Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng ngoại thương việt nam


các mối liên hệ đặc thù tức là những mối liên hệ tồn tại riêng biệt trong từng lĩnh vực
cụ thể, thậm chí trong mỗi sự vật hiện tợng. Điều này cũng nói lên tính thống nhất đa
dạng của các mối liên hệ của mọi sự vật hiện tợng. Điều đó cũng thể hiện tính đa dạng
trong tính thống nhất của toàn bộ thế giới.
Cũng vì vậy, trong nghiên cứu khoa học nói chung, các khoa học kinh tế nói riêng,
ngời ta không thể không vận dụng các nguyên tắc quy luật chung của phép biện chứng,
nhng đồng thời cũng không chỉ dừng lại ở các phơng pháp luận chung đó mà phải triển
khai phơng pháp luận chung trong những nghiên cứu cụ thể.
1.1.2. Tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ.
Phép biện chứng duy tâm cũng đề cập và xác nhận tính phổ biến của các mối liên hệ
các sự vật hiện tợng. Chẳng hạn Heghen cũng nói tới tính trung giới phổ biến của khái
niệm, rằng mọi khái niệm đều là trung giới cho nhau. Tuy nhiên, do đứng trên lập trờng
triếy học duy tâm khách quan, Heghen đã khảo cứu cơ sở của các mối liên hệ tồn tại của
tinh thần tuyệt đối ý niệm tuyệt đối. Trái lại, phép biện chứng duy vật khoa học của
C.Mác, Ph.Ănghen và V.I.Lênin, do đứng trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật khoa học
đã khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ; tức là tìm cơ sở vật chất của mọi mối
liên hệ của các sự vật hiện tợng. Theo quan điểm niệm này, cơ sở của mọi mối liên hệ
của giới tự nhiên, xã hội và tinh thần là vật chất là tính thống nhất vật chất. Các mối
liên hệ của đời sống tinh thần, của các khái niệm suy đến cùng chính là phản ánh các
mối liên hệ vật chất khách quan. Và phơng pháp luận quan trọng tất yếu đợc rút ra từ
quan niệm này trong nghiên cứu khoa học là phải đòi hỏi thái độ khách quan trong việc
phân tích và giải quyết các vấn.
Khái niệm về tính phổ biến của các mối liên hệ bao hàm quan niệm về tính cố hữu
của các mối liên hệ trong quá trình thống nhất vận động và phát triể.n không ngừng của
các sự vật hiện tợng. Nói cách khác, mọi sự vật hiện tợng đều có mối liên hệ. Xét trong
tính thống nhất của thế giới, trong quá trình vận động và phát triển không ngừng của mọi
sự vật hiện tợng thì không có giới hạn cuối cùng của các mối liên hệ. Quan niệm này tất
yếu đi tới quan niệm: sự vật hiện tợng không phải là đồng nhất, không phải là sự cô lập
tuyệt đối hay cố định ở những giới hạn tuyệt đối, mà trái lại chúng là một hệ thống mở,
luôn trong tơng quan tác động qua lại làm biến đổi lẫn nhau.
Tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ có vai trò trong việc xác lập cơ sở
lý luận của lý thuyết cấu trúc hệ thống. Lý thuyết cấu trúc hệ thống là một lý thuyết
khoa học hiện đại, đợc vận dụng phổ biến trong mọi nghiên cứu khoa học. Xét theo cơ
sở phơng pháp luận triết học của lý thuyết đó có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Theo lý thuyết này, không thể nói tới giới hạn cuối
cùng của mọi sự phân chia một đối tợng nghiên cứu. Những giới hạn đó chỉ mang tính t-
Trang 5

ơng đối trong những hình thức nghiên cứu nhất định. Nếu tuyệt đối hoá sự phân chia đó,
tất yếu mang lại những sai lầm về tính độc lập tơng đổi của các mối liên hệ.
1.2. Quan điểm toàn diện, quan điểm cơ bản trong
nhận thức khoa học
1.2.1.Quan điểm toàn diện quan điểm bổ sung cho quan
niệm về tính phổ biến của các mối liên hệ.
Trong thực tế khách quan, một đối tợng nghiên cứu xem xét trong tính chỉnh thể
thống nhất của mọi tồn tại, trong mọi sự vận động và phát triển không ngừng là tập hợp
vô vàn các nhân tố tác động. Cũng vì thế mỗi giả định trong nghiên cứu khoa học chân
lý tuyệt đối trong khoa học chính là tổng số các chân lý tơng đối trong quá trình phát
triển nhận thức, tiến dần tới sự phản ánh đầy đủ, toàn diện hơn về khách thể nghiên cứu.
Từ đó có thể thấy quan điểm toàn diện phải là quan điểm cơ bản trong nhận thức
khoa học. Nguyên tắc toàn diện trong nghiên cứu phải là nguyên tắc chủ đạo. Theo
nguyên tắc này, trong mọi nghiên cứu phải xem xét, phân tích các khách thể nghiên cứu
trên mọi mặt, mọi mối liên hệ có thể có và có thể đợc, tránh những phiến diện trong
phân tích một vấn đề cụ thể. Theo đó, sau những phân tích có giới hạn của những giả
định khoa học là những phân tích mở rộng nhằm đạt tới phản ánh đầy đủ hơn những biến
đổi trong tính chỉnh thể của một khách thể nghiên cứu.
Đơn cử một ví dụ trong kinh tế học hiện đại, áp dụng phơng pháp mô hình toán
ngời ta phân tích tìm ra điểm cân bằng của hai đờng cong cung cầu trong nền kinh tế
thị trờng. Trong những giới hạn nhất định, điểm cân bằng đó là có thể xác định. Trái lại,
nó lại thờng xuyên dịch chuyển dới sự tác động mở rộng của nhiều nhân tố khách quan
và chủ quan. Nh thế, những điểm cân bằng đã xác định hớng cho những tác nghiệp kinh
doanh.
1.2.2. Quan điểm toàn diện trong quản lý kinh tế.
Trong nền kinh tế không có một sự kiện nào tồn tại trong trạng thái cô lập tách
rời những sự kiện khác. Bất kỳ một sự kiện kinh tế nào cũng chỉ tồn tại với t cách là
trong mối liên hệ với những sự kiện kinh tế khác. Ví dụ: Giá cả thị trờng của mỗi loại
hàng hoá chỉ biểu hiện ra trong mối quan hệ với sự biến động cung cầu về loại hàng
hoá đó, trong mối quan hệ với giá cả các loại hàng hoá khác (tỷ giá với các loại hàng hoá
cạnh tranh cùng chủng loại, nhu cầu các loại hàng hoá bổ sung).
Các thị trờng hàng hoá dịch vụ cụ thể, thị trờng lao động không tồn tại trong trạng
thái cô lập tách biệt nhau mà trong sự liên hệ tác động qua lại chế ớc lẫn nhau. Mỗi sự
biến động về giá cả trên thị trờng vốn (lãi suất) kéo theo hàng loạt các sự biến động lan
truyền trên các thị trờng lao động, thị trờng hàng hoá. Khi lãi suất trên thị trờng vốn
giảm (giá của tiền) các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng đầu t phát triển sản xuất làm
Trang 6

cho giá cả sức lao động, tiền công, tiền lơng tăng lên do đó giá cả trên thị trờng hàng hoá
cũng tăng lên
Bản thân nền kinh tế cũng không tồn tại trong trạng thái cô lập mà trong mối
quan hệ quy định lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế chính trị ngoại giao; kinh tế,
chính trị, đạo đức pháp quyền; kinh tế chính trị khoa học- nghệ thuậtNền
kinh tế nớc ta khi chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý
của nhà nớc thì những sự thay đổi trong quan điểm kinh tế, cơ cấu kinh tế và cơ chế kinh
tế kéo theo sự thay đổi trong quan niệm về vai trò, vị trí, ngoại giao, đạo đức, pháp
quyền, khoa học và nghệ thuật
Vì mọi sự kiện kinh tế chỉ tồn tại, và chỉ biểu hiện với t cách là bản thân sự kiện
đó trong mối quan hệ với những sự kiện khác cho nên nguyên tắc toàn diện đòi hỏi:
- Khi nghiên cứu một sự kiện kinh tế nào đó, để có thể nhận thức đợc bản chất
của sự kiện cần phải xem xét trên tất cả các mặt, các mối liên hệ có thể có. Bản chất của
sự kiện sẽ là cái chung, đợc chứa đựng trong tất cả các mối quan hệ đó. Tính chân lý và
xác thực của tri thức khoa học đợc rút ra phụ thuộc vào độ lớn của tổng thể các mối quan
hệ có thể thu thập đợc. Tuy nhiên, vì số lợng các mối liên hệ có thể có là vô cùng, ngời
nghiên cứu không thể nào bao quát hết, cho nên sai lầm vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy
chân lý sai lầm là hai mặt cùng tồn tại trong một tri thức.
- Và để khắc phục tình trạng bỏ sót trên cơ sở ứng dụng quan điểm toàn diện
cần phải phân loại các mối liên hệ thành từng nhóm. Mỗi chuyên ngành khác nhau có
cách phân nhóm các mối liên hệ theo phơng pháp khác nhau. Trên bình diện triết học th-
ờng quan tâm đến các nhóm chủ yếu sau:
- Mối liên hệ bên trong bên ngoài.
- Mối liên hệ nhân quả.
- Mối liên hệ trực tiếp gián tiếp.
1.3. Nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng thơng mại.
Sự ra đời của nghiệp vụ bảo lãnh không đồng thời với sự ra đời của ngân hàng.
Nhng quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng cùng với sự phát triển của thơng mại
quốc tế và nhu cầu về một đối tác đáng tin cậy bảo đảm cho các thơng vụ mới làm nảy
sinh nghiệp vụ bảo lãnh nh một loại hình nghiệp vụ mới của ngân hàng hiện đại.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, các hoạt động thơng mại trong nớc cũng nh
quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Một giao dịch thơng mại có thể giải thích
đơn thuần: ngời bán sẽ cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho ngời mua và ngời mua trả tiền
cho khối lợng hàng hoá, dịch vụ nhận đợc, nhng những phát sinh từ đó lại vô cùng phức
tạp, đặc biệt trong thơng mại quốc tế. Hoạt động thơng mại quốc tế với sự vô giới hạn về
không gian và thời gian đã kéo theo cả những vấn đề từ sự khác biệt về thể chế chính trị,
Trang 7

hệ thống pháp lý, quy chế mậu dịch, điều kiện thanh toán, điều kiện thị trờng, tình hình
tài chính. Chính những sự khác biệt này kéo theo những rủi ro không lờng trớc đợc đã là
tiền đề ban đầu đòi hỏi sự xuất hiện nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng.
1.3.1.Khái niệm và phân loại nghiệp vụ bảo lãnh (Bank
Guarantee)
* Khái niệm nghiệp vụ bảo lãnh (Bank Guarantee)
Theo khoản 12, Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng,
Theo Điều 1 trong Quyết định số 196 ra ngày 16/9/1994 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nớc về quy chế nghiệp vụ bảo lãnh của các Ngân hàng.
Theo Quyết định số 263/QĐ- NHNN ngày 19/9/1995.
Và gần đây nhất theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 khái niệm
nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng nh sau:
Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với
bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng (bên đợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả các tổ
chức tín dụng số tiền đã đợc trả thay .
Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng quy định tại Điều 3 của Quy chế bảo lãnh ngân
hàng theo Quyết định 283/2000 của NHNN bao gồm:
+ Ngân hàng thơng mại Nhà nớc, ngân hàng thơng mại cổ phần, ngân hàng đầu t,
ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nớc ngoài tại Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng
(gọi chung là tổ chức tín dụng) đợc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng theo các
quy định của pháp luật có liên quan và quy định tại Quy chế này.
+ Các ngân hàng đợc Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc cho phép thực hiện thanh toán
quốc tế đợc thực hiện bảo lãnh vay, bảolãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh
khác mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân nớc ngoài.
+ Tổ chức, tín dụng thực hiện bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu theo quy định của pháp
luật về thơng phiếu.
Bên đợc bảo lãnh là các khách hàng đợc quy định tại điều 4 quy chế bao gồm:
+ Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam: doanh
nghiệp nhà nớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,
doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp t nhân,
hộ kinh doanh cá thể.
Trang 8

+ Các tổ chức tín dụng đợc thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng
+ Hợp tác xã
+ Các tổ chức kinh tế nớc ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham
gia đấu thầu các dự án tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu t tại
Việt Nam.
Bên nhận bảo lãnh là các cá nhân tổ chức trong và ngoài nớc có quyền thụ hởng các
cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
Nghiệp vụ bảo lãnh đòi hỏi phải luôn xuất hiện ba yếu tố:
- Phải có một nghĩa vụ cụ thể
- Nghĩa vụ đó phải là nghĩa vụ tài chính
- Các thành viên tham gia phải có ba bên: ngời yêu cầu bảo lãnh(ngời đợc bảo
lãnh), ngời nhận bảo lãnh (ngời thụ hởng), ngời bảo lãnh
Đồng thời trong nghiệp vụ bảo lãnh luôn phải xem xét tổng hợp ba hợp đồng cơ bản:
+ Hợp đồng giữa ngời yêu cầu bảo lãnh (ngời đợc bảo lãnh) và Ngân hàng
phát hành.
+ Hợp đồng giữa ngời đợc bảo lãnh và ngời nhận bảo lãnh (Hợp đồng mua
- bán cơ sở).
+ Hợp đồng giữa Ngân hàng phát hành và ngời nhận bảo lãnh (Th bảo
lãnh).
Các hợp đồng này ràng buộc trách nhiệm giữa các bên và để tiến hành nghiệp vụ bảo
lãnh không thể thiếu bất cứ hợp đồng nào. Ngân hàng sẽ tiếp nhận đơn xin phát hành bảo
lãnh từ phía ngời mua, xem xét các yếu tố bảo đảm thanh toán, khả năng tài chính cũng
nh khả năng thực hiện hợp đồng của khách hàngKhi các điều kiện thoả mãn, ngân
hàng sẽ ký hợp đồng bảo lãnh với ngời đợc bảo lãnh và phát hành bảo lãnh cho ngời thụ
hởng dới hình thức th bảo lãnh. Ngời thụ hởng có thể yêu cầu sửa đổi bảo lãnh trên cơ sở
thoả thuận của hợp đồng cơ sở. Khi đó ngân hàng phát hành sẽ xem xét lại để chấp nhận
sửa đổi. Nếu các giao dịch diễn biến thuận lợi, bảo lãnh sẽ đợc điều chỉnh để đảm bảo
quyền lợi và nghĩa vụ cho cả ba bên.
Đối với bên đợc bảo lãnh: đợc tạm thời sử dụng một phần vốn của bên nhận bảo
lãnh, mà chỉ phải trả một khoản phí cho ngời bảo lãnh. Và khoản phí đó chính là chi phí
cho việc ngời đợc bảo lãnh sẽ đợc đảm bảo quyền lợi cũng nh nghĩa vụ theo hợp đồng cơ
sở.
Đối với bên nhận bảo lãnh :hoàn toàn yên tâm về việc thực hiện hợp đồng của bên
đợc bảo lãnh và tin tởng những rủi ro phát sinh trong hợp đồng của họ sẽ đợc bù đắp.
Đối với ngân hàng bảo lãnh: ngân hàng thu đợc phí bảo lãnh mà vẫn đảm bảo đợc
lợi ích của ngân hàng thông qua biện pháp an toàn phù hợp. Mặt khác khi tiến hàng bảo
lãnh, ngân hàng đã nhận đợc sự tín nhiệm, đợc sự tin tởng của cả hai bên. Trong khi thực
Trang 9

chất, ngân hàng chỉ cho vay trừu tợng, nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn
nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay.
Có quan niệm cho rằng trong nền kinh tế phát sinh những quan hệ hợp đồng nào thì
có thể phát sinh tơng ứng những nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng. Quan niệm trên tuy
không hoàn toàn đúng nhng đã phản ánh đợc sự phong phú của các loại nghiệp vụ bảo
lãnh với rất nhiều những phơng pháp phân loại khác nhau.
* Phân loại nghiệp vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng rất đa dạng, tuỳ theo cách thức phát hành, theo phạm vi, theo
mục đích và nội dung của bảo lãnh mà có những loại hình khác nhau. Ta có thể xem xét
những phơng pháp phân loại cơ bản sau:
+ Theo phơng thức phát hành bảo lãnh
-Bảo lãnh trực tiếp ( Direct Guarantee)
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu
trách nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên đợc bảo lãnh, ngời đợc bảo lãnh chịu trách nhiệm
bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh. Loại bảo lãnh này chịu sự chi phối
của luật trong nớc và khi hết hạn có thể trực tiếp tất toán với ngời bảo lãnh mà không cần
có sự hoàn trả th bảo lãnh. Ưu điểm của loại bảo lãnh này là ngời đợc bảo lãnh không
phải mất thêm phí cho ngân hàng đại lý nớc ngoài (ngân hàng trung gian).
Ngân hàng phục vụ ngời đợc bảo lãnh và trực tiếp phát hành bảo lãnh gọi là ngân
hàng phát hành bảo lãnh và ngân hàng có trụ sở tại nớc ngời thụ hởng gọi là ngân hàng
thông báo. Ngân hàng thông báo có vai trò là kiểm tra tính chính xác, tính chân thực của
bảo lãnh nh: chữ ký, test key, khi nhận đợc th bảo lãnh từ ngân hàng phát hành, sau đó
thông báo và chuyển nội dung th bảo lãnh cho ngời thụ hởng.
Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp:
(1): Ngời đợc bảo lãnh và ngời nhận bảo lãnh (ngời thụ hởng) ký kết hợp đồng cơ sở
trong đó quy định các điều khoản bảo lãnh.
(2): Ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành th bảo lãnh.
(3): Ngân hàng phục vụ ngời đợc bảo lãnh phát hành th bảo lãnh và đề nghị ngân hàng
có trụ sở tại nớc ngời thụ hởng thông báo và chuyển nội dung th bảo lãnh tới ngời
thụ hởng.
Trang 10
(1)
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo
Người được
bảo lãnh
Người nhận
bảo lãnh
(2)
(3)
(4)

(4): Ngân hàng thông báo thực hiện việc thông báo và chuyển nội dung th bảo lãnh cho
ngời thụ hởng. Ngân hàng thông báo không đợc chỉ định là ngân hàng thanh toán, không
chịu trách nhiệm về nội dung th bảo lãnh và các tranh chấp (nếu có) phát sinh trong quá
trình bảo lãnh sau này.
Ngoài ra, ngân hàng phát hành bảo lãnh có thể phát hành bảo lãnh trực tiếp cho
ngời nhận bảo lãnh mà không cần thông qua ngân hàng thông báo bằng cách trực tiếp
thông báo và chuyển nội dung th bảo lãnh cho ngời nhận bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee)
Bảo lãnh gián tiếp hay còn gọi là bảo lãnh đối ứng (Counter Guarantee) là loại
bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân
hàng trung gian phục vụ cho ngời đợc bảo lãnh. Bảo lãnh gián tiếp đợc thực hiện thờng
do ngời thụ hởng mong muốn th bảo lãnh đợc một ngân hàng có trụ sở tại nớc mình phát
hành (Local Bank) để thuận lợi trong giao dịch hoặc đòi tiền sau này. Vì vậy, ngời đợc
bảo lãnh phải yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ định một ngân hàng đóng trụ sở tại
nớc ngời thụ hởng phát hành bảo lãnh. Ngân hàng thứ nhất trong quan hệ trên gọi là
Ngân hàng chỉ dẫn (Instructing Bank), ngân hàng thứ hai gọi là Ngân hàng phát hành
(Issuing Bank). Mối quan hệ giữa hai ngân hàng này đợc thể hiện bằng văn bản của
Ngân hàng chỉ dẫn đề nghị Ngân hàng phát hành thực hiện việc phát hành bảo lãnh và
văn bản của Ngân hàng chỉ dẫn cam kết bồi hoàn cho Ngân hàng phát hành nếu Ngân
hàng phát hành thanh toán bảo lãnh - việc này đợc thể hiện bằng một văn bản đối ứng.
Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp:
(1): Ngời đợc bảo lãnh và ngời thụ hởng ký kết hợp đồng cơ sở trong đó có quy định các
điều khoản, điều kiện về bảo lãnh.
(2): Ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ định một ngân hàng đóng
trụ sở tại nớc ngời thụ hởng phát hành bảo lãnh.
(3): Ngân hàng phục vụ ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng đóng trụ sở tại nớc ngời
thụ hởng phát hành th bảo lãnh kèm theo th bảo lãnh đối ứng hoặc th tín dụng dự
phòng.
Trang 11
(2) (4)
(3)
(1)
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
Chỉ dẫn
Người được
Bảo lãnh
Người nhận
Bảo lãnh

(4): Ngân hàng đóng trụ sở tại nớc ngời thụ hởng phát hành th bảo lãnh, thông báo và
chuyển nội dung th bảo lãnh cho ngời thụ hởng.
- Đồng bảo lãnh (Syndicate Guarantee, Co-Guarantee)
Trong trờng hợp những thơng vụ lớn, khả năng rủi ro cao, một ngân hàng riêng lẻ
không thể thực hiện bảo lãnh hoặc vì những quy định hạn chế và mục tiêu phân tán rủi ro
của Chính phủ nớc đó. Do vậy, các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh cho một
khoản bảo lãnh. Các ngân hàng thành viên tham gia đồng bảo lãnh sẽ chọn một ngân
hàng đứng ra là ngân hàng bảo lãnh chính. Ngân hàng này sẽ phát hành th bảo lãnh cho
toàn bộ số tiền bảo lãnh, giữ các chứng từ có liên quan, thu phí bảo lãnh từ ngời đợc bảo
lãnh và chia lại cho các ngân hàng thành viên theo tỷ lệ. Các ngân hàng còn lại cam kết
chịu trách nhiệm theo từng phần đóng góp của mình bằng những bảo lãnh đối ứng. Khi
ngân hàng bảo lãnh chính thanh toán cho ngời thụ hởng thì họ có quyền truy đòi các
ngân hàng thành viên số tiền mà họ đã cam kết bằng bảo lãnh đối ứng.
Sơ đồ đồng bảo lãnh:
(1): Hai bên ký kết hợp đồng cơ sở.
(2): Bên đợc bảo lãnh nộp đơn xin các ngân hàng bảo lãnh cho mình.
(3): Quan hệ thanh toán giữa các ngân hàng tham gia đồng bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh.
+ Theo mục đích bảo lãnh
- Bảo lãnh dự thầu(Tender Guarantee)
Bảo lãnh dự thầu là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh cam kết với chủ thầu
về việc tham gia đấu thầu của nhà thầu. Trong trờng hợp khách hàng bị phạt do vi phạm
quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ
chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Mục đích: Đảm bảo cho ngời dự thầu không phải rút lui, không ký kết hợp đồng hay
thay đổi ý định khi đã đợc trúng thầu. Nếu ngời dự thầu đã trúng thầu nhng không ký
hợp đồng thì chủ thầu (Ngời thụ hởng) sẽ rút tiền thanh toán từ bảo lãnh để trang trải cho
Trang 12
(1)
(2)
(3)
NH a
NH B
NH C
Ngân
Hàng
phát
hành
bảo
lãnh
Người được
Bảo lãnh
Người nhận
Bảo lãnh

chi phí đấu thầu, thiệt hại do chậm trễ tiến độ thi công hay chi phí để tổ chức laị một
cuộc đấu thầu khác. Trị giá của bảo lãnh thông thờng từ 1- 5% giá trị hợp đồng đấu thầu.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh sẽ chấm dứt khi bên đợc bảo lãnh (Ngời tham gia dự thầu
) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết hợp đồng hoặc chấp nhận ký kết hợp đồng nếu
bên bảo lãnh trúng thầu.
- Bảo lãnh vay vốn (Credit Guarantee, Loan Guarantee), hay có thể gọi là bảo
lãnh tín dụng là cam kết của ngân hàng bảo lãnh với bên cho vay về việc sẽ chịu trách
nhiệm trả thay cho bên vay trong trờng hợp bên vay không thanh toán đầy đủ, đúng hạn
nợ gốc và lãi nh đã ký kết ngay khi bên thụ hởng bảo lãnh có yêu cầu mà không cần có
sự kiểm tra nào.
Việc thực hiện bảo lãnh tín dụng rất phức tạp và đòi hỏi phía ngân hàng phải có
sự xem xét kỹ lỡng về tính khả thi của dự án vay vốn, các điều kiện về tài sản cầm cố -
thế chấp, vì khối lợng tiền bảo lãnh lớn sẽ dẫn đến rủi ro cao trong trờng hợp ngời đi
vay không trả đợc nợ. Số tiền và thời hạn bảo lãnh đợc xác định theo thoả thuận giữa các
bên.
- Bảo lãnh thanh toán (Payment Guarantee)
Bảo lãnh thanh toán là loại hình bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với nhà
thầu về việc thanh toán tiền đúng hợp đồng của chủ thầu. Trong trờng hợp chủ thầu
không thanh toán đủ số tiền theo hợp đồng thì ngân hàng bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm
thay cho chủ thầu. Mục đích: Cung cấp sự bảo đảm cho nhà thầu (Ngời thụ hởng) có thể
nhận đợc khoản thanh toán một cách thuận lợi đầy đủ, đúng hạn về sản phẩm, hàng hoá
hay dịch vụ đã cung cấp cho chủ thầu (ngời đợc bảo lãnh ). Loại bảo lãnh này có hình
thức gần giống với bảo lãnh tín dụng thơng mại, nhng khác nhau về bản chất và cách
truy đòi tiền thanh toán. Đối với hình thức này, tiến độ thanh toán (nếu có) sẽ tơng ứng
với tiến độ thực hiện hợp đồng và trị giá của mỗi bảo lãnh thanh toán (nếu có) thì tơng
ứng với giá trị thanh toán của từng khâu trong tiến độ thanh toán. Thời gian hiệu lực của
bảo lãnh do các bên thoả thuận.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng(Performance Guarantee)
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là loại hình bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam
kết về việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu. Trong trờng hợp nhà thầu không thực hiện
hợp đồng, hoặc không nộp đủ tiền phạt cho chủ thầu thì ngân hàng bảo lãnh sẽ chịu
trách nhiệm trả tiền thay trả thay cho nhà thầu. Mục đích của loại hình bảo lãnh này
chính là đảm bảo quyền lợi cho chủ thầu hay ngời thụ hởng tránh đợc rủi ro. Trị giá của
bảo lãnh thì tuỳ theo loại hình và qui mô hợp đồng, sẽ từ 10 - 15% tổng giá trị hợp đồng.
Trờng hợp đặc biệt, mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể yêu cầu trên 15% nhng phải
đợc ngời có thẩm quyền quyết định đầu t chấp nhận. Tuy nhiên, số tiền bảo lãnh có thể
Trang 13

giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng. Về thời hạn hiệu lực: Th bảo lãnh có giá trị
đến ngày hoàn thành hợp đồng. Thời hạn hiệu lực đợc xác định cụ thể theo thoả thuận
giữa hai bên. Thời hạn bắt đầu từ ngày kết thúc đấu thầu, kéo dài đến khi hoàn thành hợp
đồng nh: hàng hoá đã giao xong, máy móc thiết bị đã đợc vận hành, công trình đã đa vào
sử dụng
- Bảo lãnh đảm bảo chất l ợng sản phẩm (Guarantee of Quality): là loại hình bảo
lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách
hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lợng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết
với bên nhận bảo lãnh. Trong trờng hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện
đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lợng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà
không nộp hoặc không nộp đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng
thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. - Bảo lãnh hoàn thanh toán
(Repayment Guarantee) : là loại hình bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành
cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trớc của khách hàng
theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trờng hợp khách hàng vi phạm các cam
kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả tiền ứng trớc những không hoàn trả hoặc hoàn
trả không đủ số tiền ứng trớc cho bên nhận bảo lãnh thì tổ chức tín dụng sẽ hoàn trả số
tiền ứng trớc cho bên nhận bảo lãnh.
- Bảo lãnh bảo hành(Guarantee for Warranty Obligation): là bảo lãnh ngân hàng
do tổ chức tín dụng phát hành về việc cam kết sẽ bồi thờng giá trị bảo lãnh khi bên có
trách nhiệm bảo hành (ngời đợc bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ bảo hành nh quy định.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hởng tới nghiệp vụ bảo lãnh.

Những nhân tố chủ quan
Các nhân tổ chủ quan ảnh hởng tới hoạt động bảo lãnh là các nhân tố ảnh hởng trực
tiếp tới tất cả các khía cạnh khác nhau của chất lợng bảo lãnh. Chất lợng bảo lãnh của
ngân hàng thơng mại bị ảnh hởng bởi một số nhân tố chủ quan sau:
* Chiến lợc kinh doanh của ngân hàng
Chiến lợc kinh doanh là nhân tổ ảnh hởng đầu tiên đến chất lợng bảo lãnh, nếu
không có chiến lợc kinh doanh các ngân hàng sẽ luôn bị động. Một chiến lợc kinh doanh
hiệu quả sẽ giúp ngân hàng có một phơng hớng phát triển nhất quán, giúp cho ngân hàng
khai thác tốt nhất năng lực hiện có của ngân hàng và đồng thời nó cũng giúp cho ngân
hàng có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những biến đổi của môi trờng kinh
doanh. Trên cơ sở có chiến lợc kinh doanh đúng đắn, ngân hàng thơng mại mới có thể có
những kế hoạch bộ phận đúng đắn cho từng thời kỳ để đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét