Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

áp dụng giao dịch quyền chọn cổ phiếu vào thị trường chứng khoán Việt Nam

5


Do đó, việc nghiên cứu cơng cụ quyền chọn chứng khóan là việc làm hết sức cần
thiết và cấp bách trong lúc này. Đây khơng phải là cơng việc của riêng Nhà nước mà tất
cả những ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm
đến nghiệp vụ này đều rất hữu ích và đáng được trân trọng.
Do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm, đề tài khơng thể đi sâu tìm hiểu,
khảo sát và phân tích hết các khía cạnh có liên quan đến quyền chọn. M
ong rằng đề tài
này sẽ được tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, kiểm chứng đầy đủ hơn và trên cơ sở đó có
thể củng cố hoặc bổ sung thêm các giải pháp, đề xuất nhằm cho việc triển khai áp dụng
quyền chọn chứng khốn trên TTCK Việt Nam đạt được hiệu quả cao hơn, giúp các
nhà đầu tư có thêm cơng cụ tài chính cần thiết để bảo hiểm, đa dạng hóa cách thức đầu
tư, giảm th
iểu rủi ro và mở ra các cơ hội mới tìm kiếm lợi nhuận cho chính họ và cũng
là góp phần cho sự tăng trưởng kinh tế quốc gia được ổn định và bền vững.
VI. Kết cấu của đề tài
Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung chính của đề tài bao gồm 03 chương
 Chương I: Cơ sở lý luận về quyền chọn cổ phiếu
 Chưong II: Những kinh nghiệm về tổ chức sàn giao dịch
quyền chọn cổ phiếu
tại một số nước trên thế giới
 Chương III: Áp dụng các giao dịch quyền chọn cổ phiếu tại TTCK Việt Nam
Ngòai ra đề tài còn có các phần: Lời cam đoan, Lời cảm ơn, Danh mục các từ viết tắt,
Danh mục các bảng biểu và hình vẽ, Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham

khảo.






Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN
Những giao dịch đầu tiên của quyền chọn mua và quyền chọn bán trên thế giới
được cho là đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu.
Vào đầu những năm 1900, một nhóm Cơng ty gọi là “Hiệp hội những nhà mơi
giới và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán” đã thành lập thị trường các
quyền chọn. Nếu một người nà
o đó muốn mua quyền chọn, một thành viên của hiệp
hội sẽ này sẽ tìm một người bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn. Nếu
cơng ty thành viên khơng thể tìm ra được người bán, tự cơng ty sẽ bán quyền chọn với
giá cả thích hợp. Vì vậy, một cơng ty thành viên có thể vừa là nhà mơi giới vừa là nhà
kinh doanh. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập trung OTC
(over-the-counter).
Tháng 4 năm 1973, Uỷ ban t
hương mại Chicago (Chicago Board of Trade- CBO)
thành lập sàn giao dịch quyền chọn chứng khốn Chicago (Chicago Board Options
Exchange – CBOE), đặc biệt dành cho trao đổi quyền chọn về cổ phiếu. TTCK
Philadelphia (Philadelphia Exchange – PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn
vào năm 1975, TTCK Pacific (Pacific Stock Exchange – PSE) thực hiện vào năm
1976 và TTCK New York ( New York Stock Exchage – NYSE) thực hiện vào năm
1985.
Việc mua bán quyền chọn trở nên phổ biến đầu tiên ở Chicago Board of Options
Exchange. Vào thời kỳ đó chủ yếu trao đổi các cổ phiếu thương mại đơn lẻ. Năm
1992, quyền chọn bắt đầu giao dịch trên các hợp đồng tương lai với trái phiếu chính
phủ, và loại giao dịch này phát triển rất nhanh. Giao dịch trên thị trường đấu giá mở,
việc mua bán quyền chọn cung cấp rất nhiều cơng cụ để đầu cơ và phòng hộ giá ch
o
cộng đồng thương mại.
Khi xã hội ngày càng phát triển, giao dịch quyền chọn ngày càng trở nên phổ biến
hơn, lan rộng sang A
nh, Brazil, Đức, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kơng và

HDKH: TS. Nguyễn Thị Xn Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dun
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7


Australia. Việc tồn cầu hố thị trường thế giới đã tạo ra nhu cầu liên kết điện tử và
thương mại 24/24 trong ngày. Thị trường Mỹ đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ra
những sản phẩm giao dịch quốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một sàn giao
dịch điện tử.
Những hệ thống đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển) và Project A
(được CBOT phát triển). Ở Đức, Deustche Term
inborse Exchange đã bỏ kiểu giao
dịch đấu giá mở, thay vào đó vận hành sàn giao dịch điện tử. Trên hệ thống GLOBEX,
các nhà đầu tư cá thể có thể giao dịch dựa trên chỉ số S&P 500, S&P 500 mini và
NASDAQ 100 và các hợp đồng con. Các nhà đầu tư còn có thể mua bán ngoại hối trên
GLOBEX. Trên hệ thống Project A ( hiện tại là hệ thống Eurex- tháng 8/2000 CBOT
xây dựng Eurex, tất cả giao dịch trên Project A đều được thực hiện tại Eurex). Các nhà
đầu tư cá thể có thể m
ua bán trái phếu T-bonds và tín phiếu, quyền chọn và tất cả các
sản phẩm ngũ cốc trên CBOT.
1.2 QUYỀN CHỌN VÀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU:
1.2.1 Định nghĩa
Quyền chọn là một hợp đồng ký kết giữa một bên là “người ký phát”
(Writer/Seller) và một bên là người mua hợp đồng (Buyer) trong đó, cho phép người
mua hợp đồng được quyền mua hoặc bán cho người ký phát hợp đồng một số lượng tài

sản với một giá cả nhất định và trong một thời hạn quy định của tương lai. Hợp đồng
quyền chọn cung cấp quyền cho người sở hữu nó chứ khơng phải là nghĩa vụ mua hoặc
bán. Vì vậy người chủ quyền chọn có thể thực hiện hoặc khơng thực hiện quyền trong
thời gian hiệu lực của hợp đồng quyền chọn.
Các hàng hố trong giao dịch quyền chọn có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, tiền tệ hay
hợp đồng tương lai…
Một quyền chọn phổ biến nhất trên thế giới hiện nay trong lĩnh vực tài chính và có
nhiều điểm tương đồng với giao dịch cổ phiếu là quyền chọn cổ phiếu.

Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8

Quyền chọn cổ phiếu là một cơng cụ giao dịch linh hoạt nhất đã được tìm ra trong
lĩnh vực kinh doanh – tài chính. Do chi phí cho quyền chọn thấp hơn giao dịch cổ
phiếu, quyền chọn cung cấp một đòn bẩy tài chính cao với một mức thiệt hại giới hạn
cụ thể trong việc giao dịch và đồng thời làm tăng thêm thu nhập cho nhà đầu tư. Người
mua quyền chọn có quyền, nhưng khơng phải là nghĩa vụ bắt buộc, mua hoặc bán các
chứng khốn cơ sở (underlying st
ock) tại mức giá thực hiện đã thoả thuận trước (strike
price/ exercise price) vào trước hoặc tại ngày đã định trước(expiry date). Các quyền
chọn này tồn tại đối với hàng ngàn cổ phiếu riêng lẻ, mặc dù khối lượng giao dịch có
thể thấp đối với quyền chọn của một số loại cổ phiếu nhất định.
Tất cả các quyền chọn niêm
yết có quyền thực hiện cho tháng hiện tại hoặc các
tháng quy định trong tương lai (ở Mỹ thường là vào ngày thứ sáu của tuần thứ ba trong
tháng đáo hạn). Mỗi cổ phiếu sẽ có một chu kỳ thích hợp đối vói quyền chọn. Tại Sàn
giao dịch Chứng khốn Chicago của Mỹ, có ba chu kỳ đáo hạn cố định được quy định
cho quyền chọn, mỗi chu kỳ thường cách nhau đều đặn là bốn t
háng: Chu kỳ thứ nhất
bắt đầu từ tháng Giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng mười; Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ
tháng hai, tháng năm, tháng tám và tháng mười một; Chu kỳ thứ ba bắt đầu từ tháng ba,
tháng sáu, tháng chín và tháng mười hai.
Mỗi quyền chọn ln có vài mức giá thực hiện (strike price) cao hơn hoặc thấp hơn
giá giao dịch hiện hành của chứng khốn cơ sở trên thị trường và tăng giảm th
eo một
biên độ nhất định, giá thực hiện được niêm yết giá với biên độ là 2
1/2
, 5 và 10 điểm tuỳ
thuộc vào giá thị trường của chứng khốn cơ sở và chỉ có vài giá thực hiện ở trên hoặc
dưới giá hiện hành mới được giao dịch. Giá quyền chọn được xác định do cung cầu
trên cơ sở đấu giá cơng bằng, cơng khai và cạnh tranh của sàn giao dịch. Ngồi ra, giá
đóng cửa của quyền chọn ln được đăng báo phổ biến hàng ngày.
Người nắm giữ quyền chọn có ba phương pháp để hiện thực hố lợi nhuận hoặc
giảm th
iếu phần thua lỗ bằng cách: hoặc bán lại quyền chọn; hoặc thốt khỏi giao dịch
bằng cách giao dịch ngược lại với quyền chọn đang nắm giữ (offseting); hoặc để quyền
chọn tự động đáo hạn khơng giá trị .

HDKH: TS. Nguyễn Thị Xn Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dun
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9


Với đặc tính của Quyền chọn cổ phiếu đã nêu trên có nhiều điểm tương đồng với
việc giao dịch cổ phiếu như: thứ nhất, việc giá giao dịch mua bán hình thành và thực
hiện theo phương thức đấu giá mở; thứ hai, giao dịch quyền chọn cổ phiếu được thực
hiện theo qui mơ hợp đồng - tuỳ theo quy định cụ thể của từng sàn giao dịch, nhưng
thơng thường là 100 cổ phần/
hợp đồng quyền chọn- tương tự hình thức giao dịch theo
lơ đối với cổ phiếu tại TTCK Việt Nam; thứ ba, nhà đầu tư quyền chọn còn có thể theo
dõi xu hướng giá, khối lượng giao dịch và thơng tin liên quan mỗi ngày, thậm chí mỗi
phút của chứng khốn cơ sở giống như các nhà đầu tư cổ phiếu

và nhanh chóng biết
được mức giá nào nên thực hiện hợp đồng Quyền chọn của mình.
Vì vậy, trong đề tài này tơi chỉ tập trung đề cập đến việc áp dụng Quyền chọn cổ
phiếu và
o TTCKVN và những khái niệm về Quyền chọn chứng khốn xuất hiện trong
đề tài này cũng chỉ hàm ý đến Quyền chọn cổ phiếu
1.2.
2 Các loại quyền Chọn
1.2.2.1 Quyền chọn Mua ( Call Options )
Quyền chọn mua cho người mua có quyền, nhưng khơng phải là nghĩa vụ, mu
a
chứng khốn cơ sở tại một mức giá thực hiện đến khi đáo hạn. Có rất nhiều giá thực
hiện có sẵn tuỳ thuộc vào giá giao dịch hiện thời của chứng khốn cơ sở. Thời gian đáo
hạn có thể từ một tháng đến hơn một năm (Quyền chọn dài hạn LEAPS – Longterm
Equity Anticipation Securities). Tuỳ thuộc vào trạng thái thị trường mà người mua
quyền chọn có thể m
ua (go long a Call option) hoặc bán ( go short a Call option) một
quyền chọn mua. Người mua quyền chọn mua có kỳ vọng về xu hướng tăng giá của cổ
phiếu.
Một quyền chọn mua mà giá chứng khốn cao hơn giá thực hiện được gọi là cao
giá ITM (quyền chọn mua có lãi); Nếu giá chứng khốn thấp hơn giá thực hiện, quyền
chọn mua được gọi là kiệt giá OTM (quyền chọn mua bị lỗ); Nếu giá chứng khốn
bằng với giá thực hiện,
quyền chọn là ngang giá ATM ( quyền chọn mua hồ vốn).
Hình 1.1(a) mơ tả thành quả của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm
năng là vơ hạn khi giá của chứng khốn cơ sở tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu giá

Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10

chứng khốn giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối đa bằng
với phí mua quyền chọn

Hình 1.1: Vị thế của Quyền chọn Mua
Vùng Lãi
Giá tài sảntăng
Giá thựchiện
Điểmhồvốn
Lãi
Lỗ
Phí
0







Hình
1.1(b) mơ tả thành quả của người bán quyền chọn mua, người bán quyền
chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn và sẽ bị
thua lỗ vơ hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện.

(a)- Thành quả của người mua quyền chọn mua







1.2.
2.2 Quyền chọn Bán (Put Options)
Giá thực hiện
Điểm hồ vốn
Giá tài sản tăng
Vùng Lỗ
(b)- Thành quả của người bán quyền chọn mua
Lãi
Lỗ
Phí
0
Quyền chọn bán cho người mu
a có quyền, nhưng khơng phải là nghĩa vụ, bán
chứng khốn cơ sở tại một mức giá thực hiện đến khi đáo hạn. Có rất nhiều giá thực
hiện có sẵn tuỳ thuộc vào giá giao dịch hiện thời của chứng khốn cơ sở. Thời gian đáo
hạn có thể từ một tháng đến hơn một năm (
Quyền chọn dài hạn LEAPS). Tuỳ thuộc
vào trạng thái thị trường mà người mua quyền chọn có thể mua (go long a Put option)

HDKH: TS. Nguyễn Thị Xn Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dun
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11


hoặc bán ( go short a Put option) một quyền chọn bán. Người mua quyền chọn bán kỳ
vọng cổ phiếu có xu hướng giảm giá.
Nếu giá cổ phiếu thấp hơn giá thực hiện, quyền chọn bán được xem là cao giá ITM
(quyền chọn bán có lãi); Nếu giá cổ phiếu cao hơn giá thực hiện, quyền chọn bán được
xem là kiệt giá OTM (quyền chọn bán bị lỗ); Nếu giá cổ phiếu bằng với giá thực hiện,
quyền chọn bán là ngang giá ATM (quyền chọn bán hồ vốn).
Vị thế người mua, người bá
n và phí quyền chọn bán được mơ tả bằng hình sau:
Hình 1.2(a) Mơ tả thành quả của người mua quyền chọn bán với lợi nhuận tiềm
năng là vơ hạn khi giá của tài sản giảm trong tương lai. Ngược lại, nếu giá chứng
khốn tăng so với giá thực hiện thì người mua quyền chỉ lỗ với mức tối đa bằng với phí
mua quyền chọn.

Hình 1.2: Vị thế của Quyền chọn Bán

Vùng lãi Giá tài sản tăng
Giá thực hiện
Điểmhồ vốn
Lỗ
Lãi
Phí
0







Hình 1.2(
b) mơ tả thành quả của người bán quyền chọn bán, người bán quyền
chọn bán chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn và sẽ bị
thua lỗ vơ hạn khi giá tài sản giảm so với giá thực hiện.
(a) – Thành quả của người mua Quyền chọn Bán




Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12


Vùng

lỗ Giá tài sản tăng
Giá thực hiện
Điểm hồ vốn
Lỗ
Lãi
Phí
0







(b) – Thành quả của người bán Quyền chọn bán

Tóm
lại, nhà đầu tư nắm giữ tài sản cơ sở mua quyền chọn bán khi họ dự đốn
trong tương lai tài sản giảm giá để bảo hiểm cho tài sản của mình hoặc cũng có thể đầu
cơ thu lợi trước dự đốn đó. Và ngược lại, khi nhà đầu tư kỳ vọng tài sản đó sẽ tăng lên
trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách m
ua một quyền chọn mua.
Nói như vậy, khơng có nghĩa là người bán quyền chọn mua và quyền chọn bán là
những kẻ liều lĩnh hay thích đùa, thích đánh đổi một lợi nhuận rất nhỏ (phí quyền
chọn) với những rủi ro vơ hạn như 2 mơ hình trên. Trên thị trường các nhà đầu tư khác
nhau sẽ có những cảm nhận, nhận định và đánh giá khác nhau về xu hướng thay đổi
của thị trường và các loại cổ phiếu nhất định nào đó – đây còn được gọi là thuyết đầu
tư “phi lý” nhưng lại rất phổ biến theo các nhà nghiên cứu t
huyết tài chính hành vi - vì
vậy họ sẽ tin và hành động theo nhận định, phân tích và dự báo của mình với “khẩu vị”
rủi ro và mục tiêu lợi nhuận của riêng mình. Trong suốt q trình đầu tư, họ khơng
ngừng tiến hành bù trừ các vị thế rủi ro hay tự bảo vệ mình khỏi thua lỗ bằng cách kết
hợp các chiến lược m
ua bán khơn khéo và độc đáo, do đó, các khả năng đạt được lợi
nhuận đa dạng đến nỗi gần như bất kỳ một nhà đầu tư nào cũng có thể tìm được một
chiến lược đáp ứng mức rủi ro ưa thích của mình mà vẫn phù hợp với dự báo của thị
trường.

HDKH: TS. Nguyễn Thị Xn Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dun
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13


1.2.3 Các kiểu thực hiện Quyền Chọn
Có ba kiểu thực hiện Quyền chọn: Quyền chọn Kiểu Mỹ ( American Style Option),
Quyền chọn Kiểu Châu Âu ( European Style Option) và Quyền chọn Giá Trần (Capped
Option)
Quyền chọn Kiểu Mỹ ( American Style Option): Cho phép người nắm giữ Quyền
chọn có quyền thực hiện hợp đồng quyền chọn vào bất kỳ ngày nào trước khi đáo hạn
của Quyền chọn. Nếu khơng thực hiện, Quyền chọn sẽ khơng còn giá trị khi đến ngà
y
đáo hạn và tồn tại như là một cơng cụ tài chính. Hiện nay, tất cả các giao dịch quyền
chọn chứng khốn thường là Quyền chọn Kiểu Mỹ.
Quyền chọn Kiểu Châu Âu ( European Style Option): chỉ cho phép người nắm giữ
Quyền chọn thực hiện hợp đồng quyền chọn vào ngày đáo hạn. Do đặc tính này nên
việc phân tích quyền chọn kiểu Châu Âu dễ hơn quyền chọn kiểu Mỹ.
Quyền c
họn Giá Trần (Capped Option): là một hợp đồng Quyền chọn với một
mức lợi nhuận trần hoặc giá trần được xác định trước. Giá trần được tính bằng giá thực
hiện cộng với biên độ giá trần (interval cap) đối với hợp đồng Quyền chọn mua và
bằng giá thực hiện trừ đi biên độ giá trần đối với hợp đồng Q
uyền chọn bán. Hợp đồng
Quyền chọn giá trần tự động sẽ được thực hiện khi chứng khốn cơ sở đóng cửa tại
mức giá cao hơn ( đối với Quyền chọn Mua) và thấp hơn (đối với Quyền chọn Bán )
mức giá trần đã thoả thuận trong hợp đồng. Ngược lại, nếu khơng đạt được giá trần đã
thoả thuận,
Hợp đồng Quyền chọn giá trần chỉ cho phép người nắm giữ Quyền chọn
thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn.
1.3 QUI TRÌNH CƠ BẢN GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN
1.3.1 Các chủ thể tham gia thị trường Quyền chọn
1.3.1.1 Chủ thể phát hành ( Writer/ Seller)
Chủ thể phát hành là những chủ thể mà họ sẽ cung quyền lựa chọn cho thị trường.
Chủ thế phát hành có thể là cá nhâ
n, tổ chức và cũng có thể là các nhà tạo lập thị
trường.

Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14

Chủ thể phát hành còn là các nhà tạo lập thị trường, họ chịu trách nhiệm đáp ứng
nhu cầu của cơng chúng đối với Quyền chọn. Khi một cơng chúng nào đó muốn mua
(bán) một quyền chọn và khơng có thành viên nào trong cơng chúng muốn bán (mua)
quyền chọn đó, nhà tạo lập thị trường sẽ thực hiện giao dịch đó. Hệ thống này đảm bảo
rằng nếu một nhà đầu tư tư nhân muốn mua một quyền chọn cụ thể, sẽ có người sẵn
sàng chà
o bán, và nếu một người mua quyền chọn và sau đó muốn bán nó đi, sẽ có
người sẵn sàng mua. Nhà tạo lập thị trường cung cấp cho cơng chúng tiện ích về thực
hiện giao dịch ngay lập tức.
1.3.1.2 Chủ thể trung gian
Các mơi giới và mơi giới trên sàn giao dịch (Broker): Nếu một người nào đó muốn
mua hoặc bán một quyền chọn, cá nhân người đó phải thiết lập một tài khoản tại cơng
ty mơi giới.
Cơng ty này phải th một nhà mơi giới trên sàn hoặc có hợp đồng hợp tác
với hoặc là một nhà mơi giới độc lập trên sàn giao dịch hoặc là nhà mơi giới sàn giao
dịch của một cơng ty đối thủ. Nhà mơi giới trên sàn thực hiện các lệnh của những
người khơng phải là thành viên và hoặc là nhận một mức lương thuần hoặc là nhận hoa
hồng trên mỗi lệnh thực hiện đư
ợc.
Trung tâm thanh tốn bù trừ - Cơng ty thanh tốn bù trừ quyền chọn (OCC): là
một cơng ty độc lập, đảm bảo cho việc thực hiện của người bán quyền chọn. OCC là
một trung gian thanh tốn trong mỗi giao dịch. Người mua Quyền chọn khi thực hiện
quyền khơng hướng vào người bán quyền chọn mà hướng vào Cơng ty thanh tốn bù
trừ quyền chọn và người bán quyền chọn cũng thực hiện chi trả hoặc giao chứng khốn
cho Cơng ty thanh tốn bù trừ quyền chọn. Mỗi thà
nh viên của OCC được gọi là cơng
ty thanh tốn, có mở một tài khoản với OCC. Sự tham gia của OCC đảm bảo cho quy
trình thực hiện các hợp đồng Quyền chọn diễn ra thơng suốt và hạn chế rủi ro phá vỡ
hợp đồng từ các bên nhờ thế mà quyền lợi của người mua ngày càng được đảm bảo.
1.3.1.3 Chủ thể đầu tư ( Taker/ Buyer)

HDKH: TS. Nguyễn Thị Xn Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Dun
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét