LỜI NÓI ĐẦU
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường xuất hiện như là một tất yếu khách
quan không thể xoá bỏ, đồng thời nó cũng là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế thị
trường phát triển.
Đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp là chấp nhận đương đầu với thách thức cạnh tranh từ các doanh
nghiệp nước ngoài có nền kinh tế phát triển hơn, có kinh nghiệm cạnh tranh
hơn, để tạo điều kiện phát triển cho các công ty doanh nghiệp thuộc mọi loại
hình kinh tế tại Việt Nam. Mỗi công ty doanh nghiệp của Việt Nam cần phải
nhanh chóng tìm ra các giải pháp tốt nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường, xác lập vị thế để đảm bảo đủ điều kiện cho doanh nghiệp
mình phát triển, để góp phần đưa hàng hoá Việt Nam cạnh tranh cùng thế giới
trong nền kinh tế toàn cầu hoá .
Công nghệ thông tin hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới phát triển
rất mạnh. Các công ty kinh doanh về vi tính , tin học không phải là ít và không
chỉ có các công ty trong nước mà còn cả những công ty nước ngoài đang đầu tư
vào Việt Nam một cách rầm rộ. Vì vậy để tồn tại và phát triển một cách vững
chắc trên thị trường công nghệ thông tin, công ty thiết bị kỹ thuật tin học Hải
Anh cần tìm cho mình một chính sách phát triển thích hợp.
“Công ty Hải Anh với khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường” là đề tài tôi chọn để làm bài. Đề án môn học được chia làm ba phần:
Phần I : Tăng khả năng cạnh tranh – một tất yếu khách quan của các doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường.
Phần II : Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh công ty.
Phần III : Một số ý kiến nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.
1
PHẦN I
TĂNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH - MỘT TẤT YẾU KHÁCH
QUAN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
I. Thị trường và các qui luật của thị trường.
1. Thị trường.
Việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất, thực hiện dịch vụ của các
doanh nghiệp dịch vụ cũng như bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại đều
diễn ra trên thị trường. Thị trường có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Chúng được xem xét từ nhiều góc độ và được đưa ra vào các giai đoạn
khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá.
Theo nghĩa rộng , thị trường là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá được
biểu hiện bằng các hoạt động mua bán, trao đổi diễn ra trong không gian, thời
gian nhất định.
Ngoài ra thị trường còn được hiểu là tổng hợp các quan hệ trao đổi mua bán
giữa những người bán và người mua được thực hiện trong những điều kiện của
sản xuất hàng hoá (L.Reudos) hay thị trường là tập hợp các sự thoả thuận
thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá
và dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi mà ở đó có sự gặp gỡ giữa cung và cầu;
giữa người bán và người mua; và là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi
hàng hoá và dịch vụ.
Quan điểm của Samuelson cho rằng thị trường là một quá trình người mua
và người bán gặp gỡ nhau để xác định lên số lượng và giá cả hàng hoá.
Qua các khái niệm trên ta có thể rút ra kết luận: bản chất của thị trường là
hoạt động trao đổi, thông qua đó người mua, người bán thoả mãn nhu cầu của
mình. Như vậy, các yếu tố cấu thành nên thị trường bao gồm: đối tượng của
hoạt động trao đổi là sản phẩm vật thể hoặc dịch vụ, chủ thể của hoạt động trao
đổi là người bán và người mua, và các điều kiện thực hiện trao đổi.
Thị trường bao hàm cả yếu tố không gian và thời gian và trong những quan
niệm hiện nay về thị trường thì không gian và thời gian của trao đổi là những
quan niệm mở.
2
2. Vai trò và chức năng của thị trường.
a. Vai trò của thị trường:
Doanh nghiệp nhận biết nhu cầu của thị trường để quyết định loại hàng hoá
sản xuất, khảo sát đối tượng trong thị trường để doanh nghiệp tập trung phục vụ
và từ phản hồi của khách hàng trên thị trường đối với sản phẩm của mình để ra
những quyết định kinh doanh. Như vậy thị trường có vai trò là môi trường kinh
tế xã hội, là tấm gương để các doanh nghiệp nhận biết nhu cầu và đánh giá hiệu
quả kinh doanh của mình. Thị trường phản ánh một cách chân thực tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trường là một khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hoá.
Có thị trường thì quá trình lưu thông hàng hoá mới có thể diễn ra. Lưu thông
hàng hoá thuận lợi thì quá trình luân chuyển vốn mới diễn ra nhanh chóng. Và
có như thế tái sản xuất hàng hoá mới được mở rộng và phát triển, nền kinh tế
mới vận động một cách nhịp nhàng, ổn định.
Thị trường còn là cầu nối giữa doanh nghiệp với toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, là nơi hoàn thành các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp tham gia vào thị trường là tham gia vào các mối quan hệ
kinh tế trên thị trường. Các mối quan hệ này bao gồm từ các mối quan hệ tổng
thể là toàn bộ nền kinh tế quốc dân cho đến những mối quan hệ cá thể là giữa
các doanh nghiệp với nhau như quan hệ mua bán, quan hệ cộng tác, quan hệ
cạnh tranh…
Khi các mối quan hệ được kết hợp một cách hài hoà tức là doanh nghiệp đề
ra được những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, đó sẽ tạo ra điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. còn trường hợp ngược lại doanh
nghiệp sẽ không còn cơ hội đứng vững trên thị trường. Vì vậy có thể nói thị
trường là nơi kiểm nghiệm đúng đắn nhất các đường lối chủ trương của Đảng
và nhà nước, của các nhà kinh doanh.
b. Chức năng của thị trường:
Trong nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra với mục đích để bán
nghĩa là sản xuất cho nhu cầu của xã hội. Sản phẩm bắt buộc phải bán được
trên thị trường thì mới được xã hội thừa nhận. Vì vậy mà thị trường có chức
năng thừa nhận. Thị trường chỉ thừa nhận hàng hoá và dịch vụ nếu nó phù hợp
với những đòi hỏi của người tiêu dùng.
3
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng mua sản phẩm nghĩa là thị trường
đã “bỏ phiếu bằng tiền” cho sự tồn tại của sản phẩm. Ngược lại, nếu không
được thị trường thừa nhận thì doanh nghiệp sẽ bị phá sản. Muốn được thị
trường thừa nhận, doanh nghiệp phải “cung cái thị trường cần chứ không phải
cái mình thích hoặc có khả năng cung ứng”.
Chức năng thực hiện của thị trường được biểu hiện: thị trường là nơi thực
hiện giá trị của hàng hoá thông qua các hoạt động mua bán giữa người mua và
người bán. Giá trị của hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua giá cả thị
trường trên cơ sở giá trị của chúng được thị trường thừa nhận. Giá trị của hàng
hoá được thực hiện, người bán thu được tiền về từ người mua thì quyền sở hữu
hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua, hàng hoá đi sang lĩnh vực
tiêu dùng cá nhân ở đó giá trị sử dụng của nó sẽ được thực hiện, đó là mục đích
cuối cùng của sản xuất.
Sự vận động của quan hệ cung cầu và giá cả thị trường thực hiện sự cân đối
về tổng số cũng như cơ câu cung và cầu thông qua đó mà thực hiện sự cân đối
sản xuất và tiêu dùng xã hội trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá.
Thị trường là một lĩnh vực phản ánh tổng hợp nhiều mối quan hệ kinh tế
thông qua mua, bán vì vậy nó chứa đựng thông tin đa dạng và nhiều mặt. Thị
trường cung cấp các thông tin về cung, cầu (tổng số và cơ cấu); về hàng hoá
(chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã…); về khách hàng (khả năng thanh toán, thu
nhập, sở thích, thị hiếu, thói quen tiêu dùng…). Thị trường cũng chứa đựmg
các thông tin về đối thủ cạnh tranh về chi phí, giá cả. Thông tin của thị trường
là thông tin hai chiều diễn ra giữa người bán người bán, người bán người
mua, người mua người mua. Những thông tin này không chỉ cần thiết cho
người sản xuât, người tiêu dùng mà cả đối với Nhà nước và các tổ chức kinh tế.
Chức năng điều tiết của thị trường với sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của
xã hội được thực hiện qua sự vận động của các quy luật kinh tế của thị trường
thông qua quan hệ cung cầu và tín hiệu giá cả thị trường. Với sản xuất, thị
trường thực hiện việc phân bổ các nguồn lực (vốn, lao động, đất đai) vào các
ngành, các khu vực khác nhau của nền kinh tế. Với lưu thông, thị trường điều
tiết sự lưu thông hàng hoá từ nơi thừa đến nơi khan hiếm, từ nơi giá cả thấp đến
nơi có giá cả cao để đáp ứng nhu cầu của xã hội thông qua đó mà đạt được lợi
nhuận. Và đối với tiêu dùng, chức năng điều tiết biểu hiện ở chỗ kích thích
4
hoặc làm hạn chế tiêu dùng với từng loại hàng hoá hoặc dịch vụ, xây dựng cơ
cấu tiêu dùng hợp lý.
Chức năng cuối cùng là chức năng kích thích của thị trường. Thị trường kích
thích các doanh nghiệp muốn tồn tại và kinh doanh có lãi phải tạo cho mình ưu
thế cạnh tranh bằng cách đổi mới công nghệ, kỹ thuật, nâng cao chất lượng
hàng hoá, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm… và phải quan tâm nhiều
hơn đến các dịch vụ phục vụ khách hàng.
3. Các qui luật của thị trường.
Qui luật giá trị : Đây là qui luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. Căn
cứ vào qui luật này hàng hoá được trao đổi trên thị trường phải căn cứ vào thời
gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra sản phẩm đó tức là chi phí
bình quân trong xã hội.
Qui luật giá trị kích thích người sản xuất hàng hoá chú ý tới hao phí lao
động xã hội cần thiết và ra sức giảm hao phí cá biệt xuống để giảm giá bán. Từ
đó, thúc đẩy các nhà sản xuất phải quan tâm cải tiến kĩ thuật để hạ giá thành sản
phẩm,tạo lợi thế cạnh tranh. Qui luật giá trị còn có tác dụng điều tiết sự phân
phối lao động xã hội và tư liệu lao động giữa các ngành thông qua cơ cấu giá cả
thị trường. Sự tăng hay giảm của giá cả xung quanh giá cả sản xuất chỉ cho
người sản xuất biết nhu cầu về thứ hàng hoá đó tăng lên hay giảm đi.
Sự vận động giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá biểu hiện của quy luật giá trị
cùng với tác động đồng thời của những quy luật khác trong đó phải đặc biệt
nhấn mạnh quy luật cung cầu.
Qui luật cung – cầu : Quan hệ cung cầu là mối quan hệ kinh tế lớn nhất, cơ
bản nhất của thị trường. Nó phản ánh mối quan hệ giữa nhu cầu có khả năng
thanh toán và khả năng cung ứng hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Quy luật
cung cầu luôn có xu hướng vận động xích lại gần nhau để tạo ra sự cân bằng
trên thị trường và gắn liền với nó là sự vận động của giá cả thị trường.
Qui luật cạnh tranh : là cơ chế vận động trên thị trường. Cạnh tranh kích
thích nền kinh tế phát triển và sự quản lý của nhà nước là để hạn chế tính không
lành mạnh trong cạnh tranh. Cạnh tranh diễn ra giữa người bán với người mua
trong quá trình mặc cả sản phẩm, giữa người mua với người mua khi hàng hoá
khan hiếm và diễn ra thường xuyên là cuộc cạnh tranh giữa những người bán để
5
giành giật những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của mình.
II. Tăng khả năng cạnh tranh - một tất yếu khách quan của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường.
1. Khái niệm cạnh tranh :
Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển nền sản xuất hàng hoá
tư bản chủ nghĩa. Theo Mác “Cạnh tranh trong tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua,
sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thị hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh càng có vai trò quan trọng.
Nó là điều kiện, là yếu tố kích thích kinh doanh và là động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung. Nhờ có
cạnh tranh mà năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên – yếu tố đảm
bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển .
Tóm lại, có thể hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các
chủ thể kinh doanh hoạt động trên thị trường nhằm giành giật những khả năng
về mở rộng quá trình sản xuất sản phẩm, mở rộng thị phần cho doanh nghiệp,
tạo ra cho xã hội những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, những dịch vụ
chu đáo.
2. Tính tất yếu khách quan của cạnh tranh ở mỗi doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường.
Mỗi doanh nghiệp bắt đầu khởi sự kinh doanh phải có những nguồn lực
nhấtđịnh. Để đánh giá một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh hay yếu
người ta căn cứ vào nhiều yếu tố : tiềm lực về vốn, về công nghệ, lao động. Để
duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải
phát huy triệt để mọi tiềm lực này, mọi thế mạnh mà mình có. Tức là với nguồn
lực đó phải làm sao tạo được lợi thế hơn so với cá doanh nghiệp khác trong
thoả mãn đến mức cao nhất đòi hỏi của thị trường. Hay chính là việc nâng cao
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Thực chất tăng khả năng cạnh tranh là tạo ra ngày một nhiều hơn các ưu thế
về tất cả các mặt : Giá cả, giá trị sử dụng sản phẩm, uy tín. Cụ thể là doanh
nghiệp phải áp dụng tổng hợp các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng sản
phẩm, hoàn thiện mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, nâng cao trình độ đội ngũ lao
6
động… hay nói cách khác tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh là một tất yếu khách quan, các doanh
nghiệp khi tham gia vào thị trường để tồn tại và phát triển phải thực hiện xây
dựng và áp dụng chiến lược cạnh tranh, song cũng phải tuân theo quy luật cạnh
ttanh. Với các doanh nghiệp cạnh tranh có thể đào thải không thương tiếc các
doanh nghiệp có chi phí cao chất lượng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thị kém. Mặt
khác, nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để
giảm giá bán sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức
thực hiện cá dịch vụ tiêu thụ, quảng cáo, bảo hành một cách chu đáo.
Nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của con người là rất đa dạng và phong phú,
song đều có cùng xu thế tích tiêu dùng những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có
hcất lượng tốt mà giá thành hợp lý. Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp không được bằng lòng với chất lượng sản phẩm, dịch vụ
của mình mà cần phải không ngừng tăng cường hoạt động nghiên cứu thị
trường, đánh giá đúng mình, đúng người, xây dựng những chiến lược đầy tham
vọng bởi vì xản phẩm hôm nay được ưa dùng có thể ngày mai trở nên lỗi thời.
Ngoài ra khoa học công nghệ cũng luôn phát triển, đào thải công nghệ cũ kỹ lạc
hậu, thay thế là những công nghệ tiên tiến hiện đại. nó là một tác nhân không
nhỏ ảnh hưởng tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh ở mỗi doanh nghiệp.
Như vậy nâng cao khả năng cạnh tranh là tất yếu khách quan bảo đảm cho
sự tồn tại và phát triển ở mỗi doanh nghiệp.
3. Các hình thức cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thj trường nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hành
sản xuất kinh doanhh thì cạnh tranh bắt buộc họ, thúc đẩy họ phải điều hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất.
Khi xem xét cạnh tranh ở nhiều khía cạnh khác nhau ta có thể thấy mỗi khía
cạnh, cạnh tranh lại có nhiều mức độ.
* Dưới góc độ thực chứng, cạnh tranh được chia làm 3 mức độ: cạnh tranh
hoàn hảo hoặc thuần tuý, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền.
Cạnh tranh hoàn hảo hay được gọi là cạnh tranh thuần tuý là tình trạng cạnh
tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá không đổi trong toàn bộ các đĩa
danh của thị trường, bởi vì người mua và người bán có sự hiểu biết tường tận
7
về các điều kiện, về thị trường. Trong thị trường đó có sự tự do luân chuyển các
yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, ở đó chi phí vận tải không đề
cập đến và coi như bằng không. Cạnh tranh thuần tuý muốn tồn tại cần phải có
các điều kiện sau: Tất cả các hãng kinh doanh trong ngành đó phải tương đối
nhỏ; số lượng kinh doanh trong đó phải rất nhiều. Các công ty đưa ra thị trường
sản phẩm hoàn toàn giống nhau đến mức cả người sản xuất và người tiêu dùng
đều khó phân biệt. Tất cả các hãng kinh doanh đều nhỏ do đó việc gia nhập
ngành và bỏ ngành rất dễ dàng.trong loại hình cạnh tranh này, giá cả được định
đoạt một cách duy nhất trên thị trường thông qua quan hệ giữa sức cung và sức
cầu. Cả người bán và người mua đều phải chấp nhận giá cả đang phổ biến trên
thị trường.
Độc quyền tồn tại khi trong ngành công nghiệp hoặc trên thị trường chỉ có
một người san xuất hoặc một người bán. Do việc chỉ có một người bán duy
nhất đã cho phép công ty đó có thể kiểm soát trọn vẹn được giá cả các sản
phẩm của mình, cho phép họ có thể nâng giá hoặc hạ giá tuỳ theo chiến lược
của công ty để thu lợi nhuận độc quyền.
Hỗu hết các thị trường ngày nay ở vào khoảng giữa của cạnh tranh hoàn hảo
và độc quyền, được gọi là cạnh tranh không hoàn hảo.
Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các
ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức
mạnh và thế lực để có thể chi phối được giá cả của các sản phẩm của mình.
Trong cạnh tranh không hoàn hảo có cạnh tranh mang tính độc quyền và độc
quyền nhóm.
Cạnh tranh mang tính chất độc quyền là một hình thức của cạnh tranh mà ở
đó những người bán có thể ảnh hưởng đến những người mua bằng sự khác nhau
của các sản phẩm của mình về hình dáng, kích thước, chất lượng vào mác nhãn.
Trong rất nhiều trường hợp những người bán có thể buộc những người mua
chấp nhận giá.
Độc quyền nhóm tồn tại trong những ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số
ít người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của
mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt
động của những kẻ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó. Những người bán
hoặc những người sản xuất ở đây thường có tiềm lực kinh tế lớn. Sự thâm nhập
8
của các đối thủ cạnh tranh thường rất khó khăn bởi vì đòi hỏi một số vốn đầu tư
rất lớn. Trên thế giới, các nước phát triển thường độc quyền nhóm trong các
ngành như sản xuất ô tô, điện tử,
* Xét theo góc độ chuẩn tắc của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thì
cạnh tranh có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không đẹp.
Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng và giải thoát
được khỏi các thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường. Trong cạnh tranh
này, mọi đối thủ đều bình đẳng và tham gia “cuộc chơi” một cách công bằng,
tuân thủ quy luật cạnh tranh mà không dùng thủ đoạn để chiến thắng trong cạnh
tranh.
Cạnh tranh không đẹp là cạnh tranh không trung thực hoặc không phù hợp
với các cách cư xử có thể chấp nhận được của kinh doanh. Có thể nói cạnh
tranh không đẹp là biểu hiện mặt xấu của cạnh tranh.
Nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, với nền
kinh tế thị trường cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi nhưng có sự quản lý
của nhà nước sẽ hạn chế sự cạnh tranh không đẹp và khuyến khích cạnh tranh
lành mạnh trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước quản lý ở cấp vĩ mô đảm bảo
cho nền kinh tế không đi chệch định hướng XHCN.
4. Một số chính sách cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh.
a. Chính sách giá cả.
Chính sách giá cả là việc xác định 1 mức giá hoặc nhiều mức giá bán cho
các trung gian phân phối hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng.
Một trong những quyết định quan trọng và phức tạp nhất của một công ty
liên quan đến giá hàng hoá và dịch vụ của nó. Nừu những người mua tiêu dùng
hoặc những người mua tổ chức nhận ra rằng giá hơi cao, họ có thể chuyển sang
mua những nhãn hiệu cạnh tranh hay những hàng hoá thay thế, dẫn đến những
thua thiệt về khối lượng bán và lợi nhuận của công ty. Nếu giá quá thấp, khối
lượng bán có thể sẽ tăng lên nhưng khả năng lợi nhuận sẽ xấu đi, hoặc có thể
tâm lý người mua sẽ cho rằng hàng hoá đó kém chất lượng mà không mua hàng
hoá của công ty. Bởi vậy, các quyết định về giá phải được đưa ra xem xét một
cách cẩn thận để vừa đảm bảo bù đắp chi phí, vừa đảm bảo cho sản phẩm có
sức cạnh tranh trên thị trường. Thực tế cho thấy, trong việc xác lập hoặc thay
9
đổi giá các hãng cần thiết phải xem xét sự cạnh tranh sẽ tác động tới giá của sản
phẩm. Đầu tiên cần phải xem xét các nhân tố sau:
1. Số lượng đối thủ cạnh tranh.
2. Quy mô của các đối thủ cạnh tranh.
3. Khu vực có đối thủ cạnh tranh.
4. Các điều kiện để ra nhập ngành công nghệ.
5. Mức độ phụ thuộc dọc của các đối thủ cạnh tranh.
6. Số lượng sản phẩm được các đối thủ cạnh tranh bán.
7. Cơ cấu giá của đối thủ.
8. Các phản ứng trong lịch sử của các đối thủ với những thay đổi về
giá.
Những nhân tố này giúp cho việc xác định giá bán của hãng nên ở mức độ
nào. Định giá một sản phẩm từ mức giá của đối thủ cạnh tranh được gọi là
“định giá theo tỉ lệ” và nó rất thông dụng đối với các sản phẩm có tính đồng
nhất, vì lẽ phương pháp này thể hiện một sự hiểu biết chung của ngành kinh
doanh và không phá vỡ sự hài hoà của ngành đó.
Bên cạnh những nhân tố vi mô đó của các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp
cũng cần xem xét đến cả những yếu tố tác động ở cấp vĩ mô như: luật lệ của
chính phủ, lạm phát, suy thoái, lãi suất, tỉ giá… để đưa ra mức giá phù hợp và
hấp dẫn người tiêu dùng
b. Chính sách sản phẩm.
Trong việc nâng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, chính sách sản
phẩm đóng vài trò chủ yếu vì tầm quan trọng của các đặc tính kỹ thuật và hiệu
năng của sản phẩm công nghệ đối với người mua, chính vì vậy muốn sản phẩm
của mình có sức cạnh tranh thì điều đặc biệt quan trọng đối với các đơn vị bán
sản phẩm cho khách hàng công nghiệp là đảm bảo khả năng tốt nhất những đặc
trưng của sản phẩm (có thể bằng cách nắm giữ bằng sáng chế phát triển), tiến
hành thường xuyên hoạt động đổi mới kỹ thuật. Việc kết hợp đồng bộ giữa
nghiên cứu công nghệ với Marketing và nghiên cứu thị trường có tác dụng
không nhỏ tới sự thành công của cá doanh nghiệp công nghiệp.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà cạnh tranh về chất lượng đứng vị trí hàng
đầu thì vấn đề dịch vụ bổ sung gắn liền với sản phẩm càng làm tăng khả năng
10
thu hút khách hàng, bởi vì nhờ vậy sản phẩm ngày càng phù hợp với khách
hàng hơn mà mức giá bán không đổi – một lợi thế quan trọng trong cạnh tranh.
c. Chính sách phân phối hàng hoá.
Làm tốt công tác phân phối và bán hàng là thúc đẩy cho việc tiêu thụ sản
phẩm được thuận lợi , nhanh chóng và cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường.
Chính sách phân phối bao gồm toàn bộ các hoạt động, giải pháp liên quan
tới việc phân phối sản phẩm nhằm đảm bảo quá trình đưa hàng hoá đến người
tiêu dùng có hiệu quả cao nhất.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, việc bán hàng còn bao gồm cả việc cài
đặt các chương trình phần mềm tạo điều kiện cho người mua hàng sử dụng một
cách thuận tiện nhất. Vì vậy, người bán hàng cần có một trình độ hiểu biết nhất
định về tin học. Doanh nghiệp cần chú ý tới những người có năng lực và trình
độ để tham gia tiêu thụ sản phẩm, giúp cho việc làm cho sản phẩm ngày càng
thoả mãn ngay cả những yêu cầu cao nhất của khách hàng.
d. Chính sách giao tiếp khuyếch trương.
Đây là một trong những chiến lược nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp,
tạo lòng tin cho khách hàng và xây dựng một hình ảnh chung thuận lợi cho
doanh nghiệp.
Giao tiếp, khuyếch trương đóng vai trò chuẩn bị và vai trò động lực trong
bán hàng. Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì giao tiếp,
khuyếch trương là một trong những chính sách hết sức cần thiết. Trong hệ
thống các phương tiện giao tiếp khuyếch trương, quảng cáo được sử dụng một
cách thường xuyên và triệt để. Tuy nhiên cần có cách quảng cáo hợp lý để vừa
giảm chi phí quảng cáo lại vừa phát huy được hiệu quả của quảng cáo, nâng cao
hiệu quả kinh doanh của công ty. Và cách quảng cáo phát huy được tác dụng
nhất trong lĩnh vực kinh doanh vi tính là quảng cáo trên mạng thông tin với ưu
thế nổi trội của việc hoà mạng toàn cầu với tính cập nhật thông tin của mạng.
Bên cạnh đó là kết hợp với các cách quảng cáo truyền thống vẫn phát huy được
tác dụng từ xưa. Có như vậy doanh nghiệp mới có thể đưa sản phẩm của mình
đến với mọi đối tượng khách hàng và mọi khúc thị trường.
11
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét