đây đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thủy sản và làm các nghề thủ công. Đồng
thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hóa trong nước cùng các hoạt động
buôn bán với nước ngoài, lập nên một cảng-thị sơ khai, là nền móng cho các cảng-
thị sau này.
Cùng chung ý kiến đó, Theo giáo sư phan huy lê thì: “trước khi Hội An ra đời,
vùng cửa sông thu bồn đã trải qua thời kỳ văn hóa sa huỳnh và chăm pa mà nhiều
nhà khoa học quan gọi là thời kỳ tiền Hội An. Khảo cổ học đã phát hiện và khai
quật nhiều di tích văn hóa sa huỳnh muộn( khoảng thế kỷ 1, 2 tr. C.n đến thế kỷ 1 s.
C.n) trên các cồn cát bên tả ngạn sông thu bồn thuộc xã cẩm hà như an bang, hậu
xá, thanh chiêm. Rõ rang cư dân sa huỳnh đã cư trú trên một số cồn cát, doi đất cao
hạ lưu sông thu bồn. văn hóa chăm pa cũng để lại dấu tích ở xã cẩm hà, cẩm thanh
qua những di vật gốm sứ trung quốc có niên đại thế kỷ 9( hậu xá 1-2, cẩm hà), 12-
13( bàu đá, cẩm thanh), 14( tràng sỏi, cẩm hà). Đặc biệt kết quả thám sát và khai
quật địa điểm bãi làng( 5-1998 và 5-1999) trên cù lao chàm đã tìm thấy gốm chăm
thô, gốm trung quốc thế kỷ 9-10, gốm islam thế kỷ 9, thủy tinh nguyên liệu có
nguồn gốc từ funstat ( ai cập), một sồ đồ thủy tinh gia dụng sản xuất từ ai cập, I ran
khoảng thế kỷ 9”.
1
1
Phan huy lê. Hội an- di sản văn hóa thế giới. tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 4.2004.
5
Thế kỉ 2 - Thế kỉ 15
Đường phố Hội An
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời
kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao
Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam cùng với những tượng đá, giếng
gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm
sứ Champa, Ả Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ Trung Đông, Ấn Độ và nhiều
tài liêu, thư tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa
kia là hải cảng chính của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền
ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt từ những giếng Champa rất ngon và trong;
trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ.
Trong suốt thời kỳ chăm pa(từ thế kỷ 2 đến 15), Hội An được biết đến với cái tên
Lâm Ấp phố( khu phố Chămpa) và là một khu phố chính của vương quốc Trà Kiệu(
miền Trung Việt Nam ngày nay).
Giữa thế kỷ 9 và 10, Lâm Âp phố trở thành một cảng thị quan trọng, thu hút nhiều
thương nhân A Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm như tơ
tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương, nước ngọt…. Những phế tích móng
Chăm, những giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm ( tượng vũ công thiên
tiên Gandhara, tượng nam thần tài lộc Kubera… ) cùng những mãnh gốm sứ Trung
6
Quốc và Trung Cận Đông, đồ trang sức, những mãnh thủy tinh màu được phát hiện
đã minh chứng cho sự buôn bán nhộn nhịp ở Lâm Ấp phố trong suốt thời kỳ
Chămpa.
Và giáo sư phan huy lê cũng khẳng định: “những di tích và di vật mà khảo cổ học
tìm thấy chứng tỏ kh mà kinh đô trà kiệu và thánh địa mỹ sơn của chăm pa xây
dựng trên thượng lưu sông thu bồn thì vùng cửa sông và cù lao chàm hẳn có một vị
trí trọng yếu trong phòng vệ đất nước và là cửa ngõ giao thương với thế gới bên
ngoài. Trên mặt đất, vùng quan hội an cũng còn để lại một số dấu tích và di vật có
nguồn gốc chăm như di tích kiến trúc ở lùm bà vàng( thanh chiêm- cẩm hà), ở an
bang( cẩm hà), bức tượng trong miếu thần hời( an bang- cẩm hà), tượng thờ ở lăng
bà lồi( cẩm thanh), tượng voi trước đình xuân mỹ( cẩm hà), giếng chăm rải rác ở
nhiều nơi nhất là ở trung phường. những địa danh như cù lao chàm, cửa đại
cheiem, kẻ chàm, cồn chăm… cũng còn lưu giữ lại dấu ấn của lịch sử - văn hóa
chăm pá. Thư tịch cổ của trung quốc có nói đến một “lâm ấp phố” nào đó mà phía
ngoài là lúi chàm hiện nay. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có đủ cứ liệu khoa học để
chỉ ra một carngt hị của vương quốc chăm pa ở vùng cửa sông thu bồn mà thế kỷ 9-
10 đã có quan hệ giao thương với thế giới trung quốc và ả rập”
2
. ở đây cũng xin lưu
ý một vấn đề là với những kết quả nghiên cứu cho đến nay thì trong phạm vi phố cổ
Hội An chưa tìm thây dấu tích của cảng thị chăm pa xưa, nghĩa là nếu có một cảng
thị chăm pa thì vị trí không nằm trong phố cổ Hội An.
Trở lại vấn đề, chúng ta thấy, thời kỳ huy hoàng của vương quốc Chămpa cũng khá
ngắn ngủi do cuộc chiến tranh liên miên với đại Việt và Khmer. Cuối cùng, người
Đại Việt đã chiếm lấ ưu thế và mở rộng dần về phía Nam.
Lý Thánh Tông (1054-1072) Vua đầu tiên mở mang bờ cỏi xuống phía Nam người
Chiêm thường quấy phá người Việt, Lý Thánh Tông đem quân đánh tới Ðồ Bàn
năm (1069) bắt vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman III) Chế Củ nhường 3 châu
thuộc phía Bắc Chiêm Thành là Bố Chánh ( bắc Quảng Bình) Ðịa Lý ( Quảng
2
Phan huy lê. Hội an- di sản văn hóa thế giới. tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 4.2004.
7
Trung và nam Quảng Bình) Ma Linh (Quảng Trị) đổi lấy tự do. Ðược đất nhà vua
chiêu mộ dân chúng đến khai khẩn đất đai
Lịch sử thay đổi qua nhiều triều đại đến đời Trần Thánh Tông (1258-1278) nhường
ngôi cho con Trần Anh Tông (1293-1314). Làm Thái Thượng Hòang sang thăm
Chiêm Thành hai nước Việt Chiêm ban giao tốt đẹp. Có thể ngài thấy từ Quảng Trị
trở ra đất hẹp khô cằn khó phát triển, phương Bắc Trung Hoa luôn quấy phá, bước
qua đèo Hải Vân về phía Nam là đồng bằng phì nhiêu, bờ biển trải dài, hy vọng phát
triễn về kinh tế Vùng đất hứa hẹn cho tương lại nên ngài hứa gã Huyền Trân Công
Chúa cho Chế Mân.
Năm bính ngọ 1306 Vua Chiêm là Chế Mân ( Jaya Simhavarman ) trị vì năm (1288-
1307) làm lễ thành hôn với Huyền Trân Công Chúa,được tấn phong làm Hoàng Hậu
gọi là Paramecvari. Chàng rể Chế Mân làm sính lễ dâng hai Châu Ô và Châu Lý,
cuộc hôn nhân nầy tạo ngoại giao tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Chiêm
Trần Anh Tông (1293-1314) anh của Huyền Trân Công Chúa, thâu nhận hai Châu
trên đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu. Hoá châu gồm Ðiện Bàn và Duy Xuyên
ngày nay. Ðại Việt cho di dân đến khai phá, từ đó có cơ hội cho các Triều đại kế
tiếp tiến dần về phương Nam.
Năm 1307 Vua Chế Mân từ trần theo tục Chiêm Thành, Hoàng hậu Paramecvari tức
Huyền Trân phải hỏa thiêu theo chồng. Tục lệ nầy người Ấn giáo còn áp dụng gọi là
Suttee (trà tỳ) sau năm 1829 bỏ hẳn.
Vua Trần Anh Tông thương em, cử phái đoàn do tướng Trần Khắc Chân sang
Chiêm Thành chia buồn, lợi dụng cơ hội nầy giải thoát Huyền Trân đem về nước.
Có thể ngoại giao của hai nước Chiêm và Việt từ đó bất hòa
Nhà Trần suy yếu bị nhà Hồ chiếm ngôi, Chế Bồng Nga (Pô Bin Swor 1360-1390)
vua mạnh nhất của Chiêm Thành đem quân sang đánh phá Ðại Việt vào các năm
1377 và 1378. Năm 1390 đánh Thanh Hoá, tiến lên sông Hồng đánh với tướng Trần
Khắc Chân, Chế Bồng Nga bị Ba Lậu Kê làm phản chỉ điểm. Chiến thuyền của Chế
Bồng Nga bị bắn trúng tử trận. Từ đó Chiêm Thành bị suy yếu.
Vua Hồ Hán Thương (1401-1407) sai Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua
8
Chiêm Ba Ðích Lại (Virabhadravarman) thua nhường đất Chiêm Ðộng (Thăng
Bình) Thượng Hoàng Hồ Qúy Ly đòi thêm miền Cổ Lũy Ðộng (Quảng Ngãi )
3
(1)
Quân Minh đánh Ðại Việt, bắt gia đình nhà Hồ (1407) Vua Chiêm là Trà Toàn lợi
dụng lúc thay chủ đổi ngôi, đem đại quân đánh chiếm phần đất đã nhường cho nhà
Hồ.
Lê Thánh Tông (1460-1479) bị Chiêm Thành đem quân quấy phá. Vua Lê phản
công hành quân tới Kinh đô Ðồ Bàn 1471 bắt Trà Toàn và Trà Toại. Chấm dứt
chiến tranh Việt Chiêm, chiếm vùng đất mới đổi tên thành Hoài Nhơn. Sát nhập vào
bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghiã, trở thành Quảng Nam Thừa Tuyên Ðạo. Danh từ
QUẢNG NAM được chính thức đi vào Lịch sử.
Quảng Nam có nghiã là mở rộng về phương Nam, bắt đầu trang sử mới cho lưu dân
Việt, từ đó khai phá và mở mang bờ cỏi đến đồng bằng sông Cửu Long
(Mekong).và dừng lại năm 1884 khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam và các nước
Ðông Dương
THỜI KỲ ĐẠI VIỆT:nghép
bài vào
3
Quảng Nam trong lịch sử trang 37 của Trần Gia Phụng biên khảo Toronto 2000
9
Thế kỉ 15 - Thế kỉ 19
Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội An có hai con
mắt trên cửa như trong hình
THỜI KỲ ĐẠI NAM
Thời kỳ đại nam bắt đầu từ đầu thế kỷ 19(1802) kéo dài đến năm 1945. Thời kỳ này
đã đánh dấu triều đại Nguyễn, do gia đình họ nguyễn sáng lập và xây dựng kinh
thành Huế- phía bắc của Hội An.
Trong thời kỳ triều Nguyễn nhiều thương nhân tiếp tục đến Hội An để trao đổi hàng
hóa. Trong suốt mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10, các thương nhân Trung
Hoa thường lưu trú dài ngày. Họ đã xây dựng các mối quan hệ với người dân địa
phương. Các thương nhân trung hoa thường cưới vợ người Việt để thiết lập sự
nghiệp buôn bán lâu dài ở Hội An.
Vị trí địa ký
Quá trình lịch sử
Giá trị văn hóa
10
Khảo sát một số địa danh: phần ảnh và
phầnĐi tìm phố nhật và phố hoa
Kết luận
Giá trị của di sản hội an:
Hội An được chính phủ việt nam công nhận là di tích lịch sử- văn
hóa cấp quốc gia và năm 1999 unesco công nhạn là di sản văn hóa
thế giới. điều đó đủ khẳng định những giá trị của di ản lịch sử- văn
hóa Hội An, một di sản quý của việt nam và của thế giới. tuy nhiên,
nhận thức về giá trị của một di sản lớn là kết quả của quá trình tìm
tòi, khám phá, quá trình nghiên cứu khoa học không bao gời dừng
lại và không nên đưa ra kết luận cuối cùng. Với những thành quả
nghiên cứu mang tín hợp tác quốc tế cho đến nay, cùng với kết quả
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế, cũng như
thông qua chuyên đề địa lý học lịch sử việt nam, chúng tôi thấy có
thể nêu lên những giá trị tiêu biểu sau đây, kể cả những vấn đề cần
đặt ra để tiếp tục nghiên cứu và thảo luận:
1. về mặt lịch sử, Hội An dưới góc độ một trung tâm thương mại
lớn có quan hệ rộng rãi với trong nước và thế giới, thì phạm vi
hoạt động trực tiếp không chỉ giới hạn trong phố cổ Hội An
mà còn bao quát cả cửa song thu bồn, bao gồm cả cù lao chàm
ngược lên đến dinh chime. Từ không gian đó, đi vào chiều sâu
11
của lịch sử thì vùng Hội An đã từng có một cảng thị của
vương quốc chăm pa mà những phát hiện khảo cổ học ở cù lao
chàm cho thấy đã có những quan hệ giao lưu với thế giới trung
quốc và ả rập thế kỷ 9- 10. thời kỳ tiền Hội An đó là một dấu
nối có nhiều ý nghĩa lịch sử và văn hóa giữa chăm pa và đại
việt.
sau khi ra đời vào cuối thế kỷ 17, Hội An nhanh chóng phát triển
thành một cảng thị phồn thịnh nhat của việt nam và vào loại nổi
tiếng của đông nam á. Thế kỷ 17 là thời kỳ phát đạt của các đô
thị trung đại việt nam (hay cận thế theo quan niệm phân kỳ cảu
sử gia nhật bản) ở cả đàng trong và đàng ngoài. Nhưng phần lớn
các đô thị này đều mang cấu trúc chung: vừa là trungt âm chính
trị( của chính quyền trung ương hay địa phương) vừa là trung
tâm kinh tế với hai bộ phận cấu thành: thành= chính trị+ thị=
kinh tế. có thể bộ phận trng tâm chính trị( thành) rồi bộ phận
trung tâm kinh tế( thị) bổ sung sau như đại lam, thăng long, phú
xuân, gia định, biên hóa, hà tiên… cũng có thể đô thị xuất hiện
và phát triển đến một mức độ nào đó rồi chính quyền địa phương
đặt là trị sở để kiểm soát như phố hiến, đà nẵng…. đặc điểm này
là xuất phát từ sự phát triển sơm của chế độ quan chủ tập quyền
mà tất cả các đô thị đều nằm trong hệ thống hành chính và chịu
sự quản lý, kiểm soát của chính quyền trung ương hoặc địa
phương.
12
Khác với phương tây và nhật bản, do những đặc điểm lịch sử
khác biệt, sớm xuất hiện những thành thị tự do với quyền quản lý
và phòng vệ của những hội đồng hay tổ chức đại diện cho tầng
lớp thị dân. Hội An ra đời trên một vị trí thuận lợi và phát triển
thành một đô thị, kiểu đô thị- thương cảng, tuy cũng nằm dưới sự
quản lý của chúa nguyễn mà trực tiếp dinh trấn quảng nam.
Nhưng trong lịch sử tồn tại, Hội An không giữ vai trò trị sở của
chính quyền, ngoại trừ hai trường hợp ngắn mấy năm đầu đời gia
long, nhà nguyễn tạm dời trấn ding quảng nam từ dinh chiêm về
Hội An trước khi xây dựng dinh trấn mới ở thanh chiêm và chính
quyền pháp cũng có lúc đặt trị sở ở tỉnh quảng nam tại Hội An
rồi chuyển về đà nẵng.
4
trị sở chính quyền đặt tạm ở Hội An lại
diễn ra vào lúc suy thoái của đô thị này. Tại Hội An, trong tời
thịnh đạt thế kỷ 17, ngoài thương điếm hà lan, còn có hai khu
phố người nhạt và người hoa với quyền tự quản khá lớn- mà
chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau- như được cử trưởng khu, có
luật lệ riêng và được sống theo phong tục mỗi nước. một số đô
thị khác cuxngcos lúc có thương điếm nước ngoài và người hoa
vẫn thường có xu hướng sống theo cộng đồng cùng quê hương,
lập thành bang và có hội quán riêng, nhưng quyền tự quản của
khu phố người nước ngoài ở Hội An cao hơn. Chính sách mở cửa
của chúa nguyễn cùng với kế cấu thoáng đạt đó phải chăng là
4
Xem vị trí dinh chiêm….
13
những nhân tố bên trong tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của Hội An.
2. về kinh tế và văn hóa:
Hội An là một tr ong những cảng thị việt nam nằm trên con
đường tơ lụa trên biển và phát triển trong hệ thống thương mauij
châu á. Hải trình giao lưu kinh tế- văn hóa tren biển này dọc theo
bờ biển việt nam cho đến ny đã có thể xác định một số cảng thị
việt nam ra đời trên con đường giao thương này. Sớm nhất là
cảng thị óc eo( kiên giang) vào những thế kỷ đầu C.n với những
quan hệ mật thiết với trung quốc, ấn độ, ba tư và la mã
5
; rồi đến
một cảng thị nào đó của chăm pa vùng cù lao chàm- cửa song thu
bồn trong khoảng thế kỷ 9-10( chưa xác định rõ vị trí) có quan hệ
với trung quốc và is lam thương cảng vân đồn( quãng ninh) phát
triển thời lý, trần, lê( thế kỷ 11- 17) và Hội An. Nhưng khác với
trước, từ thế kỷ 16-17 “con đường tơ lụa trên biển” của châu á đã
nối thông với châu âu qua hải trình vòng qua châu phi, bắt đầu
hình thành hệ thống thương mại thế giới. trong bối cảnh đo, Hội
An có điều kiện phát triển thành một trung tâm kinh tế- văn hóa
mang tính quốc tế trong quan hệ giao lưu với nhiều nước đông á,
đông nam á, nam á và cả một số nước phương tây. Mối quan hệ
giao lưu nay được ghi nhận trong tư liệu chữ viết của việt nam
và những nước có lien quan, nhiều nhất là nhật bản, trung quốc,
5
Xem BÀI THẦY NHUNG
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét