ơng trờng.
Thứ ba, cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp công nghiệp và giữa sản
phẩm công nghiệp đang diễn ra khốc liệt.
Hoạt động trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp bị chi phối bởi quy luật
cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có những đối sách, chiến lợc thị trờng với
những vũ khí cạnh tranh có hiệu quả. Hàng hoá và dịch vụ trớc khi đa ra thị trờng
phải đợc nghiên cứu tỉ mỉ, doanh nghiệp cần phải biết mình xâm nhập bằng vũ khí
gì. Và có thể nói rằng việc xác định cho mình một cơ cấu sản phẩm hợp lý là một
trong những vũ khí cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp.
Tóm lại, để có thể tồn tại và phát triển, đợc những thành công trong sản
xuất kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trờng, tránh đợc rủi ro, lợi nhuận cao, thì
đa dạng hoá sản phẩm là một tất yếu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp công
nghiệp.
4.2.Vai trò của đa dạng hoá sản phẩm:
Trớc những đặc điểm lớn vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các doanh
nghiệp đợc trình bày ở phần trên, đa dạng hoá sản phẩm có vai trò đặc biệt quan
trọng.
11
Tr ớc hết , đa dạng hoá sản phẩm nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh
nghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh nh mục tiêu về lợi nhuận, mục
tiêu về thế lực, mục tiêu về an toàn
1.Khả năng sinh lời:
Mục đích của kinh doanh là tối đa hoá lơị nhuận trong điều kiện cho phép,
kinh doanh phải có lợi nhuận, không có lợi nhuận thì sẽ tiêu tan mọi mục đích
khác cũng nh toàn bộ sự nghiệp của một doanh nghiệp.
Đứng trên góc độ kinh tế mà xét, lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra. Ngoài ra, lợi nhuận còn đợc xét
bằng nhiều chỉ tiêu khác nh: tỷ suất lợi nhuận, tốc độ tăng trởng lợi nhuận và
cuối cùng cần phải xác định đợc tổng mức lợi nhuận trong một thời gian nhất
định.
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp luôn phải gắn liền với sự tăng lợi
nhuận. Đa dạng hoá sản phẩm đợc tạo dựng trớc hết vì điều này chứ không phải vì
bất kì một mục tiêu nào khác.
2.Thế lực của doanh nghiệp:
Thế lực là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Trong cuộc cạnh tranh gay gắt
với các đối thủ khác, doanh nghiệp phải tìm mọi cách để giành đợc lợi, xác định vị
trí của mình trên thơng trờng và tăng thế lực của mình lên cao hơn.
Thế lực của doanh nghiệp thờng đợc đo bằng thị phần mà doanh nghiệp
kiểm soát đợc, bằng tỷ trọng hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp so với tổng l-
ợng cung về hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trờng, bằng mức độ tích tụ và tập trung
của doanh nghiệp, khả năng liên doanh, liên kết và mức độ phụ thuộc của các
doanh nghiệp khác vào doanh nghiệp mình và ngợc lại
Có thể nói, thế lực là một vũ khí tối u và có hiệu quả trong cạnh tranh với
các doanh nghiệp khác. Vì vậy, nó là mục tiêu chủ yếu cần đợc thực hiện trong
hoạch định chiến lợc của doanh nghiệp.
3.An toàn trong kinh doanh:
Kinh doanh không phải lúc nào cũng thành công và suôn sẻ, mà nó cũng
gắn liền với những thất bại, rủi ro không lờng hết đợc. Một phơng án táo bạo, cạnh
tranh càng gay gắt thì khả năng thu lợi càng lớn và mức độ rủi ro, nguy hiểm đối
với doanh nghiệp càng cao. Trong nền kinh tế thị trờng, rủi ro trong kinh doanh
tồn tại dới nhiều dạng khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể là những yếu
tố trong nội bộ doanh nghiệp nh: công nghệ sản xuất, trình độ tay nghề, chất lợng
sản phẩm, giá cả, vốn hoặc các yếu tố ngoại cảnh nh: thị hiếu tiêu dùng, các
chính sách, luật pháp của nhà nớc, tai họa do thiên tai
Rủi ro trong kinh doanh là điều mà các nhà doanh nghiệp không mong đợi,
vì thế, khi xây dựng một phơng án, chiến lợc kinh doanh, các nhà quản trị đều phải
lựa chọn phơng pháp phòng ngừa rủi ro để đảm bảo an toàn trong kinh doanh cho
12
doanh nghiệp mình. Khi gặp rủi ro, doanh nghiệp có thể hạn chế, ngăn ngừa nó ở
mức thấp nhất, ít tổn hại đến thực lực của mình nhất.
Trên đây là ba mục tiêu chủ yếu, luôn ở vị trí hàng đầu trong các mục tiêu
mà chiến lợc vạch ra nhng vấn đề là phải chọn ra đợc những mục tiêu then chốt.
Xác định đúng và rõ ràng những mục tiêu then chốt sẽ là cơ sở và kim chỉ nam cho
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, đa dạng hoá sản phẩm có vai trò tích cực trong việc đáp ứng những
nhu cầu muôn hình muôn vẻ của thị trờng.
Nhờ đa dạng hoá sản phẩm, danh mục sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng
và danh mục sản phẩm của toàn nền kinh tế nói chung trở nên phong phú, đa dạng,
tăng sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại, tăng sức tìm tòi sáng tạo chạy
đua của các doanh nghiệp. Và từ đó các doanh nghiệp trong nớc sẽ có chỗ đứng
trên thị trờng khu vực và quốc tế. Đa dạng hoá sản phẩm giúp cho đất nớc thoát
khỏi sự lạc hậu, tụt hậu để hoà nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới.
Thứ ba, đa dạng hoá sản phẩm là điều kiện cần thiết để phát huy vai trò chủ
thể sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp, phát huy quyền chủ động, tự chủ trong
sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trờng, mỗi doanh nghiệp công nghiệp là một chủ thể sản
xuất hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp công nghiệp phải có những quyền hạn tơng
ứng, trong đó, chủ yếu và trớc hết là có quyền thực sự trong việc xác định nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh của mình qua việc xây dựng danh mục và cơ cấu sản phẩm
có hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện vai trò chủ thể sản xuất hàng hoá của mình, mục
tiêu của doanh nghiệp và mục tiêu của xã hội có thể mâu thuẫn với nhau. Trong tr-
ờng hợp này, việc doanh nghiệp cỡng lại yêu cầu, mục tiêu, ý chí của xã hội là
không thể chấp nhận đợc. Ngợc lại, việc nhà nớc áp đặt t tởng chủ quan của mình,
can thiệp thô bạo vào hoạt động của doanh nghiệp dới bất kỳ hình thức nào cũng
đồng nghĩa với vi phạm chủ thể sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp. Bởi vậy, cần
có những biện pháp kết hợp hài hoà các lợi ích và mục tiêu khác nhau.
Trong xác định cơ cấu sản phẩm của mình, trừ những sản phẩm trọng yếu
thuộc cân đối chung của nhà nớc, doanh nghiệp nhà nớc có quyền lựa chọn mặt
hàng kinh doanh phù hợp với năng lực sản xuất của mình, nhà nớc chỉ định hớng
phát triển chung và sử dụng những công cụ thích ứng, góp phần thực hiện những
mục tiêu chung của xã hội.
Thứ t , đa dạng hoá sản phẩm là giải pháp tích cực nâng cao hiệu quả kinh
tế, đảm bảo việc làm và nâng cao thu nhập cho ngời lao động.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh là nhiệm
vụ trung tâm của công tác quản lý doanh nghiệp. Trong từng doanh nghiệp, hiệu
quả kinh tế đạt đợc là tất cả tiềm lực đợc huy động và sử dụng cho việc thực hiện
cơ cấu sản phẩm đã xác định.
13
Trong thực tế, hiện tợng có tính phổ biến là các nguồn lực của các doanh
nghiệp công nghiệp không tận dụng hết mức sản xuất thực tế, mà thờng nằm dới
đờng giới hạn khả năng sản xuất. Việc đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn
lực sẵn có là cần thiết, cho phép tận dụng triệt để hơn hàm lợng các chất có ích
trong nguyên liệu, mở rộng chủng loại sản phẩm từ một loại nguyên liệu, tận dụng
các nguồn lực d thừa, phế liệu, phế phẩm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, tăng năng lực sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống cho ngời
lao động và góp phần thoả mãn những nhu cầu đa dạng hoá của xã hội.
Thứ năm, việc mở rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp còn cho phép
doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh nhờ các tuyến sản phẩm có sự bổ
sung hỗ trợ nhau.
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hớng phát triển ngày càng phổ biến
của các doanh nghiệp công nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn, các tập đoàn kinh
doanh Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sự tiến bộ
của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật công nghệ và quy luật cạnh tranh trên thị tr-
ờng, các doanh nghiệp ngày càng sử dụng rộng rãi các hình thức đa dạng hoá sản
phẩm. Quá trình này đem lại những giá trị bổ sung khiến các doanh nghiệp phát
triển khá linh hoạt, nhạy cảm và có sức đề kháng cao trong cạnh tranh. Chính vì
vậy, đa dạng hoá sản phẩm đợc coi là một trong những giá trị kinh doanh phổ biến
giúp các doanh nghiệp chẳng những trụ vững mà ngày càng phát triển trên con đ-
ờng sản xuất kinh doanh.
II. Các nhân tố ảnh h ởng tới đa dạng hoá sản phẩm:
1.Những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp:
1.1.Đặc điểm sản phẩm - chu kì sống của sản phẩm:
Đặc điểm sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đa dạng hoá sản
phẩm, ảnh hởng trực tiếp đến thị trờng tiêu thụ sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận,
vòng quay vốn
Nếu sản phẩm là t liệu tiêu dùng, vật liệu, nhất là sản phẩm công nghiệp
nhẹ nh: chỉ thêu, chỉ ren, chỉ may sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh. Vì vậy,
đối với những sản phẩm này đòi hỏi phải luôn có sự sáng tạo, tìm tòi cái mới, chất
liệu mới phù hợp với nhu cầu thị trờng
1.2.Đặc điểm kỹ thuật sản xuất:
Máy móc thiết bị có vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp công
nghiệp. Nó không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn doanh nghiệp mà còn
quyết định điều kiện và khả năng sản xuất kinh doanh. Máy móc thiết bị cũng là
một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn lực của doanh nghiệp. Việc phát huy tới
mức tối đa hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị là nhân tố quan trọng giúp doanh
nghiệp có chỗ đứng vững chắc trong cơ chế thị trờng và có sức mạnh trong cạnh
tranh.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét