Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014
Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Tóm lại, sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là tất
yếu khách quan. Nó là cơ sở, là động lực để kinh tế thị trường phát triển.
2. Cạnh tranh và các dạng cạnh tranh trên thị trường.
2.1.Cạnh tranh.
Sự tự do trong sản xuất kinh doanh với nhiều thành phần kinh tế tham gia
là nguồn gốc của sự cạnh tranh. Cạnh tranh là quy luật trong nền kinh tế thị
trường, là môi trường để kinh tế thị trường phát triển, do đó nó tồn tại một
cách khách quan.
Mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh tế khi tham gia hoạt động sản
xuất kinh doanh là lợi nhuận. Cơ chế thị trường tạo điều kiện và môi trường
thuận lợi làm cho số lượng các chủ thể kinh tế tham gia kinh doanh ngày
càng phát triển. Theo đó, số lượng hàng hoá được sản xuất ra cũng ngày
càng tăng. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và việc ứng
dụng các thành tựu của nó vào sản xuất làm cho hàng hoá ngày càng phong
phú đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao. Lúc này, quyền lựa
chọn của người tiêu dùng là rất lớn. Chỉ những hàng hoá nào của doanh
nghiệp nào đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng mới mong được tiêu
thụ tốt và doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển được trên
thương trường. Do đó tất yếu dẫn đến là việc cạnh tranh giữa các chủ thể
kinh tế với nhau sẽ trở nên ngày càng gay gắt.
Cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường nhưng nó đồng thời là
mục tiêu của doanh nghiệp bởi vì xuất phát từ chính chức năng của cạnh
tranh là: làm giá cả trên thị trường giảm xuống; buộc các doanh nghiệp tối
ưu hoá đầu vào trong sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm và giảm giá thành, giữ chữ tín; Nếu không có cạnh tranh,
các doanh nghiệp sẽ không có động lực để ngày càng hoàn thiện mình, còn
người tiêu dùng sẽ không có được những sản phẩm - dịch vụ với chất lượng
tốt nhất, nền kinh tế lúc đó sẽ trì trệ và kém phát triển.
5
Tóm lại, sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là tất
yếu khách quan. Nó là cơ sở, là động lực để kinh tế thị trường phát triển.
2.2. Các dạng cạnh tranh trên thị trường.
a. Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường.
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua:
Là cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường.
Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, nhưng người
mua lại muốn mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được chấp nhận là
giá thống nhất giữa người mua và người bán sau quá trình mặc cả.
- Cạnh tranh giữa người mua với người mua:
Là cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Khi đó, do hàng hoá trên
thị trường khan hiếm, người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được
thứ mà họ cần. Do cung nhỏ hơn cầu nên người bán tiếp tục nâng giá, kết
quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua phải
mua hàng hoá với giá cao hơn giá trị của nó.
- Cạnh tranh giữa người bán với người bán:
Với các doanh nghiệp đây là cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất,
và có ý nghĩa sống còn. Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành được lợi
thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trước đối thủ. Kết quả để đánh giá
doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số
tiêu thụ, tăng thị phần. Cùng với nó là việc tăng lợi nhuận, mở rộng sản
xuất
b. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường.
- Cạnh tranh hoàn hảo:
Là cạnh tranh trên thị trường có nhiều người bán và nhiều người mua
độc lập với nhau, sản phẩm là đồng nhất. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn
hảo có thể bán tất cả sản phẩm của mình ở mức giá đang thịnh hành trên thị
6
trường. Nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bán
được vì người tiêu dùng sẽ mua của người khác. Theo nghĩa đó doanh
nghiệp cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, tức là không có
khả năng kiểm soát thị trường đối với sản phẩm mình bán. Sản lượng của
doanh nghiệp là nhỏ so với cung thị trường, vì thế doanh nghiệp không có
ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường. Trong cạnh
tranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá. Do vậy chính sách của
doanh nghiệp là giảm chi phí sản xuất và tăng cường dịch vụ sau bán hàng.
Các tin tức về thị trường, giá cả thì người mua và người bán đều nắm rõ,
điều kiện tham gia cũng như rút khỏi thị trường là dễ dàng.
- Thị trường cạnh tranh độc quyền:
Là cạnh tranh diễn ra trên thị trường mà ở đó chỉ có một số người
mua (độc quyền mua) hoặc một số người bán một số sản phẩm thuần nhất.
Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ hàng hoá bán ra trên thị trường. Nhà
độc quyền hoàn toàn có thể định đoạt giá cả và số lượng bán ra. Tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là độc quyền có sự tự do hoàn toàn về giá mà tuỳ
theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của Nhà nước mà
nhà độc quyền có thể định giá cao hay thấp để thu lợi nhuận tối đa.
Trong thị trường độc quyền, các nhà độc quyền thường sử dụng các
hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm để thu hút
thêm khách hàng. Trong thị trường độc quyền thì việc gia nhập thị trường
là rất khó khăn.
c. Xét theo phạm vi nền kinh tế.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hay tiêu thụ
một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các
doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở
rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường. Những doanh nghiệp
7
thua cuộc sẽ phải thu hẹp phạm vi hoạt động kinh doanh thậm chí bị phá
sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành:
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác
nhau nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn
đầu tư nếu bỏ ra đầu tư vào các ngành khác. Sự cạnh tranh giữa các ngành
này dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh từ ngành có tỷ suất lợi nhuận
thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
II. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong kinh tế thị trường cạnh tranh tồn tại là tất yếu . Khi một hàng
hoá được đem rao bán trên thị trường, nó sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh
của hàng hoá do các hãng khác sản xuất. Sự cạnh tranh diễn ra vô cùng
khắc nghiệt bởi vì nó quyết định tới khả năng tiêu thụ của sản phẩm. Lúc
này một hàng hoá có chất lượng tốt, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng sẽ được người tiêu dùng chấp nhận và ta có thể nói rằng
hàng hoá đó có khả năng cạnh tranh so với các sản phẩm khác. Tuy nhiên
trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của hàng
hoá.
Fatchams cho rằng: “ khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khả
năng được sản xuất với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên
thị trường“.
Ranall lại cho rằng: “ khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khả
năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất
định“.
Một quan niệm khác lại cho rằng: “ khả năng cạnh tranh của
hàng hoá là khả năng được sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường, đồng
thời duy trì được thu nhập thực tế của mình”.
8
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa: “ khả năng của các doanh
nghiệp, các ngành, quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Có thể thấy rằng các quan niệm trên xuất phát từ các góc độ khác
nhau nhưng đều nói về vấn đề chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận, do đó
ta cũng có thể hiểu khả năng cạnh tranh là năng lực nắm vững thị phần
nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.1.Các nhân tố bên ngoài.
a. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế bao bồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ
cấu chi tiêu của người tiêu dùng. Đó là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế, thu nhập bình quân của người dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suất
ngân hàng
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến sức mua và nhu cầu
của người tiêu dùng, mà nhu cầu của người tiêu dùng lại là yếu tố chi phối
việc doanh nghiệp sẽ sản xuất, kinh doanh hàng hoá gì ? dịch vụ gì? Vì vậy
mà các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng tác động đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Một quốc gia có nền kinh tế càng phát triển, thu
nhập bình quân đầu người càng cao thì khả năng chi tiêu và các đòi hỏi về
chất lượng hàng hoá dịch vụ của người tiêu dùng cũng càng cao. Khi đó
doanh nghiệp nào cung cấp được các hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao,
thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng sẽ có lợi thế cạnh tranh
lớn trên thị trường.
b. Môi trường chính trị.
9
Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật pháp và các chính sách
của Nhà nước. Nó phản ánh sự tác động can thiệp của các chủ thể quản lý
vĩ mô tới hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hệ thống luật pháp và các chính sách của Nhà nước có tác động lớn
tới hoạt động sản xuất kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là:
Các qui định về chất lượng sản phẩm, qui định về bảo vệ môi trường trong
sản xuất, qui định về thuế, qui định về giá, các chính sách bảo hộ. Các qui
định về cạnh tranh như: trong quảng cáo không được nói xấu sản phẩm hay
nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh, biển quảng cáo không được đè lên biển
hiệu của đối thủ ; Với những công ty 100% vốn nước ngoài như công ty
Electrolux Việt nam thì các luật pháp chính sách của Nhà nước Việt nam
như luật đầu tư nước ngoài, luật thuế xuất nhập khẩu, chính sách phát triển
các thành phần kinh tế có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
c. Các yếu tố thuộc môi trường văn hoá.
Đó là các yếu tố như tập quán, truyền thống, các chuẩn mực hành vi,
thói quen tiêu dùng của người dân Văn hoá là vấn đề khó nhận ra và hiểu
thấu đáo, mặc dù nó tồn tại khắp nơi và thường xuyên tới hoạt động kinh
doanh và cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với
những doanh nghiệp hoạt động ở thị trường nước ngoài. Văn hoá ảnh
hưởng tới sở thích, tới phong cách sống, tới quan niệm thẩm mỹ của người
tiêu dùng. Một sản phẩm có thể được tiêu thụ rất tốt tại thị trường này
nhưng khi bán ở thị trường khác thì có thể khả năng cạnh tranh lại rất kém
do nó không phù hợp với đặc tính văn hoá của thị trường đó. Có thể lấy ví
dụ: Một số hãng máy giặt của châu âu khi thâm nhập thị trường Nhật bản,
các sản phẩm của họ do độ ồn khi giặt hơi cao nên lượng tiêu thụ rất ít.
Nguyên nhân là do các ngôi nhà truyền thống của người Nhật sử dụng các
vách ngăn bằng giấy nên không chịu độ ồn, nhưng đặc điểm này lại không
10
được các nhà sản xuất châu âu chú ý. Ngay sau khi cải tiến làm giảm độ ồn
đi thì mức tiêu thụ các sản phẩm của họ tốt hơn trước rất nhiều.
d. Môi trường khoa học kỹ thuật.
Khoa học kỹ thuật phát triển tạo ra những công nghệ mới, những
nguyên vật liệu mới giúp cho các doanh nghiệp chế tạo được các sản phẩm
có tính năng, công dụng và chất lượng tốt hơn, đồng thời nó cũng có thể hạ
được chi phí để làm ra các sản phẩm. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt
hiện nay, doanh nghiệp nào biết chú trọng vào việc ứng dụng các thành tựu
của khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì khả
năng cạnh tranh của hàng hoá của nó so với các sản phẩm khác trên thị
trường sẽ được nâng cao lên rất nhiều.
2.2. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
a. Yếu tố con người.
Nhân lực là yếu tố rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp , có thể
chia nó thành các cấp: quản trị viên cấp cao, quản trị viên cấp trung gian và
đội ngũ công nhân. Các quản trị viên có ảnh hưởng lớn đến các quyết định
quản lý của doanh nghiệp. Nếu họ có trình độ quản ký cao, nhiều kinh
nghiệm kinh doanh trên thương trường, khả năng đánh giá và có mối quan
hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có khả năng cạnh tranh lớn. Đội
ngũ công nhân ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm,
kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tố này ảnh hưởng
tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành cũng như tạo thêm tính
mới lạ, độc đáo của sản phẩm.
b. Khả năng tổ chức quản lý.
11
Khả năng tổ chức được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy
quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và nề nếp hoạt động của
doanh nghiệp.
Nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn công việc trong doanh
nghiệp, nó ảnh hưởng tới phương thức thông qua quyết định của nhà quản
trị. Nề nếp đó có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực
hiện chiến lược hoặc có thể là ưu điểm thúc đẩy các hoạt động đó. Các
công ty có nề nếp mạnh, tích cực sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn so với
các công ty có nề nếp yếu kém và tiêu cực. Thực chất nề nếp của doanh
nghiệp là cơ chế tương tác với môi trường. Do vậy, doanh nghiệp cần phải
xây dựng được một nề nếp tốt, khuyến khích nhân viên tiếp thu được các
chuẩn mực đạo đức và thái độ tích cực. Nếu nề nếp tạo ra được tính linh
hoạt và khuyến khích sự tập trung chú ý đến các điều kiện bên ngoài thì nó
sẽ tăng khả năng của công ty thích nghi được với các biến đổi của môi
trường. Một trong bổn phận chính của các nhà quản trị là phải hình thành
được các giá trị phẩm chất của tổ chức bằng cách hướng sự lưu tâm chú ý
của nhân viên vào những điều quan trọng.
c. Nguồn lực về tài chính.
Khả năng tài chính khẳng định sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô nguồn tài chính
của doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm
như hệ số thu hồi vốn, khả năng thanh toán của nó. Nếu như một doanh
nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho doanh
nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ
và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng đầu tư hợp tác liên doanh liên
kết. Tình hình sử dụng vốn sẽ quyết định chi phí về vốn so với đối thủ cạnh
tranh.
12
d. Nguồn lực vật chất kỹ thuật.
Nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở:
- Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện đại của doanh nghiệp và khả năng có
được công nghệ tiên tiến.
- Quy mô và năng lực sản xuất: Nếu một doanh nghiệp có quy mô và
năng lực sản xuất lớn thì sẽ có lợi thế hơn nhiều các doanh nghiệp có quy
mô và năng lực sản xuất nhỏ. Vì quy mô và năng lực sản xuất lớn có thể
làm ra sản phẩm với khối lượng lớn, nhờ đó hạ được giá thành sản phẩm,
đông thời doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiếp xúc với khách hàng hơn,
nên dễ nắm bắt và thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
- Nguồn cung cấp vật tư, nguyên vật liệu: Nếu doanh nghiệp không có
nguồn cung cấp tin cậy đều đặn sẽ ảnh hưởng lớn đến việc duy trì sản xuất
liên tục của họ, mặt khác nó còn ảnh hưởng đến chi phí sản xuất ra sản
phẩm của doanh nghiệp.
3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1. Chỉ tiêu định lượng.
- Chỉ tiêu thị phần: ( T )
Doanh thu(lượng bán) của doanh nghiệp
T = ( %)
Tổng doanh thu(lượng bán) trên thị trường
Thị phần của hàng hoá của doanh nghiệp là phần trăm về số lượng
hoặc giá trị của hàng hoá của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượng
hoặc tổng giá trị của tất cả các hàng hoá cùng loại đã bán trên thị trường.
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình chiếm lĩnh và khả năng chi phối thị
trường của hàng hoá của doanh nghiệp. Tuy nhiên chỉ tiêu này khó xác
định vì khó biết chính xác được hết tình hình kinh doanh của tất cả các đối
thủ.
13
- Chỉ tiêu so thị phần với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất: ( T
ct
)
Doanh thu(lượng bán) của doanh nghiệp
T
ct
= ( % )
Doanh thu(lượng bán) của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Chỉ tiêu này cho thấy thực tế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường. Đây là chỉ tiêu đơn
giản, dễ tính hơn so với chỉ tiêu trên do các đối thủ cạnh tranh mạnh
thường có nhiều thông tin hơn.
Ngoài ra còn có thể đo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng
cách lấy thị phần năm nghiên cứu trừ đi thị phần của năm trước đó. Nếu kết
quả này dương tức là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đã tăng lên,
còn kết quả âm thì ngược lại.
3.2. Chỉ tiêu định tính.
Đó là uy tín của doanh nghiệp và sự đánh giá của khách hàng đối với
các nhãn hiệu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có uy tín cao thì các nhãn
hiệu sản phẩm của nó cũng được khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao và
do đó các sản phẩm của doanh nghiệp cũng có khả năng cạnh tranh cao trên
thị trường.
4. Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiều
sức ép từ các đối thủ cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển được trong điều
kiện như vậy, mỗi doanh nghiệp đều có những công cụ riêng của mình để
tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường. Các công
cụ thường được sử dụng là: giá cả, sản phẩm, các dịch vụ đi kèm, các hoạt
động xúc tiến
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét