Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay các Tổng công ty Nhà nước tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam

Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
Lời nói đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài.
Mở rộng cho vay, tăng d nợ lành mạnh và nâng cao thu nhập ngân hàng
luôn là một trong những mục tiêu dài hạn của một ngân hàng thơng mại
(NHTM). Để thực hiện điều đó, các ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp,
nhằm vào nhiều nhóm khách hàng. Sự ra đời và phát triển của các Tổng Công ty
Nhà nớc theo các Quyết định 90/TTg và 91/TTg ngày 07/4/1994 ở nớc ta cũng
đã đợc các NHTM tập trung khai thác nhằm vào mục tiêu trên. Là những doanh
nghiệp Nhà nớc quy mô lớn, hoạt động theo mô hình mới, các Tổng Công ty
Nhà nớc có những lợi thế căn bản với t cách là khách hàng của một ngân hàng.
Mở rộng cho vay các Tổng Công ty Nhà nớc không chỉ có ý nghĩa với việc kinh
doanh của ngân hàng, nó còn giúp các Tổng Công ty mau chóng ổn định, phát
triển sản xuất - kinh doanh, góp phần thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế
chung. Tuy vậy, điều này hoàn toàn không đơn giản, bởi ngân hàng phải kết
hợp giữa mở rộng với nâng cao hiệu quả cho vay trong điều kiện cạnh tranh
ngày càng gay gắt. Hơn nữa, các Tổng Công ty Nhà nớc đợc thành lập hớng tới
mô hình tập đoàn kinh tế ở nớc ta trong những điều kiện riêng và có những đặc
điểm riêng, do đó để mở rộng cho vay các Tổng Công ty cần phải có những giải
pháp phù hợp.
Qua thời gian thực tập tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt
Nam, thực hiện kết hợp lý thuyết với thực tiễn, em chọn đề tài Giải pháp
nhằm mở rộng hoạt động cho vay các Tổng Công Ty Nhà nớc tại Sở giao
dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt Nam làm đề tài Khoá luận Tốt nghiệp
của mình.
5
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
ii. Mục đích nghiên cứu khóa luận.
Khoá luận đi từ những nội dung mang tính lý luận trong hoạt động cho
vay đối với các Tổng Công ty Nhà nớc của một NHTM, tới các vấn đề thực tiễn
trong hoạt động này đối với Sở giao dịch I từ đó đa ra những giải pháp, kiến
nghị cụ thể nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với các Tổng Công ty Nhà n-
ớc tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
iii. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: Hoạt động cho vay các Tổng Công ty Nhà nớc tại
Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào những vấn đề liên quan tới hoạt động
cho vay của ngân hàng đối với các Tổng Công ty Nhà nớc, những vấn đề trong
việc thực hiện cơ chế chính sách đối với hoạt động cho vay các Tổng Công ty
Nhà nớc tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt Nam, thời gian từ năm
1999 đến 2001 và 6 tháng đầu năm 2002.
iv. Phơng pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sự, ph-
ơng pháp hệ thống, so sánh - thống kê, phân tích kinh tế để nghiên cứu các vấn
đề đã nêu ra.
v. Kết cấu khóa luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm ba chơng:
Chơng I: Tổng quan về hoạt động cho vay của Ngân hàng thơng mại và
nhu cầu vay vốn của các Tổng Công ty Nhà nớc ở Việt Nam.
Chơng II: Thực trạng hoạt động cho vay các Tổng Công Ty Nhà nớc tại Sở
giao dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
Chơng III: Giải pháp nhằm mở rộng cho vay các Tổng Công Ty Nhà nớc tại Sở
giao dịch I - Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
6
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
Chơng I
Hoạt động cho vay của các Ngân hàng
thơng mại với các Tổng Công Ty nhà nớc
I - Hoạt động cho vay của các Ngân hàng thơng mại.
1. Khái niệm và đặc trng hoạt động cho vay của các NHTM:
1. 1. Khái niệm:
Theo nghĩa thông thờng, cho vay là việc chuyển giao một số tiền hay tài
sản nhất định cho ngời khác sử dụng với điều kiện có hoàn trả lại. Khái niệm
phổ biến này đợc dùng rộng rãi trong đời sống thờng ngày, từ những món tiền
hay tài sản có giá trị lớn cho tới những món tiền lớn hay đồ vật có giá trị nhỏ.
Với khái niệm này, hoạt động cho vay hay quan hệ vay mợn nói chung có 2 đặc
điểm chính là:
- Thứ nhất, trong quan hệ ấy, chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng (tiền,
tài sản) mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hay số tiền đó.
- Thứ hai, ngời cho vay đợc hoàn trả lại sau một thời gian nhất định theo
sự thoả thuận giữa hai bên: ngời cho vay và ngời đi vay.
Ngời cho vay có nhận đợc một khoản lãi nào hay không cũng phụ thuộc
vào sự thoả thuận này, và trong đời sống thờng ngày không phải bao giờ ngời
cho vay cũng lấy lãi.
Còn đối với các NHTM hay là các tổ chức tín dụng nói chung thì cho vay
là một nội dung nghiệp vụ. Đó là việc NHTM giao cho khách hàng một khoản
tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều kiện là họ phải hoàn trả lại
cùng với một khoản tiền vợt trội đóng vai trò là tiền lãi. Với một khoản vay mợn
thông thờng, ngời cho vay có thể không đòi hỏi một khoản lãi nào, điều này có
7
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
thể xuất phát từ những mối quan hệ cá nhân, hoặc ngời cho vay không phải là
ngời kinh doanh tiền Song đối với các NHTM, bao giờ họ cũng phải thu lãi, ít
nhất là phải đủ để trả lãi cho ngời gửi tiền vào ngân hàng, bởi vì họ cũng là
những ngời kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
ở Việt Nam, theo Quy chế cho vay ban hành kèm Quyết định 324/1998/
QĐ - NHNN1, thì Cho vay là một hình thức cung cấp tín dụng, theo đó tổ
chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn
lãi.
Với t cách là ngời cho vay, ngân hàng đáp ứng vốn cho các đơn vị, tổ
chức, cá nhân khi có nhu cầu cần đợc bổ sung vốn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, hoạt động cho vay của NHTM đã thực
hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.
Quá trình tái sản xuất xã hội thờng xuyên xuất hiện hiện tợng tạm thời thừa vốn
ở các tổ chức cá nhân này, trong khi các tổ chức cá nhân khác lại thiếu vốn và
có nhu cầu về vốn. Hiện tợng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về
thời gian, số lợng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức cá
nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải đợc tiến hành liên tục. Tín dụng
thơng mại đã không giải quyết đợc vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chức
chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn này thông qua
hoạt động cho vay của mình.
Ta cũng cần phân biệt giữa cho vay và cấp tín dụng: một ngân hàng có
thể cấp cho khách hàng các khoản tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, cho
thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, tín dụng chứng từ Cho vay chỉ là một hình
thức cấp tín dụng, song nó lại là một hình thức chủ yếu và quan trọng nhất của
các NHTM.
1.2. Đặc trng:
Hoạt động cho vay của các NHTM có các đặc trng sau:
8
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
- NHTM chuyển giao quyền sử dụng cho ngời đi vay một khoản tiền nhất
định.
- Ngời đi vay chỉ đợc sử dụng tạm thời, trong một thời gian nhất định, sau
khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, ngời đi vay phải hoàn trả cho NHTM.
- Giá trị đợc hoàn trả thông thờng lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách
khác ngời đi vay phải trả thêm phần lợi tức còn gọi là tiền lãi.
Tóm lại, hoạt động cho vay của NHTM mang những đặc trng cụ thể là:
Tính thời hạn, tính hoàn trả và lòng tin ngời vay sẽ sử dụng vốn có hiệu quả và
hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi.
2. Nội dung chủ yếu trong quy trình cho vay của các NHTM:
2.1. Tìm kiếm và thẩm định:
Các ngân hàng có thể có đợc yêu cầu vay vốn do khách hàng đa tới hoặc
ngân hàng chủ động tìm đến với các khách hàng có nhu cầu vay vốn để đề nghị
phục vụ. Khi đã có yêu cầu xin vay vốn, điều đầu tiên cán bộ tín dụng (CBTD)
phải làm là hớng dẫn khách hàng về thủ tục và điều kiện đợc xin vay vốn. Nếu
khách hàng đã nhất trí với các điều kiện và thủ tục ấy thì CBTD hớng dẫn họ lập
hồ sơ vay vốn để ngân hàng chính thức nghiên cứu, thẩm định. Mục đích của
thẩm định tín dụng là xác định khả năng và ý muốn của ngời vay trong việc
hoàn trả tiền vay phù hợp với các điều khoản của hợp đồng tín dụng, nói cách
khác là ớc lợng rủi ro không hoàn trả. Từ đó đa ra quyết định cho vay hay
không, và nếu cho vay thì cho vay bao nhiêu? Với kỳ hạn, lãi suất và phơng
thức cho vay nào? Khi tiến hành thẩm định, ngân hàng phải trả lời cho hai
loại câu hỏi lớn là phải thẩm định cái gì (thẩm định các yếu tố nào) và các
nguồn thông tin lấy từ đâu. Chúng ta sẽ đi vào xem xét cách trả lời với mỗi loại
câu hỏi trên.
Trả lời câu hỏi thẩm định cái gì ? Các ngân hàng lại thờng chia ra
thành thẩm định các yếu tố về bản thân khách hàng và thẩm định về phơng án,
dự án xin vay vốn.
a/ Các yếu tố về bản thân khách hàng:
9
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
Năng lực vay nợ: Các ngân hàng quan tâm trớc tiên đến năng lực pháp lý
và năng lực hành vi dân sự của khách hàng. Là khách hàng, cá nhân họ phải là
những công dân đến tuổi trởng thành (theo luật Việt Nam là 18 tuổi trở lên),
nếu không họ phải đợc cha mẹ hay ngời giám hộ bảo lãnh và cùng ký vào đơn
xin vay tiền. Đối với các tổ chức kinh tế (TCKT), ngân hàng xét xem nó có đủ
t cách pháp nhân không, các giấy tờ xác minh t cách ấy, tính độc lập và tự chịu
trách nhiệm trong việc đa ra các quyết định của các TCKT đó nh thế nào? Ai là
ngời có thẩm quyền đại diện cho công ty trong quan hệ vay mợn? Đây là những
yếu tố mà bắt buộc ngân hàng phải xem xét.
Uy tín của khách hàng: Uy tín ở đây không chỉ trong quan hệ của khách
hàng với ngân hàng, mà còn trong các quan hệ tín dụng cũng nh kinh tế với các
ngân hàng và đối tác khác. Lịch sử các mối quan hệ này của khách hàng trong
đó có việc thực hiện các hợp đồng tín dụng thờng rất có giá trị khi đánh giá uy
tín của họ. Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng cũng nắm đợc rõ ràng các
yếu tố này mà còn phải phán đoán sự sẵn lòng trả nợ cũng nh sự cố gắng thực
hiện hợp đồng tín dụng.
Năng lực tài chính của khách hàng: ở đây, các NHTM sẽ xác định vốn
kinh doanh của doanh nghiệp xin vay, và họ sẽ không bao giờ cấp một món vay
nào cho doanh nghiệp nếu không đợc đảm bảo bằng vốn kinh doanh. Vốn kinh
doanh là một trong những tiêu chuẩn đo lờng sức mạnh tài chính của khách
hàng, và cũng là một yếu tố quyết định tới khối lợng tín dụng mà ngân hàng sẵn
lòng cung cấp. Các ngân hàng còn phải xem xét khả năng độc lập, tự chủ tài
chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của ngời vay. Điều
này đợc thực hiện thông qua phân tích các chỉ tiêu đặc trng tài chính của doanh
nghiệp nh tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ thanh toán hiện hành, vốn lu động thực
tế chủ sở hữu, vòng quay vốn lu động, hệ số tài trợ trong tổng tài sản Bên
cạnh đó, năng lực tài chính của doanh nghiệp, trong đó có yếu tố lợi nhuận,
chịu tác động của nhiều yếu tố nội tại của doanh nghiệp ấy, đó là khả năng
quản lý, khả năng kỹ thuật - công nghệ, sức cạnh tranh. Đây cũng là những đối
10
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
tợng trong thẩm định của ngân hàng, và tất nhiên họ sẽ đánh giá cao các doanh
nghiệp có hệ thống quản lý có hiệu lực, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có sức
cạnh tranh tốt trên thị trờng.
Thẩm định tài sản thế chấp, cầm cố (nếu có): Về nguyên tắc, những tài
sản đem cầm cố, thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của ngời vay, và ngời vay
phải chứng minh đợc điều đó trớc ngân hàng bằng những tài liệu hợp pháp.
Không chỉ nh vậy, CBTD còn phải thẩm định giá trị những tài sản ấy một cách
chính xác theo giá cả thị trờng hiện tại và giá trị thanh lý (thờng thấp hơn nhiều
giá cả thị trờng hiện tại) trong trờng hợp ngời vay không trả nợ hoặc có sự biến
động về giá cả của những tài sản đó.
Bên cạnh đó, các điều kiện kinh tế tuy không phải là yếu tố thuộc về bản
thân khách hàng nhng nó lại tác động tới khả năng trả nợ, tới phơng án, dự án
sử dụng vốn vay của khách hàng với vai trò là môi trờng hoạt động của cả các
doanh nghiệp và ngân hàng. CBTD sẽ phải liên tục tổng hợp và phân tích các
thông tin về nhịp độ tăng trởng kinh tế của đất nớc, nh tỷ lệ lạm phát, thất
nghiệp, lãi suất chiết khấu của NHTW, cân đối ngân sách, cân đối thanh toán và
tỷ giá hối đoái và phân tích đợc các thông tin về lĩnh vực hoạt động của khách
hàng.
b/ Về thẩm đinh phơng án, dự án xin vay:
Trớc hết, ngân hàng phải xem xem phơng án sử dụng vốn vay có phù hợp
với kế hoạch SXKD, với điều kiện thị trờng hay không; các điều kiện để thực
hiện thành công phơng án, các định mức kinh tế - kỹ thuật, các số liệu về thu
nhập và chi phí cũng nh lợi nhuận dự kiến có hợp lý không? Điều này xuất phát
từ mối quan hệ tay ba ngân hàng - doanh nghiệp - thị trờng.
Đối với những yêu cầu xin vay vốn ngắn hạn bổ sung cho vốn lu động,
nguồn trả nợ trực tiếp nhất là doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hình thành
từ nguồn vốn vay. Ngân hàng thờng thiết lập mối tơng quan giữa khoản tiền xin
vay với doanh thu theo kế hoạch và doanh thu thực hiện của phơng án SXKD.
Tại thời điểm xem xét, doanh thu thực hiện cha xuất hiện, nhng ngân hàng lại
11
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
phải dự đoán đợc do nó phụ thuộc trực tiếp vào tiêu thụ, tức là nhu cầu thị trờng
và sức cạnh tranh của sản phẩm. Kết hợp với các yếu tố đã phân tích về bản
thân khách hàng, ngân hàng sẽ rút ra kết luận về số tiền có thể chấp nhận cho
vay trong tổng doanh thu đó. Một vấn đề có tính nguyên tắc là chỉ những phơng
án với hiệu quả đợc tính trong khoảng thời gian một chu kỳ sản xuất hoặc năm
dơng lịch mới là đối tợng của cho vay vốn lu động.
Đối với các dự án xin vay vốn trung, dài hạn thì việc thẩm định sẽ phức
tạp hơn, bởi các khoản cho vay này chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Các ngân hàng
thờng thẩm định dự án từ nhiều phơng diện: kỹ thuật, thị trờng và tài chính của
dự án, từ đó khẳng định tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của dự án, xác định đợc
thời điểm thực hiện dự án, lịch trình giải ngân, trả nợ đợc trù tính trong dự án,
từ đó mà quyết định cho vay hay từ chối. Trớc tiên, ngân hàng thẩm định về thị
trờng sản phẩm, dịch vụ và sản phẩm dịch vụ sẽ cung cấp nh đối với cho vay
ngắn hạn. Thẩm định kỹ thuật dự án cũng quan hệ chặt chẽ tới phơng diện thị
trờng của dự án. ở đây, ngân hàng quan tâm tới qui mô của dự án, xem có phù
hợp vói khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng cung cấp nguyên vật liệu và năng
lực quản lý của doanh nghiệp không? Tiếp đó ngân hàng xem xét tới công nghệ
và trang thiết bị, đây cũng là căn cứ xác định chu kỳ sống của sản phẩm, một
yếu tố có ý nghĩa khi xem xét đầu t. Việc thẩm định kỹ thuật có thể đợc thực
hiện bởi các bộ phận chuyên trách hoặc do CBTD tự phụ trách. Tuy nhiên có
nhiều trờng hợp do trình độ chuyên môn hoá của CBTD còn thấp hoặc tính phức
tạp của dự án ngân hàng phải thuê các chuyên gia t vấn.
Về phơng diện tài chính, ngân hàng có thể sử dụng các phơng pháp khác
nhau, sử dụng các loại chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án nh giá trị
hiện tại (NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn, tỷ suất lợi
ích trên chi phí (B/C) Khi thẩm định dự án đầu t để cho vay trung, dài hạn,
ngân hàng thờng vận dụng tổng hợp nhiều phơng pháp trong đó coi mỗi chỉ tiêu
là một con số thể hiện một mặt của dự án.
12
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
Trả lời câu hỏi các nguồn thông tin lấy từ đâu? Ngân hàng có thể thu
thập thông tin từ các nguồn:
+ Thông qua phỏng vấn trực tiếp ngời xin vay, CBTD có thể đánh giá đợc
phần nào năng lực, t cách đạo đức của khách hàng, cũng nh để giải thích những
điều cha rõ trong hồ sơ tín dụng.
+ Nguồn thứ hai là hệ thống sổ sách của ngân hàng để biết thêm về uy tín
của khách hàng trong việc hoàn trả các món vay, số d trên các tài khoản, tình
hình thanh toán công nợ
+ Các nguồn thông tin bên ngoài, nh ngân hàng thuê các Công ty chuyên
nghiệp điều tra thu thập thông tin về khách hàng, hay nhờ các ngân hàng bạn
hay bạn hàng của khách hàng để xác định uy tín của anh ta. Một số nớc còn có
hệ thống thông tin tín dụng chung do ngân hàng Trung ơng hay hiệp hội các
ngân hàng điều hành (CIC ở Việt Nam là một ví dụ về hình thức này).
+ Thông qua các chuyến viếng thăm khách hàng, CBTD có thể thu thập
những thông tin rất khách quan về tình hình hoạt động của họ.
+ Những thông tin do khách hàng cung cấp từ các hồ sơ vay vốn và sổ
sách kế toán. Đây là nguồn thông tin chính thức mà khách hàng phải trình lên
ngân hàng khi xin vay.
ở một ngân hàng thờng có sự phân cấp uỷ quyền trong việc quyết định
cho vay. Điều này càng thấy rõ ở mức phán quyết mà chi nhánh của NHTM (ở
ngân hàng có chi nhánh) có thể quyết định cho vay. Nhiều khi một hội đồng
gồm nhiều thành viên đợc thành lập để thẩm định và quyết định cho vay đối với
các dự án lớn, có tính phức tạp cao.
2.2. Giải ngân, quản lý món vay và thu nợ:
Mục đích của khâu này là phát tiền vay đúng tiến độ, đúng đối tợng,
kiểm soát và quản lý chặt chẽ món vay để đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay
đúng mục đích, thực hiện đợc kế hoạch trả nợ, đồng thời có thể phát hiện sớm
nhất những khó khăn phát sinh để có biện pháp xử lý nhằm hạn chế tới mức
thấp nhất rủi ro đối với ngân hàng. Các công việc cụ thể là:
13
Khóa Luận Tốt Ngiệp Trần Đào Nguyên Trung 1 K37
Khi phát tiền vay, CBTD tuân thủ nguyên tắc phải có vật t, tài sản tơng đ-
ơng là đối tợng ghi trong hợp đồng tín dụng kết hợp với các phơng thức thanh
toán, ngân hàng có thể thanh toán trực tiếp với ngời cung cấp của khách hàng
mà không qua trung gian.
Sau khi phát tiền vay, CBTD vẫn thờng xuyên quản lý kiểm tra việc sử
dụng vốn vay của khách hàng. Ngoài việc liên tục theo dõi sự vận động của
vốn, ngân hàng còn chú ý cả tới tình hình kinh doanh chung của khách hàng và
tình hình thị trờng giá cả Phát hiện sớm nhất những dấu hiệu của khoản cho
vay có vấn đề, ngân hàng có thể có biện pháp thích hợp. Ngân hàng có thể thu
hồi khoản vay trớc hạn, nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Ngân hàng
cũng có thể yêu cầu thêm tài sản thế chấp, cầm cố khi giá trị thị trờng của các
tài sản này giảm ngoài dự kiến Đối với những khó khăn mang tính khách
quan, ngân hàng sẽ cùng khách hàng giải quyết, giúp doanh nghiệp thu hồi các
hoá đơn chậm trả, thanh toán hàng tồn kho hay giảm bớt dự trữ quá mức; sắp
xếp, cấu trúc lại các khoản vay bằng định lại kỳ hạn nợ hay rút bớt mức chi trả
định kỳ trong một thời gian Để việc thu nợ diễn ra thuận lợi, CBTD có các
biện pháp nhắc nhở, đôn đốc; định kỳ tổng kết việc thực hiện kế hoạch trả nợ
của khách hàng.
2.3. Thanh lý hợp đồng tín dụng và lu giữ hồ sơ khách hàng:
Sau khi thu nợ đầy đủ hoặc giải quyết các tồn tại về khoản vay, ngân
hàng và khách hàng tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng. Ngân hàng tổng kết,
đánh giá toàn bộ quá trình cho vay, rút ra kinh nghiệm, bài học cần thiết, đồng
thời đa ra các yêu cầu mới. Ngân hàng tiến hành lu trữ hồ sơ khách hàng dù họ
còn quan hệ với ngân hàng nữa hay không. Nhiều NHTM ở các nớc tiên tiến có
hẳn bộ phận chuyên trách, và công việc này đợc thực hiện bằng nhiều phơng
tiện hiện đại nh máy tính, các phần mềm quản lý khách hàng. ở nớc ta, công
việc này do mỗi CBTD đảm nhận, đa vào phòng quản lý khách hàng; các lu trữ
vẫn chủ yếu dới dạng hồ sơ giấy tờ.
3. Mở rộng hoạt động cho vay của NHTM:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét