Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường cao đẳng du lịch hà nội



Kiểm tra - đánh giá là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất trong hệ thống
quy trình đào tạo, Bởi lẽ nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt được mục tiêu hay
không mà còn cung cấp các thông tin phản hồi hữu ích: kết quả học tập, sự tiến bộ của học sinh,
sự thành công của phương pháp… Từ đó điều chỉnh toàn bộ các hoạt động của thày và hoạt
động của trò sao cho có hiệu quả nhất, đồng thời giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần
thiết trong việc tổ chức quá trình đào tạo.
1.3.2.2. Chức năng của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
Chức năng của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học bao gồm:
- Chức năng định hướng.
- Chức năng đốc thúc, kích thích tạo động lực.
- Chức năng sàng lọc, lựa chọn.
1.3.2.3. Vai trò của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
- Giúp người thầy biết được mức độ người học nắm bắt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,
những phần kiến thức còn thiếu hụt, cần bổ xung và biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy.
- Giúp người học xác định được kết quả học tập của mình so với chuẩn đề ra để có định
hướng, động lực thúc đẩy quá trình học tập.
- Đối với nhà quản lý, dựa trên kết quả kiểm tra - đánh giá để có thể ra những quyết định
phù hợp trong việc điều chỉnh, cải tiến chương trình, mục tiêu, nội dung đào tạo và hình thức
thức tổ chức dạy – học.
1.3.3. Nguyên tắc của kiểm tra - đánh giá
Để đảm bảo chất lượng của kiểm tra - đánh giá nói chung và kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập nói riêng, quy trình kiểm tra - đánh giá phải đáp ứng được các nguyên tắc sau: Tính quy
chuẩn, tính khách quan, tính toàn diện, tính hệ thống và tính xác nhận và phát triển.
1.3.4. Các yêu cầu của kiểm tra đánh giá
Công tác quản lý kiểm tra - đánh giá hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Có mục tiêu, kế hoạch kiểm tra - đánh giá cụ thể.
- Có quy trình kiểm tra - đánh giá phù hợp.
- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kiểm tra - đánh giá theo đúng quy trình.
- Kiểm tra sát sao hoạt động kiêm tra - đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời nhằm
nâng cao chất lượng kiểm tra - đánh giá.
1.3.5. Các hình thức kiểm tra - đánh giá và phương thức kết hợp các hình thức này trong các
kỳ kiểm tra - đánh giá khác nhau
Có nhiều hình thức kiểm tra - đánh giá khác nhau trong đó hình thức phổ biến nhất hiện
nay là: Vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm khách quan và kiểm tra hỗn hợp.
Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận là hai phương tiện dùng để khảo sát
thành quả học tập hữu hiệu và đều cần thiết. Chúng ta không thể loại trừ hay quá thiên vào một


trong hai phương pháp trên mà nên kết hợp chúng trong từng trường hợp cụ thể để nhằm đạt đến
các mục tiêu giảng dạy.
1.3.6. Đánh giá thực kết quả học tập của người học
Đánh giá thực là một hình thức đánh giá trong đó người học được yêu cầu thực hiện
những nhiệm vụ thực sự diễn ra trong cuộc sống, đòi hỏi phải vận dụng một cách có ý nghĩa
những kiến thức, kỹ năng thiết yếu. [J.Mueler]
1.3.7. Quy trình tổ chức một kỳ kiểm tra, thi
Muốn có một kỳ kiểm tra, thi thành công chúng ta cần tổ chức theo các bước sau:
- Xác định mục đích kiểm tra, thi
- Chọn các hình thức kiểm tra, thi
- Phân tích nội dung, xác định tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra, thi.
- Thiết lập dàn bài kiểm tra, thi
- Lựa chọn, viết câu hỏi kiểm tra, thi
- Phân tích câu hỏi
- Tổ chức thi, chấm điểm
- Ghi chép, phân tích, lưu trữ kết quả thi trước khi công bố kết quả
1.3.7.1. Xác định mục đích kiểm tra, thi
Xác định mục đích là khâu đầu tiên trong bất kỳ một hình thức kiểm tra - đánh giá nào.
Đánh giá được tiến hành ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình dạy học. Ở mỗi thời điểm
đều có hình thức đánh giá riêng: đánh giá khởi sự, đánh giá theo tiến trình, đánh giá tổng kết.
1.3.7.2. Chọn các hình thức kiểm tra, thi
Khi đã xác định được mục đích kiểm tra, việc lựa chọn các hình thức kiểm tra, thi cho
phù hợp là bước rất quan trọng. Mỗi hình thức kiểm tra đều có mặt mạnh, mặt yếu, mặt nhược
điểm của nó, nên giáo viên phải biết lựa chọn và kết hợp nhiều hình thức kiểm tra trong quá trình
đào tạo như vấn đáp hay thi viết, trong thi viết có thể dùng loại trắc nghiệm tự luận hay trắc
nghiệm khách quan hoặc kết hợp cả hai.
1.3.7.3. Phân tích nội dung, xác định tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra, thi
Khi đã xác định được mục đích kiểm tra và hình thức đánh giá thì quá trình phân tích
toàn bộ nội dung chương trình cần đánh giá giúp nhà quản lý bao quát toàn bộ nội dung, phân
định mức độ hoàn thiện các nội dung đó (mục tiêu ở các bậc) của người học. Đây là cơ sở quan
trọng để thiết lập dàn bài thi.
1.3.7.4. Thiết lập dàn bài thi
Phương pháp thường dùng để thiết lập dàn bài thi là lập bản quy định hai chiều với một
chiều hàng dọc biểu thị toàn bộ nội dung, còn một chiều kia biểu thị cho các bậc mục tiêu (quá
trình tư duy) mà bài thi muốn khảo sát.
1.3.7.5. Lựa chọn hoặc viết các câu hỏi


Dàn bài thi cho ta biết số lượng và bậc mục tiêu tương ứng với từng nội dung cần kiểm
tra. Bước tiếp theo là lựa chọn (nếu đã có ngân hàng câu hỏi) hoặc viết các câu hỏi.
1.3.7.6. Phân tích câu hỏi
Việc phân tích các câu hỏi đã lựa chọn hoặc tự viết nhằm xác định xem các câu hỏi có thể
dùng làm công cụ để kiểm tra việc đạt các mục tiêu trong các nội dung cần kiểm tra hay không.
Việc phân tích các câu hỏi cũng nhằm đánh giá độ khó, độ phân biệt của các câu hỏi đó để thay
đổi hoặc điều chỉnh nếu cần.
1.3.7.7. Tổ chức thi, chấm điểm
Sau khi đã phân tích từng câu hỏi và toàn bộ bài thi, công việc tiếp theo là tổ chức một
đợt thi. Việc xây dựng phương thức chấm điểm, các tiêu chuẩn, tiêu chí cho điểm chính xác, nhất
là đối với các câu TNTL là rất cần thiết. Nên sử dụng các TNTL có cấu trúc để khắc phục khó khăn
thường gặp trong khâu chấm bài.
1.3.7.8. Ghi chép, phân tích, lưu trữ kết quả kiểm tra, thi
Việc ghi chép kết quả một cách tỉ mỉ sẽ giúp cho giáo viên có thể nắm được những khó
khăn, nhược điểm của sinh viên mình cũng như theo dõi được sự tiến bộ của học trò. Trên cơ sở
đó giáo viên sẽ xem xét mức độ đạt được của các mục tiêu dạy – học từ đó lên phương án cải
tiến phương pháp dạy – học nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học.
1.3.8. Các biện pháp quản lý công tác kiểm tra - đánh giá
Để thực hiện đúng mục tiêu đào tạo, các biện pháp quản lý công tác kiểm tra - đánh giá
kết quả học tập của sinh viên bao gồm:
- Tổ chức để các bộ môn lập kế hoạch và quy trình thi, kiểm tra cho các bộ môn.
- Quản lý việc thực hiện kế hoạch và quy trình thi, kiểm tra.
- Kiểm tra hồ sơ thi, kiểm tra của các bộ môn.
- Tổng kết và rút kinh nghiệm.
1.3.8.1. Tổ chức để các bộ môn lập kế hoạch và quy trình thi, kiểm tra cho các bộ môn.
- Phòng Đào tạo phối hợp với lãnh đạo khoa, bộ môn thông báo tới toàn thể giảng viên và
sinh viên về mục tiêu, nội dung, tiêu chí và hình thức và thời gian kiểm tra - đánh giá.
- Khoa chủ quản giao cho từng bộ môn thuộc khoa xây dựng mục tiêu môn học, ngân
hàng câu hỏi theo mục tiêu và tiêu chí kiểm tra - đánh giá.
- Trước buổi thi phòng đào tạo phối hợp với các trưởng khoa, bộ môn, lựa chọn và nhân
đề thi theo đúng quy định.
1.3.8.2. Quản lý việc thực hiện kế hoạch và quy trình
Khi các Khoa, bộ môn đã có kế hoạch thi, kiểm tra cụ thể, khoa chủ quản sẽ phân công
cán bộ, giáo viên thuộc khoa tham gia coi, chấm thi theo đúng quy trình. Việc tiến hành coi thi
và chấm thi được kiểm tra, thanh tra thường xuyên. Sau mỗi buổi thi (nếu là thi vấn đáp hoặc thi
thực hành) khoa sẽ tập hợp ngay điểm thi, kiểm tra nộp về phòng đào tạo. Các môn thi lý thuyết
sẽ được đánh phách, giao bài chấm và chấm thi theo đúng quy định.


1.3.8.3. Quản lý việc thực hiện kế hoạch và quy trình
- Trước khi tiến hành tổ chức thi, kiểm tra, khoa, bộ môn phải cung cấp đầy đủ thông tin
về thí sinh để lên danh sách thi chính xác. Đồng thời phải có đáp án, biểu điểm và phiếu chấm
đầy đủ.
- Nội dung thi, kiểm tra phải đảm bảo bám sát mục tiêu đào tạo.
Tất cả các hồ sơ thi, kiểm tra của khoa, bộ môn đều thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ
của Ban giám hiệu, phòng đào tạo và ban thanh tra nhà trường.
1.3.8.4. Tổng kết, rút kinh nghiệm
Tất cả những khúc mắc đều được đưa ra rút kinh nghiệm cho công tác tổ chức thi, kiểm
tra lần kế tiếp được hoàn thiện hơn. Nhờ đó, phòng đào tạo sẽ có những kết luận và điều chỉnh
kịp thời phù hợp với quá trình dạy – học.
Tiểu kết chƣơng 1
Chương 1 là tổng kết một số cơ sở lý luận về vấn đề kiểm tra- đánh giá kết quả học tập
nói chung và ở bậc ĐH – CĐ nói riêng. Nội dung của chương đã đề cập đến các khái niệm cơ
bản liên quan đến quản lý, biện pháp quản lý, KT - ĐG và quản lý công tác KT - ĐG kết quả học
tập. Bên cạnh đó, chương 1 đã xác định rõ vị trí, chức năng, vai trò, nguyên tắc, yêu cầu của KT
- ĐG trong quá trình dạy học và việc kết hợp các hình thức KT - ĐG nhằm nâng cao chất lượng
KT - ĐG. Thông qua đó giúp chúng tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lý công tác KT - ĐG
ở trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội để đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo của nhà trường.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ CÔNG
TÁC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở TRƢỜNG
CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
2.1. Khái quát về Trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trường CĐDL Hà Nội, tiền thân là Trường Công nhân khách sạn du lịch - Trường quốc
gia đầu tiên đào tạo nhân lực ngành Du lịch- được thành lập ngày 24/07/1972 theo Quyết định số
1151/CA/QĐ của Bộ công an. Tính đến nay trải qua hơn 35 năm xây dựng và phát triển với các
giai đoạn: (1) Giai đoạn 1972 – 1997; (2) Giai đoạn 1997 – 2003; (3) Giai đoạn 2003 đến nay.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của nhà trường
Trường CĐDL Hà Nội có chức năng, nhiệm vụ được ban hành theo Quyết định số 2846/QĐ-
BVHTTDL ngày 26 tháng 06 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng, cao đẳng nghề và
trình độ thấp hơn trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực liên quan đến du lịch; tổ chức nghiên cứu
khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực hoạt động của Trường nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo.


2.1.3. Quy mô và các ngành nghề đào tạo của Trường
Hiện Trường đang mở các hệ đào tạo với các chuyên ngành sau:
 Hệ Cao đẳng chính quy (thời gian đào tạo 36 tháng).
 Hệ trung cấp chuyên nghiệp (thời gian đào tạo 24 tháng)
 Hệ Trung cấp nghề (thời gian đào tạo 24 tháng)
 Hệ đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn (thời gian từ 01 tuần đến 03 tháng).
Bên cạnh những hệ đào tạo chính quy đã nêu ở trên, Trường còn tổ chức đào tạo các hệ
vừa học vừa làm, hệ liên thông từ Trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng, cao đẳng nghề, sơ cấp
nghề. Liên kết đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học với một số trường đại học trong nước
và nước ngoài, liên kết đào tạo tại các địa phương khác.
2.1.4. Cơ cấu và tổ chức của trường và đội ngũ giảng viên, giáo viên, CBCNV
2.1.4.1. Cơ cấu tổ chức
2.1.4.2. Tổ chức nhân sự
2.1.5. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của Nhà trường
2.1.5.1. Hệ thống phòng học, nhà xưởng, ký túc xá
2.1.5.2. Hệ thống trang thiết bị, phương tiện dạy học
2.2. Thực trạng công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trƣờng Cao
đẳng Du lịch Hà Nội
Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường nên công tác
KT - ĐG kết quả học tập của sinh viên ở trường CĐ DLHN đã có những cải tiến nhất định từ
khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến khâu chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện KT - ĐG. Từng
bước thử nghiệm và cải tiến các phương pháp kiểm tra đánh giá, điều này đã thúc đẩy GV và SV
có những thay đổi thích ứng trong việc dạy và học, từng bước tiến bộ trong cách nhìn nhận và
thực hiện công tác KT - ĐG.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công tác KT - ĐG nhà trường đã gặp không ít khó
khăn chủ quan và khách quan dẫn đến hiệu quả thực hiện của công tác KT - ĐG kết quả học tập
của sinh viên còn một số hạn chế:
2.2.1 Thực trạng hình thức, phương pháp kiểm tra - đánh giá
Công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường CĐ DLHN đang thực hiện
theo quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ
chính quy thay thế cho quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/02/1999 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại
học và cao đẳng hệ chính quy.
Xác định được tầm quan trọng của công tác kiểm tra - đánh giá, nhà trường đã không
ngừng cố gắng áp dụng các hình thức, phương pháp kiểm tra - đánh giá đa dạng, hiệu quả nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Các hình thức như trắc nghiệm tự luận, vấn đáp,
đánh giá thực, trắc nghiệm khách quan đều đã được lựa chọn để kiểm tra - đánh giá kết quả học


tập của sinh viên tuỳ thuộc theo từng môn học cụ thể. Tuy nhiên, việc áp dụng các hình thức,
phương pháp kiểm tra - đánh giá có hiệu quả hay không còn có những ý kiến chưa đồng nhất.
Tỷ lệ giảng viên (68%) cho rằng hình thức KT - ĐG của nhà trường là chưa phù hợp bởi
họ cho rằng hình thức trắc nghiệm tự luận có nhược điểm là tính khách quan không cao, tính vô
tư sáng suốt của giảng viên chấm bài không đảm bảo và tốn nhiều thời gian, công sức chấm bài.
Nếu áp dụng hình thức đánh giá này với phần đa các môn học thì thực sự chưa hiệu quả, nội
dung bài thi sẽ khó bao quát toàn bộ kiến thức đã học. Ngoài ra, các hình thức KT - ĐG nên
được kết hợp chặt chẽ, linh hoạt với nhau nhằm phản ánh đúng thực chất kết quả học tập của
sinh viên.
2.2.2. Thực trạng khâu chuẩn bị câu hỏi thi, đề thi
Chuẩn bị câu hỏi thi là khâu vô cùng quan trọng bởi lẽ nó chính là công cụ, là thước đo để
kiểm tra mức độ đạt mục tiêu của người học. Nhận thức được tầm quan trọng của khâu chuẩn bị câu
hỏi, đề thi, CBQL và giảng viên Trường CĐ DLHN đã không ngừng cố gắng từ việc xây dựng các
ngân hàng câu hỏi cho các bộ môn đến việc tổ chức duyệt đề thi, bốc thăm đề thi đảm bảo tính
nguyên tắc, khách quan, bảo mật.
Nhận thức được tầm quan trọng của khâu chuẩn bị câu hỏi, đề thi, CBQL và giảng viên
Trường CĐ DLHN đã không ngừng cố gắng từ việc xây dựng các ngân hàng câu hỏi cho các bộ
môn đến việc tổ chức duyệt đề thi, bốc thăm đề thi đảm bảo tính nguyên tắc, khách quan, bảo
mật.
Nhưng do trình độ, khả năng của các GV chưa đồng đều dẫn đến việc thực hiện công tác
ra đề thi, kiểm tra còn nhiều hạn chế và mang tính riêng lẻ, chưa hợp nhất và trên thực tế nhà
trường vẫn phải duy trì chế độ – Bộ môn cử cán bộ (thường là trưởng, phó bộ môn hoặc người
giảng dạy chính môn học đó) tham gia kiểm tra đề thi ngay khi làm đề thi và phải có mặt tại địa
điểm thi vào các buổi thi môn đó điều này gây lãng phí nhân lực và kinh phí trong các kỳ thi.
2.2.3. Thực trạng công tác tổ chức thi, kiểm tra
Trong những năm qua, Trường CĐ DLHN cũng có những bước cải tiến nhằm đảm bảo
tính khách quan, công bằng, chính xác của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Trong quá trình thực hiện công tác này vẫn khó tránh khỏi những hạn chế. Nguyên nhân này xuất
phát từ SV, GV và CBQL:
- Nhận xét của sinh viên về thái độ của cán bộ coi thi, 44.5% số sinh viên cho rằng cán bộ
coi thi dễ dãi, chưa thực hiện đúng quy chế như việc cán bộ coi thi ngồi chưa đúng vị trí, làm
việc riêng trong lúc coi thi (đọc sách, truyện, tài liệu )
Bảng 2.10: Kết quả đánh giá của sinh viên về mức độ chính xác của điểm số
TT
ý kiến đánh giá
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)


1
Chưa chính xác
27
24.5
2
Tương đối chính xác
40
36.4
3
Chính xác
38
34.5
4
Rất chính xác
5
4.6
- Số liệu cho thấy, 24.5% ý kiến sinh viên cho rằng kết quả thi, kiểm tra chưa chính xác,
36.4% cho rằng tương đối chính xác, xấp xỉ 40% số sinh viên nhất trí điểm thi đánh giá đúng
thực chất kết quả học tập của họ. Con số này còn hạn chế cho thấy khâu KT - ĐG cần phải cải
tiến, không nên chỉ hướng về điểm thi để đánh giá mà nên đánh giá theo quá trình gồm: ĐG học
tập trên lớp, bài tập nhóm, KT định kỳ, điểm thực hành trên lớp với các trọng số khác nhau,
linh hoạt không nên phụ thuộc tuyệt đối vào điểm thi, như vậy sẽ tránh được tình trạng chạy
điểm, xin điểm.
Bảng 2.10: Kết quả đánh giá của giảng viên về thái độ nghiêm túc trong
thi cử của sinh viên
TT
ý kiến đánh giá
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
1
Rất không nghiêm túc
5
8.3
2
Không nghiêm túc
31
51.7
3
Nghiêm túc
16
26.7
4
Rất nghiêm túc
8
13.3

Số liệu trên cho thấy chỉ có 40% ý kiến của GV (trong đó 26.7% nghiêm túc và 13.3% rất
nghiêm túc) nhận xét về thái độ làm bài kiểm tra, thi của sinh viên đảm bảo nghiêm túc, trước
hết do tính tự giác của các sinh viên, 60% ý kiến đánh giá của giáo viên cho rằng đa số sinh viên
luôn luôn thường trực ý định học đối phó, học tủ, quay cóp tài liệu (nếu có điều kiện), nhìn bài
bạn, trao đổi trong khi làm bài. Đã có rất nhiều sinh viên bị lập biên bản trong khi làm bài thi.
Do vậy, thay đổi hình thức, phương pháp KT - ĐG nhằm hạn chế hiện tượng này là một
vấn đề mà nhà trường cần quan tâm giải quyết.
2.3. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trƣờng
Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Việc quản lý công tác KT - ĐG kết quả học tập tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
cũng đã có những ưu điểm và thành tích nhất định như:
- Nhà trường đã và đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện dần các ngân hàng đề thi cho
các môn học


- Bài thi được dọc phách, giao cho hai GV chấm độc lập, bài thi và điểm thi được lưu giữ
cẩn thận.
- Trong các kỳ thi, nhà trường có tổ chức cho Ban thanh tra giáo dục trực tiếp đi kiểm tra
công tác tổ chức thi và coi thi.
Công tác KT - ĐG của nhà trường được chỉ đạo và quản lý tương đối thống nhất và đồng
bộ từ các khâu lập kế hoạch, coi thi, chấm bài và quản lý kết quả thi. Tuy vậy, việc quản lý công
tác KT - ĐG còn một số mặt hạn chế:
2.3.1 Việc tuân thủ nguyên tắc, yêu cầu, quy trình kiểm tra- đánh giá
Để đảm bảo chất lượng của KT - ĐG kết quả học tập, quy trình KT - ĐG phải đáp ứng
được các nguyên tắc về tính quy chuẩn, tính khách quan, tính toàn diện, tính hệ thống, tính xác
nhận và phát triển. Ngoài ra phải đảm bảo các yêu cầu của KT - ĐG như: có mục tiêu, kế hoạch
KT - ĐG cụ thể, có quy trình KT - ĐG phù hợp, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện KT - ĐG theo
đúng quy trình, kiểm tra sát sao hoạt động KT - ĐG để có những điều chỉnh kịp thời nhằm nâng
cao chất lượng KT - ĐG.
2.3.1.1 Các hoạt động quản lý công tác KT - ĐG kết quả học tập của trường chưa đảm bảo
nguyên tắc, yêu cầu trong KT - ĐG.
Công tác KT - ĐG tại trường do Phòng đào tạo lập kế hoạch và quản lý với sự kết hợp
của các khoa, bộ môn. Việc xây dựng mục tiêu, tiêu chí đánh giá như hiện nay chưa cụ thể,
thống nhất giữa các khoa và môn học. Do vậy mỗi giảng viên đánh giá sinh viên của mình theo
cách riêng. Điều này thể hiện rất rõ trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ của sinh
viên.
Tiêu chí đánh giá của các giảng viên trong cùng một môn học cũng khác nhau điều này
đã làm giảm đi sự công bằng, chính xác trong KT - ĐG kết quả học tập của sinh viên tại trường.
Chính vì lẽ đó mà việc quản lý công tác KT - ĐG kết quả học tập của sinh viên gặp rất nhiều khó
khăn. Để phát hiện và triệt tiêu các hiện tượng như: GV chưa thực hiện đúng tiến độ, kế hoạch
giảng dạy, KT - ĐG, chưa kết hợp các hình thức KT - ĐG thường xuyên với KT - ĐG định kỳ và
còn lơ là trong khâu KT- ĐG cần có sự nỗ lực cố gắng của các cấp quản lý trong toàn trường.
2.3.1.2 Quy trình KT - ĐG của nhà trường chưa hoàn thiện
Bảng 2.13 Kết quả đánh giá của CBQL và GV về hiệu quả quản lý công tác KT - ĐG kết
quả học tập của sinh viên
TT
ý kiến đánh giá
CBQL
(%)
GV
(%)
1
Rất không hiệu quả
0.9
0.5
2
Chưa hiệu quả
45.6
42.8
3
Hiệu quả
52.3
55


4
Rất hiệu quả
1.2
1.7

Khi được hỏi ý kiến về hiệu quả quản lý công tác tổ chức thi của nhà trường, CBQL và
GV đã có những ý kiến tương đối giống nhau: 0.9 CBQL và 0.5% GV cho rằng rất không hiệu
quả; 45.6% CBQL và 42.8% GV cho rằng chưa hiệu quả; 52.3% CBQL và 55% GV cho rằng
hiệu quả; 1.2% CBQL và 1.7% GV cho rằng rất hiệu quả. Số liệu trên đây phản ánh việc quản lý
công tác tổ chức thi của nhà trường còn có một số mặt chưa tốt:
- Giảng viên chưa nắm bắt cụ thể kế hoạch KT - ĐG của nhà trường nên khi triển khai
gặp không ít khó khăn, lúng túng.
- Khâu ra đề thi thường mắc các lỗi không đáng có đó là sơ xuất trong quá trình làm đề,
in ấn, đóng gói cũng như việc giữ bảo mật đề thi.
- Phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá còn đơn giản, nhất là kiểm tra đánh giá
thường xuyên và định kỳ, chưa khuyến khích được sinh viên ý thức vươn lên trong học tập.
Ngược lại, tạo thói quen xấu cho sinh viên nhằm đạt được điểm cao để chạy theo thành tích. Nên
hiện tượng tiêu cực trong thi cử vẫn còn tái diễn.
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm quy chế vẫn còn nương nhẹ, nể nang gây tâm lý
mâu thuẫn giữa các cán bộ coi thi.
Công tác chấm thi học kỳ và thi tốt nghiệp, trường luôn duy trì chế độ xây dựng quy trình
và thao tác chung; duy trì việc phân công giáo viên tham gia chấm thi (một bài thi có 2 giáo viên
chấm). Việc quản lý công tác chấm thi là công việc quen thuộc vì vậy công tác bàn giao bài thi
được GV đánh giá tốt, không có sai sót nào đáng tiếc xảy ra. Công việc ghi, quản lý điểm và lưu
giữ bài thi theo đúng quy chế cũng được đánh giá cao. Riêng khâu chấm thi cẩn thận, khách
quan 28%GV cho rằng không tốt lắm và 24% GV cho rằng bình thường, điều này dễ hiểu bởi
tính khách quan của KT - ĐG phụ thuộc vào năng lực, nghiệp vụ của người đánh giá, phụ thuộc
vào tính quy chuẩn, quan điểm, phương tiện đánh giá. Khi mục tiêu đánh giá chưa thống nhất thì
tính khách quan trong đánh giá sẽ bị ảnh hưởng. Có tới 35% GV cho rằng không tốt lắm đối với
biện pháp ngăn chặn các hiện tượng xin điểm, chạy điểm. Nhà trường cũng đã cố gắng tìm mọi
biện pháp để ngăn chặn hiện tượng tiêu cực này bằng việc bảo quản tốt bài thi, đánh phách và
dọc phách theo quy định nhưng công tác KT - ĐG thường xuyên và định kỳ thì khó kiểm soát
bởi hoạt động này do từng GV chủ động thực hiện.
2.3.2 Đánh giá chung, nguyên nhân
2.3.2.1 Đánh giá chung:
* Điểm mạnh về quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
* Hạn chế về quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
2.3.2.2 Nguyên nhân
Tiểu kết chƣơng 2


Những năm vừa qua, công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập đã được nhà trường
quan tâm và đạt được một số kết quả đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn
tại một số hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó phải nói đến yếu tố con người là chủ
đạo tiếp đến là những giới hạn bởi kỹ thuật kiểm tra - đánh giá và cách quản lý công tác này. Để
nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và chất lượng kiểm tra - đánh giá
kết quả học tập của sinh viên nói riêng nhà trường cần có những biện pháp cụ thể và có sự phối
hợp đồng bộ, khoa học hơn nữa dựa trên sự đồng tâm, nhất trí cao của lãnh đạo và toàn thể GV,
CBCNV và SV trong toàn trường.

Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.1.1 Nguyên tắc đồng bộ
Các biện pháp quản lý công tác KT - ĐG kết quả học tập của sinh viên cần đảm bảo được
tiến hành một cách khoa học, đồng bộ tức là phải dựa trên những tri thức của khoa học quản lý
giáo dục. Các biện pháp không nên mâu thuẫn, tách rời riêng lẻ mà phải hỗ trợ lẫn nhau trong
mối quan hệ biện chứng chặt chẽ tạo thành một hệ thống chỉnh thể nhằm tác động tích cực tới
các lĩnh vực đang quản lý, điều chỉnh hoạt động quản lý một cách toàn diện phù hợp với thực
tiễn của nhà trường.
3.1.2 Nguyên tắc khả thi
Tính khả thi của các biện pháp được thể hiện: các biện pháp đề ra được thực thi từ cấp
quản lý tới giảng viên, sinh viên nhằm nâng cao chất lượng KT ĐG kết quả học tập của nhà
trường.
3.1.3 Các biện pháp đảm bảo tính hiệu quả
Các biện pháp đưa ra phải đảm bảo tính hiệu quả, tức là thông qua việc tuân thủ các
nguyên tắc, quy trình KT - ĐG sẽ góp phần làm cho công tác đào tạo của nhà trường ngày càng
đạt được kết quả cao.
3.2 Các biện pháp quản lý
3.2.1 Tập huấn nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm kiểm tra - đánh giá cho nhà
quản lý, giảng viên và sinh viên
3.2.1.1 Mục đích
Nâng cao nhận thức, năng lực kiểm tra - đánh giá cho nhà quản lý, giảng viên và sinh
viên, tạo động cơ phấn đấu tích cực nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng ngày càng cao
với yêu cầu đổi mới.
Tăng cường tập huấn kỹ năng KT - ĐG cho cán bộ quản lý và giảng viên giúp họ hiểu rõ
và có trách nhiệm hơn về công việc phải làm tránh sự lúng túng, sai sót hoặc chồng chéo trong
khi tiến hành KT - ĐG.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét