16-19 652261 48,3 12,43 283460 12,8 25,5
20-24 376951 27,9 6,74 198037 29,9 16,4
25-29 167640 12,4 3,06 94386 14,3 7,5
30-39 114655 8,5 1,47 64595 9,8 3,3
40-49 27432 2,0 0,66 15467 2,3 1,5
50-hết 11093 0,8 0,35 5719 0,9 0,8
TLĐ
Nguồn: PTS Nguyễn Quan Hiển: Thị trường lao động. Thực trạng và giải pháp.
Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội 1996, trang 67.
1.3: Tác động thất nghiệp và việc làm.
Số người tăng thêm trong lực lượng lao động hàng năm và số người được giải
quyết việc làm hàng năm.
Trong những năm gần đây, nhờ đường lối đổi mới của Đảng mà nhiều lao động đã
và đang được thu hút vào các ngành nghề, các lĩnh vực, ở mỗi địa bàn, trong nhiều thành
phần kinh tế trên phạm vi quốc gia và từng bước hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. Tuy
nhiên, do điểm xuất phát thấp nên Việt Nam vẫn là nước nghèo, còn thiếu việc làm hoặc
việc làm không ổn định việc chăm lo giải quyết việc làm đã trở thành nhiệm vụ cơ bản và
cấp bách đòi hỏi các ngành các cấp, mối gia đình và toàn xã hội phải quan tâm. Từ cơ cấu
dân số, ta thấy số người dưới 15 tuổi chiếm 40% trong khi đó tỷ lệ gia tăng tự nhiên cao
(2,2%) vì vậy, nẩy sinh một vấn đề là một lao động bình quân phải nuôi dưỡng nhiều
người. Nếu lao động không có việc hoặc số ngày công trong năm thấp, số giờ làm việc
trong 1 ngày, năng suất lao động 1giờ làm việc kém thì mỗi gia đình và toàn xã hội sẽ rất
khó khăn.
Hiện nay, nguồn lao động hàng năm tăng 3,2 - 3,5%, năm 2001 là 2,7%/năm. Bối
cảnh kinh tế xã hội sinh ra nhiều mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế trong
5
khi đó nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng tăng, tất yếu dẫn đến tình hình một bộ phận
lao động chưa có việc làm nhất là đối với thanh niên ở thành thị, khu công nghiệp, khu tập
trung, vùng ven biển. Tổng điều tra dân số ngày 01/04/1989 cho thấy hiện có khoảng 1,7
triệu người không có việc làm. Người lao động nước ta có đặc điểm:
- 80% sống ở nông thôn
- 70% đang làm trong lĩnh vực nhà nước
- 14% sống lao động làm việc trong khu vực nhà nước
- 10% trong lao động tiểu thủ công nghiệp
- 90% lao động thủ công.
Năng xuất lao động và hiệu quả làm việc rất thấp dẫn đến tình trạng thiếu việc làm
rất phổ biến và nghiêm trọng. Ở nông thôn 1/3 quỹ thời gian lao động chưa được sử dụng
tốt bằng 5 triệu người lao động. Trong khu vực nhà nước, số lao động không có nhu cầu sử
dụng lên tới 25 - 30% có nơi lên tới 40 - 50%. Đây là điều làm cho đời sống kinh tế xã hội
khó khăn của đất nước ta những năm 1986 - 1991.
Với tốc độ phát triển dân số và lao động như hiện nay hàng năm chúng ta phải tạo
ra hơn 1 triệu chỗ làm việc mới cho số người bước vào độ tuổi lao động, 1,7 triệu người
chưa có việc làm, hàng chục cán bộ, bộ đội phục viên, xuất ngũ, học sinh
Những số liệu dưới đây sự giúp ta hiểu rõ hơn:
Nhịp độ tăng bình quân hàng năm.
1987-1991 1992-1996 1997-2001
Tốc độ tăng dân số (%) 2,15 2,1 1,8
Tốc độ tăng nguồn LĐ (%) 3,05 2,75 2,55
Về số lượng tuyệt đối 1985 1991 1996 2001
Tổng dân số vào tuổi LĐ 30,3 35,6 16,7 46,1
(Triệu người)%so với dân số 19,2 50,2 53,3 55
Mức tăng bình quân (ngàn người) 900 1060 1023 1090
6
Số thanh niên vào tuổi lao động và số lao động tăng thêm trong 5 năm 1992 - 1996
và 1992 - 2005.
5 năm 1992-1996 15 năm 1992 - 2005
Số TN
vào
Số LĐ tăng thêm Số TN vào Số LĐ tăng thêm
tuổi LD Số
lượng
Nhịp độ
tăng BQ
tuổi LĐ Số
lượng
Nhịp độ
tăng BQ
Cả nước 7562 5150 2,75 23550 15700 2,45
Miền núi và
Trung Du Bắc
Bộ
1197 720 2,55 3800 2460 2,55
Đồng Bằng Sông
Hồng
1480 960 2,45 4730 3000 2,30
Khu 4 cũ duyên
hải Trung Bộ
870 580 3,00 2600 1760 2,70
Đông nam bộ 1915 1510 3,35 5762 5762 2,70
Tây nguyên 240 160 2,35 850 420 2,95
Theo thống kê 1996 dân số nước ta khoảng 74 triệu người, số người trong độ tuổi
lao động là 38 triệu chiếm 53% dân số, tốc độ tăng dân số là 2,2%, mỗi năm có khoảng
0,9-1 triệu người được tiếp nhận và giải quyết việc làm.
Theo tính toán của tổ chức lao động quốc tế (ILO) với tốc độ tăng nguồn lao động
trên 3% như hiện nay ở Việt nam thì dù cho hệ số co dãn về việc làm có thể tăng từ mức
0,25 lên 0,33, trong vài năm tới cũng cần có mức tăng GDP trên 10%/ năm mới có thể ổn
định được tình hình việc làm ở mức hiện tại. Vì vậy, dự báo sau năm 2001 nước ta vẫn sẽ
trong tình trạnh dư thừa lao động. Sự “lệch pha” giữa cung và cầu về lao động là một hiện
tượng đáng chú ý trong quan hệ cung cầu lao động ở nước ta hiện nay. Trong khi nguồn
cung về lao động của ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông
7
nghiệp, bộ đội xuất ngũ, công nhân giảm biến chế thì cần về lao động lại đang đòi hỏi
chủ yếu lao động lành nghề, lao động có trình độ, chuyên môn kỹ thuật cao, các nhà quản
lý am hiểu cơ chế thị trường Chính sự khác biệt này làm cho quan hệ cung cầu về lao
động vốn đã mất cân đối lại càng gay gắt hơn trước yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.
Trong toàn bộ nền kinh tế, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo hiện nay còn rất thấp,
khoảng 4 triệu người, chỉ chiếm 10,5% lực lượng lao động. Điều này cho thấy lực lượng
lao động hiện nay chưa có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn
này. Trong số lao động đã qua đào tạo cơ cấu trình độ và ngành nghề còn nhiều bất cập
trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá Số người có trình độ trên đại
học chỉ chiếm khoảng 1,2% trong tổng số người có trình độ đại học. Về cơ cấu ngành
nghề, lao động đã qua đào tạo được tập trung chủ yếu ở các cơ quan nghiên cứu, các đơn
vị hành chính sự nghiệp và ngành giáo dục, lĩnh vực sản xuất vật chất có tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo còn thấp, đặc biệt trong nông nghiệp, ngành sản suất lớn nhất cũng chỉ 9,15%
lao động được đào tạo. Có vùng như Tây Nguyên chỉ có 3,51% nhiều lĩnh vực rất thiếu
những cán bộ giỏi, cán bộ quản lý, cán bộ am hiểm công nghệ cao Điều đó đã đẫn đến
một thực trạng hiện nay là: Trong khi có hàng triệu người không tìm được việc làm, thì ở
một số ngành nghề và rất nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh thiếu lao động kỹ thuật, lao
động có nghề nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu của công nghệ sản xuất.
2/ THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP.
2.1: Thực trạng thất nhiệp ở Việt Nam
Việt nam là một trong những nước kinh tế đang phát triển, quy mô dân số và mật
độ dân cư tương đối lớn so với các nước trên thế giới và tốc độ phát triển nhanh, trong lúc
đó việc mở rộng và phát triển kinh tế, giải quyết việc làm gặp nhiều hạn chế, như thiếu
vốn sản xuất, lao động phân bổ chưa hợp lý, tài nguyên khác chưa được khai thác hợp
lý Càng làm cho chênh lệch giữa cung và cầu về lao động rất lớn, gây ra sức ép về vấn đề
giải quyết việc làm trong toàn quốc.
Tính bình quân từ 1976 - 1980 mỗi năm tăng 75 - 80 vạn lao động từ 1981 - 1985
mỗi năm 60-90 vạn lao động và từ năm 1986 - 1991 mỗi năm là 1,06 triệu lao động. Từ
8
năm 1996 đến năm 2001 tăng 1,2 triệu lao động. Bảng dưới đây cho ta thấy mối quan hệ
giữa sự gia tăng dân số và nguồn lao động. Do điều kiện kinh tế xã hội điều kiện tự nhiên
tài nguyên và trình độ phát triển kinh tế khác nhau giữa các vùng đất nước, nguồn lao động
ở các vùng đó có mức tăng và tỉ lệ khác nhau.
Bảng Mối quan hệ dân số và nguồn lao động :
(Đơn vị tính : triệu người )
Năm Dân số Số người trong
độ tuổi lao
động
% trong dân số Tốc độ tăng
nguồn lao động
1978 49 21,1 45 3,5
1980 54 25,5 47 3,8
1985 60 30 50 3,2
1991 67 35,4 52,8 2,9
1996 71 40,1 54,2 2,3
2001 81 45,1 55,6 2,2
Nguồn : Thông tin thị trường lao động. Tập tham luận trung tâm thông tin khoa
học và lao động xã hội.
Quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động ngày càng căng thẳng, thất nghiệp và
nhu cầu việc làm đang trở thành sức ép nặng nề cho nền kinh tế.
Số người thất nghiệp là số chênh lệch giữa toàn bộ lực lượng lao động và số người
có việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp được tính bằng tỉ số giữa người thất nghiệp với lực lượng lao
động. Thất nghiệp ở Việt Nam mang những nét đặc trưng riêng. Khi nền kinh tế chuyển
sang nền kinh tế thị trường, khởi điểm từ năm 1986 đến nay, tỉ lệ người thất nghiệp tăng
lên. Theo số liệu bảng tổng điều tra dân số năm 1989 thì người lao động ở lứa tuổi 16- 19
chiếm 48,3%, lứa tuổi từ 16-24 tuổi chiếm 71,2%. Năm 1995, số người thất nghiệp toàn
phần trong độ tuổi cả nước đã lên tới con số 2,6 triệu và năm 1996 là 2,5 triệu người. Tỉ lệ
người thất nghiệp hữu hình ở các đô thị chiếm từ 9 - 12% nguồn nhân lực trong đó 85%ở
lứa tuổi thanh niên và đại bộ phận chưa có nghề. Đây là những tỉ lệ vượt quá giới hạn để
đảm bảo an toàn xã hội.
9
Từ 1991 đến nay, nước ta đạt mức tăng trưởng kinh tế khá, tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) thời kỳ 1992 - 1996 tăng bình quân 7,9%/năm, lạm phát được ngăn chặn lại,
duy trì ở mức 1 con số, năm 1997 lạm phát là 4,5%/năm và năm 1998 là 3,6%/năm. Sức
mua của đồng tiền đã được tăng lên, giá cả ổn định.
Từ năm 1998 là năm tình trạng thất nghiệp ở các thành phố tăng mạnh hơn so với
các vùng lãnh thổ.
10
Bảng: Tỉ lệ thất nghiệp của dân số trong độ tuổi lao động, hoạt động kinh tế ở
thành phố và các khu vực lãnh thổ.
( đơn vị: % )
Năm
Tỉ lệ TN
1995 1997 1998
Cả nước 6.08 5,88 6,01
Hà Nội 7,62 7,71 8,56
Hải Phòng 7,87 8,11 8,09
Đà Nẵng 5,81 5,53 5,42
TPHCM 6,39 5,68 6,13
Miền núi trung du Bắc Bộ 6,85 6,42 6,34
Đồng bằng Sông Hồng 7,46 7,57 7,56
Bắc Trung Bộ 6,60 6,96 6,69
Duyên hải miền Trung 4,97 5,57 5,42
Tây Nguyên 2,79 4,24 4,99
Đông Nam Bộ 6,35 5,43 5,81
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam. Kinh tế Việt nam và thế giới 97 - 98 trang 23.
Số người thất nghiệp ở các đô thị chiếm tỷ lệ cao hơn thất nghiệp ở nông thôn -
Năm 1989 tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố là 13,2% và nông thôn là 4% thì tới năm 1996 đã
có sự thay đổi: Ở thành phố con số này là 8% và ở nông thôn là 4,8%. Trong mấy năm
qua, tỷ lệ thất nghiệp cao ở lứa tuổi thanh niên (từ 15 đến 30 tuổi), chiếm 85% tổng số
người thất nghiệp và tăng dần.
11
Năm 1989 số người thất nghiệp ở lứa tuổi này là 1,2 triệu người.
Năm 1991 số người thất nghiệp ở lứa tuổi này là 1,4 triệu người.
Năm 1993 số người thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2 triệu người.
Năm 1994 số người thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2,3 triệu người.
Năm 1995 số người thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2,21 triệu người.
Lao động thất nghiệp cao ở nhóm người có trình độ văn hoá thấp, trong nhóm
người chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Lao động thất nghiệp chiếm 6,12%; số tốt nghiệp
phổ thông cơ sở thất nghiệp chiếm 4,93%; tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 11,27%;
tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 2,53% và tốt nghiệp cao đẳng, đại học chiếm
2,25%.
Như vậy, trình độ văn hoá của người lao động càng cao thì khả năng tìm kiếm việc
làm càng cao.
Là nước nông nghiệp đang phát triển, nước ta gần 80% lực lượng lao động tập
trung ở nông nghiệp. Thất nghiệp mang tính thời vụ, bán thất nghiệp là phổ biến. Thiếu
việc làm ở nông thôn do nguồn lao động ngày một tăng nhanh trong lúc đó diện tích canh
tác chỉ có hạn làm cho tỷ lệ diện tích theo đầu người càng giảm. Năng suất lao động hiện
còn thấp. Tình trạnh thiếu việc làm đầy đủ còn phổ biến. Quỹ thời gian làm việc trong năm
mới sử dụng được hơn 2/3 năm 1998, tỷ lệ thời gian là được sử dụng ở khu vực nông thôn
nói chung đã được nâng cao hơn sơ với năm 1997. Tính chung cả nước, tỷ lệ này đã tăng
từ 72,1% đến 72,9%. Năm 1998, số người hoạt động kinh tế thường xuyên thiếu việc làm
ở nông thôn đã giảm từ 27,65% của năm 1997 xuống còn 25,47% (26,24%).
12
* Bảng: Mức tăng nguồn lao động nông nghiệp so với khối lượng công việc gieo
trồng qua các năm (đơn vị tính: nghìn người, nghìn ha %).
1985 1986 1987 1988
1. Người lao động nông nghiệp 18.808 19.787.8 20.246.4 20.890.7
- Tỷ lệ tăng hàng năm % 5,3 2,3 3,2
2. Diện tích gieo trồng 8.556.8 8.606.1 8.641.1 8.883.5
- Tỷ lệ tăng hàng năm % 0,6 0,4 2,8
Nguồn: PTS Nguyễn Quang Hiển: Thị trường lao động: Thực trạng và giải pháp.
Nhà xuất bản thống kê, Hà nội 1991.
Theo tính toán của bộ lao động - Thương binh xã hội, thời gian thiếu việc làm của
lao động nông thôn cả nước trong một năm, nếu quy ra lao động lên tới 6- 7 triệu người
không có việc làm. Đây là sự lãng phí về nguồn lực rất lớn ảnh hưởng tới nhiều mặt của
đời sồng kinh tế - xã hội. Mặt khác năng suất lao động ở các ngành nghề ở nước ta thấp, số
việc làm có hiệu quả thấp là chủ yếu, tính bình quân năm 1993, một lao động công nghiệp
làm ra 6.943.760 đồng GDP và một lao động nông nghiệp làm ra 1.571.300 đồng GDP.
Năng suất lao động ở nước ta quá thấp còn thể hiện ở tỷ trọng của lao động trong
nông nghiệp còn quá cao.
* Bảng: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, đến 1/7/1994
(nghìn người).
Tổng số (triệu
người)
Công
nghiệp
Xây
dựng
Nông nghiệp Lâm
nghiệp
Thương
nghiệp
Ngành
khác
32.718.0 3.521.8 848.3 23.683.8 214.4 1.776.0
13
10,8% 2,6% 7,2% 0,6% 5,4% 8,3%
Nguồn: Trần Minh Trung: "Để có việc làm cho người lao động". Tạp chí thương
mại, 12/1993.
Đến năm 1998, cơ cấu lao động trong nền kinh tế đã thay đổi, số người lao động
đang làm việc trong nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 71%, trong ngành công nghiệp và xây
dựng chiếm 14% và làm việc trong các ngành dịch vụ chiếm 15% so với tổng số lao động.
Qua phân tích trên đây cho ta thấy trên thị trường lao động nước ta có sự mất cân
đối lớn giữa cung và cầu. Tuy nhiên, cơ chế thị trường tự nó cũng có những điều chỉnh
quan hệ cung cầu. Sự điều chỉnh này được thể hiện thông qua sự vận động của các dòng
lao động (sự vận động của thị trường lao động).
2.2. Nguyên nhân thất nghiệp ở Việt nam.
Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta những
nguyên nhân cơ bản sau đây:
Nguyên nhân bao trùm là trong hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội cũ, chúng ta có
những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, như đại hội VI đã
chỉ rõ: Đã duy trì quá lâu nền kinh tế chỉ có hai thành phần, không coi trọng cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần, kinh tế mở cửa dẫn đến sai lầm trong bố trí kinh tế, chưa quan tâm đúng
mức đến chiến lược xây dựng kinh tế xã hội, hướng vào phát triển những ngành công
nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút được nhiều lao động dẫn đến hạn chế khả năng khai
thác các tiềm năng hiện có để phát triển việc làm và tạo nhiều điều kiện để người lao động
tự tạo việc làm cho mình và do người khác. Chức năng của Nhà nước trong việc tổ chức
lao động giải quyết việc làm cho xã hội chưa được phát huy đầy đủ.
Hai nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng gây ra hiện tượng thất
nghiệp đó là:
* Khoảng thời gian thất nghiệp:
Giả sử rằng thường xuyên có một lượng người thất nghiệp nhất định bổ xung vào
đội ngũ tìm kiếm việc làm và nếu mọi người phải chờ đợi quá nhiều thời gian mới tìm
được việc làm thì trong một thời gian nào đó số lượng người thất nghiệp tăng lên, tỷ lệ thất
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét