Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Mỹ


nớc là đối tợng của luật super 301. Trong vòng 21 ngày sau khi trình báo cáo,
Đại diện thơng mại Mỹ phải tiến hành điều tra theo điều 301 về các thông lệ u
tiên của nớc ngoài đợc xác định trong báo cáo.
1.2.2. Kiểm soát xuất khẩu
Theo các đạo luật quản lý xuất khẩu EAA, Bộ thơng mại Mỹ kiểm soát các mặt
hàng đợc sử dụng hai mục đích là các mặt hàng dân sự nhng có tiềm năng ứng dụng
vào mục đích quân sự. Cục quản lý xuất khẩu của Bộ thơng mại là cơ quan chính cấp
phép xuất khẩu những mặt hàng đợc sử dụng hai mục đích. Bộ ngoại giao cấp phép
xuất khẩu các mặt hàng và dịch vụ quốc phòng theo quy định của Luật kiểm soát xuất
khẩu vũ khí, trong khi một số loại vật t, thiết bị hạt nhân nhất định lại do Uỷ ban kiểm
soát hạt nhân cấp phép theo quy định của Luật năng lợng nguyên tử.
Luật về quyền hạn kinh tế trong tình trạng khẩn cấp quốc tế (IEEPA) đợc
thông qua năm 1977, cho phép Tổng thống đợc quyền phong tỏa tài sản nớc
ngoài tại Mỹ, cấm vận thơng mại và tiến hành các biện pháp cần thiết khác để đối
phó với những đe dọa bất thờng hoặc đặc biệt đối với an ninh quốc gia hay lợi ích
kinh tế của Mỹ.
1.3. Luật điều tiết hoạt động nhập khẩu
1.3.1. Hạn chế nhập khẩu
Điều 201 Luật thơng mại Mỹ, đợc sửa đổi và bổ sung năm 1988, đã quy định
về các bớc thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành công nghiệp trong nớc khỏi sự
biến động gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế ở Mỹ.
Tiêu chuẩn để hạn chế nhập khẩu: Theo điều 201, việc hạn chế nhập khẩu đợc
tiến hành khi mà hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ tăng đến mức gây thiệt hại nghiêm
trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các ngành sản xuất trong n-
ớc hay các loại hàng hóa cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa nhập khẩu. Việc hạn
chế nhập khẩu đợc tiến hành theo yêu cầu của Tổng thống Mỹ trên cơ sở các
khuyến nghị của Uỷ ban Thơng mại quốc tế. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu
trên chỉ có hiệu lực tạm thời và dùng để tạo cho các ngành công nghiệp trong nớc
có đủ thời gian để lấy lại khả năng cạnh tranh của mình.
5

Theo Luật thơng mại bổ sung năm 1988, trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban thơng
mại, Tổng thống Mỹ sẽ tiến hành hạn chế nhập khẩu nếu Tổng thống Mỹ cho
rằng biện pháp này sẽ mang lại các lợi ích kinh tế và xã hội. Các biện pháp mà
Tổng thống dùng để hạn chế nhập khẩu bao gồm:
- Tăng thuế, mức tăng cao nhất là lên 50%;
- Sử dụng thuế hạn ngạch, tức thuế xuất sẽ tăng cao hơn sau khi nhập một l-
ợng hàng hóa nhất định;
- áp dụng hạn ngạch tuyệt đối với hàng hóa nhập khẩu, là hạn ngạch về số
lợng, tức là không đợc nhập vợt quá số lợng hạn ngạch cho phép trong thời hạn
hạn ngạch;
- áp dụng hạn ngạch trên cơ sở bán đấu giá các giấy phép nhập khẩu.
1.3.2. Quyền hạn chế hàng dệt và nông sản
Là thành viên của WTO, tham gia Hiệp định hàng may mặc trong khuôn khổ
WTO (trớc đây là Hiệp định đa sợi trong khuôn khổ GATT), nên Mỹ phải tuân
thủ những quy định của Hiệp định này. Các hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm
phán Urugoay và luật triển khai hiệp định cho phép Mỹ đa ra những hạn chế đối
với hàng nông sản và hàng dệt. Hiệp định hàng dệt may, có hiệu lực tháng 1 năm
1994, cho phép các nớc thành viên ký kết WTO đàm phán các hiệp định song ph-
ơng nhằm thiết lập những hạn chế về số lợng đối với hàng dệt may và quần áo
nhập khẩu.
Trong khuôn khổ Hiệp định hàng dệt may, các hạn ngạch và hạn chế đối với
việc buôn bán hàng dệt may đợc dỡ bỏ dần trong 3 giai đoạn và hết hạn vào ngày
1/1/2005. Tất cả các thành viên của WTO là đối tợng áp dụng của Hiệp định hàng
dệt may, cho dù họ cha hoặc đã ký vào Hiệp định đa sợi trớc đây và chỉ có các
thành viên của WTO mới đủ điều kiện tham gia Hiệp định hàng dệt may. Hiệp
định hàng dệt may song phơng đợc đàm phán giữa nớc xuất khẩu và nớc cung cấp
theo Hiệp định đa sợi vẫn có hiệu lực trong thời gian chuyển đổi đến năm 2005.
1.3.3. Các tiêu chuẩn sản phẩm
6

Những khác biệt về tiêu chuẩn sản phẩm, danh sách và hệ thống chứng nhận
sản phẩm có thể cản trở hoạt động thơng mại và có thể đợc sử dụng để đối xử
phân biệt đối với hàng nhập khẩu, vì vậy các nớc trong khuôn khổ GATT đã th-
ơng lợng và ký kết Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật, còn gọi là bộ luật tiêu
chuẩn vào năm 1979 thiết lập những quy tắc để chính phủ các nớc chuẩn bị, chấp
nhận và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận. Các vòng đàm phán
Urugoay dựa trên Bộ luật tiêu chuẩn này thiết lập Hiệp định về hàng rào kỹ thuật
đối với thơng mại. Hiệp định mới này yêu cầu loại bỏ các hàng rào thơng mại dới
hình thức tiêu chuẩn hàng hóa, các hoạt động kiểm định hay các thủ tục đánh giá
mức độ phù hợp của hàng hóa.
2. Một số quy định trong chính sách nhập khẩu của Mỹ
2.1. Quy chế thơng mại bình thờng-NTR (hay còn gọi là quy chế tối huệ
quốc-MFN) của Mỹ
Quy chế tối huệ quốc (Most Favoured Nation MFN) áp dụng ở Mỹ từ năm
1930 theo Luật thuế năm 1930 (Tariff Act 1930) là một điều khoản quy định ở
các hiệp định thơng mại quốc tế, mà các nớc tham gia ký kết hiệp định cam kết
dành cho nhau sự đãi ngộ thơng mại không thấp hơn sự u đãi cao nhất mà nớc đó
dành cho một nớc khác. Trong chính sách thuế quan của Mỹ, MFN có nghĩa là
các sản phẩm của các nớc đợc Mỹ đãi ngộ tối huệ quốc sẽ chiếm mức thuế thấp
hơn nớc không đợc Mỹ dành cho chế độ MFN đó. (Thể hiện ở cột số 1 và cột số
2 trong danh bạ thuế quan HTS của Mỹ).
Từ tháng 6 năm 1998, nhân điều chỉnh sắc luật liên quan đến hoạt động của
Cục thuế liên bang Mỹ (IRS), Quốc hội Mỹ đã quyết định thay đổi tên gọi của
chính sách Tối huệ quốc (MFN) thành khái niệm Quan hệ thơng mại bình thờng
(Normal Trade Relations-NTR).
2.2. Hàng rào thuế quan của Hoa Kỳ
2.2.1. Danh bạ thuế quan thống nhất (The Harmonised Tariff Schedule- HTS)
Danh bạ thuế quan thống nhất của Mỹ chia hàng hoá thành khoảng 5000
mục (Heading) và tiểu mục (Subheading) theo trình tự: từ những loại hàng hoá
đơn giản, sản phẩm nông nghiệp tới các loại hàng hoá chế tạo tinh vi. Danh bạ
7

này còn chia thành 22 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực thông thờng bao quát một ngành
công nghiệp. 22 lĩnh vực lại đợc chia thành các chơng nhỏ, mỗi chơng lại bao
gồm một loại hàng hoá, nguyên vật liệu hay sản phẩm của ngành công nghiệp
đó. Mỗi mục đợc biểu thị bằng 8 ký tự. Mức thuế trong HTS đợc chia làm hai
cột:
Cột một chia làm hai cột nhỏ. Cột thứ nhất là phần chung gồm các mức
thuế đánh vào hàng hoá từ những quốc gia đợc hởng chế độ u đãi Tối huệ quốc
(Chế độ u đãi thuế quan thơng mại bình thờng). Cột thứ hai là phần đặc biệt gồm
các mức thuế đặc biệt áp dụng trong những chơng trình u đãi về thuế, ví dụ u đãi
về thuế trong chế độ GSP.
Cột hai là mức áp dụng cho các nớc không đợc hởng chế độ u đãi về thuế.
Mọi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ đều phải chịu thuế hoặc đợc miễn trừ thuế
theo các qui định trong HTS của Mỹ. Khi hàng hoá phải chịu thuế, ngời ta áp
dụng tỷ lệ trên giá trị, tỷ lệ trên số lợng hoặc tỷ lệ hỗn hợp.
Tỷ lệ trên giá trị (ad valorem rate): là mức thuế đợc xác định bằng một tỷ
lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu. Thuế ở Mỹ chủ yếu đánh theo phơng
pháp tỷ lệ trên giá trị.
Tỷ lệ trên số lợng (specific rate): là một loại thuế ấn định đối với số lợng
nhất định.
Tỷ lệ hỗn hợp (compourd rate): là một loại thuế kết hợp thuế theo tỷ lệ
trên giá trị và thuế theo tỷ lệ trên số lợng.
2.2.2. Định giá hải quan (Custom value)
Năm 1970, Luật về các hiệp định thơng mại (Trade of Agreement Act 1979)
của Mỹ đa ra phơng pháp Giá trị giao dịch (Transaction Value) làm cơ sở chính
để xác định giá hàng nhập khẩu để tính thuế.
Nói chung, trị giá hải quan của tất cả hàng hoá xuất khẩu sang Mỹ là trị giá
giao dịch của những hàng hoá đó. Nếu không thể sử dụng trị giá giao dịch, thì
các cơ sở tính toán khác có thể đợc xem xét sử dụng. Các cơ sở phụ để tính trị giá
sắp xếp theo thứ tự u tiên sử dụng gồm:
Giá trị giao dịch (Transaction value)
8

Giá của hàng hoá giống hệt nhau (Identical merchandise),
Giá của hàng hoá tơng tự (Similar merchandise)
Giá trị khấu trừ (Deductive value)
Giá trị tính toán cơ bản (Computed value)
a). Giá trị giao dịch
Giá trị giao dịch của hàng hoá là giá trị thực tế thanh toán hoặc phải thanh
toán cho hàng hoá khi hàng hoá đợc bán để xuất khẩu vào Mỹ, cộng với các
khoản sau nếu các khoản này không có trong giá bán:
- Chí phí đóng gói (bao gồm container, bao bì và chi phí lao động đóng gói)
do ngời mua chịu.
- Tiền hoa hồng bán hàng do ngời mua chịu: Hoa hồng bán hàng do ngời
mua chịu sẽ là một phần của giá trị giao dịch nhng hoa hồng mua hàng thì lại
không đựơc tính vào giá này. Hoa hồng bán hàng là hoa hồng trả cho đại lý
của ngời bán, những ngời đại diện cho ngời sản xuất hoặc đại diện cho ngời
bán.
- Giá trị của các khoản trợ giúp của ngời mua cho ngời bán: Ngời nhập khẩu
thờng cung cấp một số hình thức trợ giúp cho ngời sản xuất nớc ngoài rồi sau đó
mua hàng của họ. Nếu sự trợ giúp này dẫn đến sự giảm giá bán hàng hoá hay sử
dụng các hàng hoá của ngời sản xuất trên nớc Mỹ thì phần giá trị trợ giúp sẽ đợc
tính vào giá trị giao dịch. Sự trợ giúp này thờng bao gồm: nguyên vật liệu thô và
các máy móc sử dụng để sản xuất hàng hoá xuất khẩu; khuôn rập hay khuôn đúc;
mẫu mã, đồ án do những công ty nớc ngoài hay những ngời không sống trên nớc
Mỹ thực hiện.
- Chi phí trả cho nhãn hiệu hay bản quyền mà ngời mua phải chịu nh là một
điều kiện khi mua hàng hoá: Ngời nhập khẩu thờng phải trả các khoản phí cho
việc sử dụng bản quyền, nhãn hiệu hay mẫu mã của hàng hoá trên nớc Mỹ. Nếu
việc trả các khoản phí này là điều kiện cho việc nhập khẩu hàng hoá vào Mỹ thì
chúng sẽ đợc tính vào giá trị giao dịch.
9

Giá trị giao dịch sẽ không bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm, phí môi giới hải
quan, chi phí vận chuyển nội địa sau khi nhập khẩu, các dịch vụ liên quan đến
phát sinh trong việc gửi hàng từ nớc xuất khẩu đến địa điểm nhập khẩu ở Mỹ, chi
phí lắp ráp, chi phí bảo quản hàng hoá, thuế hải quan và các thuế Liên bang khác
kể cả bất kỳ khoản thuế tiêu thụ đặc biệt nào mà ngời bán ở Mỹ phải có nghĩa vụ
thanh toán. Chi phí vận chuyển ở nớc xuất khẩu cũng sẽ không tính vào giá trị giao
dịch nếu chúng đợc ghi một cách riêng biệt và rõ ràng trong hoá đơn thơng mại.
Nếu ngời bán cung cấp tài chính cho hàng hoá xuất khẩu vào Mỹ thì khoản lợi
tức trong thanh toán cũng sẽ không tính vào giá trị giao dịch nếu khoản lợi tức đ-
ợc ghi trên giấy với tỷ lệ lãi suất không bất thờng. Tuy nhiên Hải quan Mỹ sẽ
không sử dụng phơng pháp này để tính giá trị hải quan nếu gặp các hạn chế sau
trong tính toán:
Những hạn chế đối với quyền định đoạt hay sử dụng hàng hoá của ngời mua.
Những điều kiện để tính toán giá trị giao dịch không thể xác định.
Tiền hàng phát sinh sau đó do bán lại, tiêu thụ, hoặc sử dụng hàng hoá,
phải trả cho ngời bán, không thể đợc sử dụng để điều chỉnh lại trị giá giao dịch
một cách hợp lý.
b). Giá trị hàng hoá giống hệt và giá trị hàng hoá t ơng tự
Nếu hàng hóa nhập khẩu không xác định đợc giá trị giao dịch, Phòng Hải
quan sẽ xác định theo giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt. Nếu giá trị giao
dịch của hàng hóa giống hệt không xác định đợc thì giá trị giao dịch của hàng
hóa tơng tự sẽ đợc sử dụng.
Giá trị hàng hóa giống hệt hay tơng tự đem so sánh phải là giá bán cùng
thời điểm trên thị trờng và ở cùng một cấp lu thông và cùng một khối lợng.
Nếu có nhiều giá trị giao dịch của những hàng hóa giống hệt hay tơng tự thì
giá trị thấp nhất sẽ đợc sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa
nhập khẩu đó.
Thuật ngữ hàng hóa giống hệt có nghĩa hàng hóa đó:
Giống ở mọi khía cạnh so với hàng hóa nhập khẩu đang đợc xác định giá trị.
10

Đợc sản xuất ở cùng một quốc gia với hàng hóa nhập khẩu đang đợc xác
định giá trị.
Đợc sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất với hàng hóa nhập khẩu.
Thuật ngữ hàng hóa tơng tự có nghĩa hàng hóa đó:
Đợc sản xuất ở cùng một quốc gia và cùng một ngời sản xuất nh hàng hóa
nhập khẩu.
Giống về đặc điểm và linh kiện cấu tạo so với hàng hóa nhập khẩu.
Có thể thay thế nhau trong buôn bán với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên,
trong hai điều kiện trên thì điều kiện cùng nhà sản xuất có thể không bắt buộc
tuyệt đối.
c. Giá trị khấu trừ
Nếu giá trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu, hàng hoá giống nhau, hàng hoá
tơng tự không thể xác định đợc, thì Phòng Hải quan sẽ sử dụng giá trị khấu trừ
cho hàng hoá đang đợc định giá nếu ngời nhập khẩu không có ý định sử dụng giá
trị khấu trừ từ trớc.
Giá trị khấu trừ là giá bán lại của hàng hóa nhập khẩu đó trên thị trờng Mỹ
sau khi cộng trừ một số hạng mục nhất định. Để tính giá trị khấu trừ, thuật ngữ
hàng hóa liên quan đợc sử dụng. Hàng hóa liên quan nghĩa là hàng hóa giống
hệt hay tơng tự đang đợc định giá. Thông thờng, giá trị khấu trừ đợc tính toán bắt
đầu từ một giá đơn vị sau đó đợc tính toán bằng việc cộng thêm hoặc trừ vào giá
này để ra giá trị khấu trừ.
Giá đơn vị: Có 3 loại giá đơn vị đợc sử dụng để tính giá trị khấu trừ. Tùy
thuộc vào thời gian và điều kiện hàng hóa liên quan đợc bán ở Mỹ mà loại giá
đơn vị nào đợc sử dụng.
Nếu hàng hóa liên quan đợc bán với điều kiện nh khi nhập khẩu và cùng
thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá mà hàng hóa
liên quan đợc bán với khối lợng lớn nhất.
Nếu hàng hóa liên quan đợc bán với điều kiện nh khi nhập khẩu nhng
không cùng thời điểm với hàng hóa cần tính giá trị hải quan thì giá đơn vị là giá
11

hàng hóa liên quan đợc bán với khối lợng lớn nhất sau ngày hàng hóa cần tính giá
trị hải quan đợc nhập vào Mỹ nhng không quá 90 ngày sau ngày nhập khẩu.
Nếu hàng hóa liên quan không đợc bán với điều kiện nh khi nhập khẩu và
đợc bán sau 90 ngày tính từ ngày hàng hóa cần tính giá trị hải quan đợc nhập thì
giá đơn vị là giá mà tổng số lợng lớn nhất đang đợc định giá, sau khi đợc chế biến
thêm ở Mỹ, đợc bán trong vòng 180 ngày sau ngày nhập khẩu.
d. Giá trị tính toán cơ bản
Nếu không thể sử dụng bất kỳ phơng pháp định giá nào đã trình bày ở trên
làm cơ sở xác định giá trị hải quan của hàng hoá, thì giá trị tính toán cơ bản đợc
sử dụng. Giá trị này đợc tính bằng cách cộng giá nguyên vật liệu thô, chi phí chế
biến hay sản xuất, gia công khác trong quá trình sản xuất hàng nhập khẩu, chi phí
lao động, lợi nhuận và chi phí chung, chi phí đóng gói bao bì.
Nếu cả 5 phơng pháp trên đều không thể áp dụng, thì Hải quan Mỹ phải chọn
1 trong 5 cách trên và tiến hành một số điều chỉnh thích hợp nếu cần thiết, ví dụ
họ dùng phơng pháp giá trị hàng hóa giống hệt, nhng hàng hóa giống hệt này
không phải đợc sản xuất ở cùng nớc với hàng hóa cần tính giá trị hải quan mà đợc
sản xuất ở nớc khác hoặc Hải quan sẽ gia hạn thời hạn 90 ngày kể từ ngày hàng
hóa cần tính giá trị hải quan nhập vào Mỹ.
2.2.3. Chế độ u đãi thuế quan phổ cập (Generalised System of Preferences)
a). Lịch sử ra đời chế độ u đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Theo nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nớc nào
là thành viên của GATT đều đợc hởng mức thuế thấp nhất. Trong những qui định
của GATT có đa ra những điều kiện nh không mở rộng số nớc đợc hởng u đãi.
v.v Thế nhng, từ sau năm 1950 dới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nớc châu
á và châu Phi mới giành đợc độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp, v.v thì cuối
cùng GATT đã phải thay đổi.
Trải qua những cuộc thảo luận, đàm phán ở GATT, OECD, tại hội nghị của
Liên Hợp Quốc về thơng mại và phát triển lần thứ 2 vào năm 1967 với chủ trơng
là sớm thực hiện u đãi chung thì đến năm 1970 đã đạt đợc sự nhất trí chung, tất
12

cả 18 nớc phát triển tuyên bố cho hởng u đãi thực hiện Chế độ u đãi thuế quan
phổ cập.
b). Chế độ u đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Chế độ u đãi thuế quan phổ cập là một chơng trình miễn thuế nhập khẩu cho
những hàng hoá từ các nớc hởng lợi là các quốc gia độc lập hoặc các quốc gia và
lãnh thổ phụ thuộc đang phát triển để khuyến khích tăng trởng kinh tế ở những n-
ớc này. Chơng trình này đợc Mỹ ban hành trong Luật Thơng mại năm 1974
(Trade of Act 1974), có hiệu lực từ ngày 1/1/1976, và đợc gia hạn thêm trong
từng kỳ.
c). Điều kiện hởng u đãi
Để đợc hởng GSP của Mỹ phải đảm bảo hai điều kiện là điều kiện về quốc gia
đợc hởng và điều kiện về hàng hoá đợc hởng.
Thứ nhất, quốc gia đợc hởng GSP thờng là nớc đang phát triển, có mức thu
nhập bình quân trên đầu ngời thấp hơn 8.500 USD. Lý do là các nớc này cha đủ
khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên Mỹ sẽ từ chối áp dụng Chế độ u đãi phổ cập
cho những nớc sau:
Là một quốc gia Cộng sản, trừ phi: các sản phẩm của quốc gia này đợc
nhận đối xử Tối huệ quốc; quốc gia này là thành viên của WTO và IMF; và quốc
gia này không bị kiểm soát bởi chủ nghĩa Cộng sản quốc tế.
Là thành viên OPEC hoặc các tổ chức khác nắm giữ nguồn cung cấp các
nguồn hàng hóa quan trọng và nâng giá lên một cách vô lý tạo nên sự suy sụp
trầm trọng của kinh tế thế giới.
áp dụng các u đãi ngợc với các nớc phát triển, có thể có tác động ngợc
lại đối với thơng mại Mỹ.
Đã quốc hữu hóa, sung công tài sản của Mỹ, kể cả bằng sáng chế, nhãn
hiệu hàng hóa hoặc bản quyền, trừ phi Tổng thống Mỹ quyết định và thông
báo với Quốc hội là có sự đền bù nhanh chóng, đầy đủ và hữu hiệu; hoặc
13

đang có các cuộc đàm phán về đền bù; hoặc việc tranh chấp về đền bù đang
đợc phán xét.
Không công nhận hoặc không thực thi các quyết định của trọng tài thơng
mại quốc tế có lợi cho các bên của Mỹ.
Hỗ trợ và bao che cho các cá nhân hay nhóm ngời tham gia các hoạt động
khủng bố quốc tế.
Thứ hai, đối với hàng hoá thơng mại yêu cầu nhập khẩu chính thức, cần làm
thủ tục yêu cầu hởng u đãi GSP. Hàng hoá sẽ đợc hởng u đãi miễn thuế nếu đáp
ứng các điều kiện sau:
Hàng đó phải đi thẳng từ nớc hởng GSP vào lãnh thổ Hải quan của Mỹ
(nghĩa là không bốc dỡ, thay đổi, chế biến ở dọc đờng).
Hàng đó phải đợc sản xuất (trồng trọt, đánh bắt, chế tạo) tại nớc đợc hởng
GSP và giá trị nguyên liệu do nớc đó làm ra, cộng chi phí trực tiếp để gia công,
chế tạo thành phẩm tại nớc đợc hởng GSP không đợc thấp hơn 35% giá trị sản
phẩm ấy khi vào lãnh thổ hải quan Mỹ.
Hàng đợc sản xuất ở hai hoặc trên hai nớc mà những nớc ấy là thành viên
của một liên minh thuế quan, khu mậu dịch tự do thì đợc coi nh là đợc sản xuất
tại một nớc, trị giá nguyên liệu chi phí đợc gộp lại để xác định điều kiện 35%
nguyên liệu trong nớc đã hởng GSP.
Khi nguyên liệu nhập khẩu vào nớc đợc hởng GSP và đợc chế biến thành
một loại sản phẩm hay nguyên liệu thì vẫn đợc tính là giá trị tăng trong nớc để đa
vào sản phẩm khi xét điều kiện 35% nguyên liệu nguyên liệu trong nớc bao hàm
trong sản phẩm GSP.
d). Những điều cần chú ý khi sử dụng GSP của Mỹ
Thứ nhất, Mỹ quy định rằng một nớc đợc hởng GSP của Mỹ khi đã dần lớn
mạnh lên đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế thì sẽ rút khỏi danh sách nớc đ-
ợc hởng GSP của Mỹ.
Thứ hai, Mỹ dành quyền xem xét lại t cách GSP: Luật Thơng mại Mỹ có
quyền hạn chế sự u đãi GSP vì nhu cầu cạnh tranh. Mỹ giải thích là khi một
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét