Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

tim_hieu_van_hoa_trung_quoc

Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 5
Chính trị của Trung Quốc hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện
ở mức cao hơn, hình thành cục diện toàn dân làm hết năng lực- hưởng theo năng lực
và chung sống hài hòa.
Định hướng nhiệm vụ từ nay đến năm 2020: Hoàn thiện pháp chế dân chủ
XHCN; Giải quyết chênh lệnh phát triển vùng miền, hình thành cơ chế phân phối thu
nhập hợp lý; Tạo việc làm, xây dựng hệ thống bảo hiể
m xã hội cả ở thành thị và
nông thôn; Hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ công; Nâng cao tố chất về tư tưởng, đạo
đức, văn hóa, khoa học và sức khỏe toàn dân; Tăng cường năng lực sáng tạo xã hội;
Hoàn thiện hệ thống quản lý xã hội; Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ
môi trường.
2. Cấu trúc xã hội

Đơn vị cấu trúc xã hội:
Cơ cấu dân số:

0-14 tuổi: 20,8%

15-64 tuổi: 71,4%

65 tuổi trở lên: 7,7%
Độ tuổi trung bình: 32,7 tuổi (Nam 32,3 tuổi/ Nữ: 33,2 tuổi)
Tốc độ tăng trưởng dân số: 0,59% (ước 2006)
Tỷ lệ sinh: 13,25 /1,000 (ước 2006)
Tỉ lệ tử: 6,97/1.000 (ước 2006)
Tỉ lệ nhập cư: -0,39 người/1.000 người
Cơ cấu giới tính: 1,06 nam/nữ
Tuổi thọ trung bình: 72,58 tuổi
Người Trung Quốc xem mình là thuộc về gia đình và đồng thời như là những
đứa con của Nhà nước. Trong bả
n thân gia đình, họ không phải là những “nhân vị”
(Personen), bởi sự thống nhất bản thể ở đây là sự thống nhất của huyết thống và của
tính tự nhiên. Trong Nhà nước, họ cũng không phải là những “nhân vị”, vì quan hệ
thống trị ở đây là quan hệ gia trưởng, và chính quyền dựa trên việc thực thi sự chăm
lo của vua đối với dân như của cha đối với con… để gi
ữ mọi việc trong vòng trật
tự”…
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 6
Nền tảng gia đình cũng là nền tảng của “hiến pháp”, nếu có thể dùng một từ
như thế. Ở Trung Quốc, sự khác biệt giữa nô lệ và tự do tất nhiên là không lớn, bởi
trước mặt hoàng đế, tất cả đều bình đẳng, nghĩa là, đều bị giáng cấp như nhau.
3. Tôn giáo

Tại Trung Quốc, kể từ năm 1949 dưới sự điều hành của chính phủ Cộng Sản
luôn muốn khuếch trương chủ nghĩa vô thần nên dân số của các tôn giáo không xác
dịnh rõ ràng. Nhưng trên thực tế từ nhiều nguồn nghiên cứu về văn hóa và tôn giáo
Trung Hoa thì đại đa số người dân vẫn còn giữ phong tục thờ cúng tổ tiên do ảnh
hưởng của Khổng Giáo, cũng như kết hợ
p với Phật Giáo và Đạo Giáo trở thành
"Tam giáo đồng nguyên" (hoặc "Tôn giáo cổ truyền Trung Hoa" mà Phật Giáo Đại
Thừa giữ vai trò chính), số còn lại theo những tôn giáo chính sau với tỉ lệ chỉ mang
tính ước lượng có thể không chính xác:
• Lão giáo
Xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và khó phân ranh rõ ràng với những
tôn giáo khác nên người ta không nắm rõ số người theo. Theo các tài liệu gần đây
nhất thì có khoảng 400 triệu người (30% tổng dân số) theo Đạo Giáo.

Phật giáo
Khoảng 8% tổng dân số (quy y Tam Bảo), bắt đầu du nhập vào Trung Quốc
khoảng từ thế kỷ thứ nhất Công nguyên. Số người theo chủ yếu là Đại thừa, còn Tiểu
thừa thì không đáng kể. Ngoài ra, còn có những người theo Phật giáo Tây Tạng, chủ
yếu tại Tây Tạng và Nội Mông Cổ. Con số thực của số lượng Phật tử trên danh nghĩa
có thể đạt trên 660 triệu đến 1 tỷ
người (50% - 80%). Nhờ vậy mà Trung Quốc
đương nhiên trở thành quốc gia Phật Giáo đông dân nhất, theo sau là Nhật Bản và
Việt Nam, chiếm khoảng 2/3 trong tổng số 1,5 tỷ người theo Phật Giáo trên khắp Thế
Giới. Lưu ý là đa số người gốc Hán thường tôn thờ Phật Giáo cùng chung với các tôn
giáo truyền thống Trung Hoa khác (như Đạo Giáo hay Khổng Giáo).

Cơ Đốc giáo
Chiếm khoảng 1 đến 4% tùy nguồn, một số nhánh của đạo này được truyền rải
rác vào Trung Quốc thành nhiều đợt bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII. Ngoài ra còn có
những người Trung Quốc gốc Nga ở phía bắc và tây bắc Trung Quốc theo Chính
Thống giáo với số lượng tương đối nhỏ.
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 7

Nho giáo
Không rõ số người theo, đây là tôn giáo xuất phát từ Khổng Tử mà các triều đại
Trung Quốc cố gắng truyền bá theo chiều hướng có lợi cho chính quyền, tuy nhiên
theo nhiều học giả thì bản chất của nó không phải như vậy.

Hồi giáo
Chiếm khoảng 1% đến 2% tổng dân số, có ở Tân Cương và các vùng có người
dân tộc thiểu số theo Hồi Giáo sinh sống rải rác. Đạo này phát triển mạnh vào thời
nhà Nguyên (1271-1368).

Tôn giáo cổ truyền Trung Quốc
Tôn giáo đa thần của phần lớn dân Trung Quốc trước năm 1949, là kiểu tín
ngưỡng pha trộn giữa một số trường phái Đạo giáo và Phật giáo và các tín ngưỡng
khác.
Ngoài ra còn có Pháp Luân Công là một phương pháp tập luyện tinh thần rất
phổ biến tại Trung Quốc trong thập niên 90 tuy nhiên đã bị ĐCSTQ đàn áp vào năm
1999. Theo thống kê của chính phủ có khoảng 70-100 triệu người.
4. Ngôn ngữ

* Ngôn ngữ viết
Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ và đa văn tự, ở Trung Quốc có
56 dân tộc, 81 loại hình ngôn ngữ và 31 loại văn tự. Ta thấy rằng tiếng Hán là ngôn
ngữ đa phương ngôn.
Tại Trung Quốc tiếng Quan Thoại được sử dụng nhiều nhất. Ngoài ra còn có
tiếng Quảng Đông được sử dụng tại tỉnh Quảng Đông, đặc khu Hồng Kông, tiếng
Ngô sử dụng tại tỉnh Triết Giang, tiếng Mân tại tỉnh Phúc Kiến , đây là những
phương ngôn (tiếng địa phương).
Về mặt chữ viết thì chỉ có một loại chữ duy nhất đó là chữ Hán.
Về mặt phát âm những phương ngôn này có nhiều từ ngữ phát âm giống tiếng
Quan Thoại hoàn toàn, một số chỉ đọc hơi giống và cũng có những từ phát âm khác
xa tiếng Quan Thoại. Các phươ
ng ngôn trên có cách phát âm đa dạng hơn tiếng Quan
Thoại do đó từ đồng âm trong những phương ngôn này cũng ít hơn.
Khoảng một phần năm dân số thế giới hiện nay dùng một trong những thứ tiếng
Trung Quốc làm tiếng mẹ đẻ, khiến nó trở thành thứ tiếng đứng đầu thế giới về
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 8
phương diện này. Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quan Thoại chuẩn là ngôn ngữ chính
thức của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan, cũng
như là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore, và là một trong sáu ngôn
ngữ làm việc chính thức của Liên Hiệp Quốc. Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quảng
Đông chuẩn thì là một trong những ngôn ngữ chính thức của Hồng Kông (cùng với
tiếng Anh) và của Ma Cao (cùng với tiếng Bồ
Đào Nha).
* Ngôn ngữ cử chỉ
Mắt lim dim
Ở Trung quốc hành động này được ngầm hiểu là “Tôi đang lắng nghe đây”
Chỉ trỏ
Ở Trung Quốc chỉ người khác bằng ngón trỏ bị xem là bất kính và vô cùng bất
lịch sự. Người ta thường dùng cả bàn tay để chỉ ai đó hay vấn đề gì đó.
Gật đầu
Ở Trung Quốc cũng như hầu hết các quốc gia hành động này có nghĩ
a là “Tôi
đồng ý”
Vỗ nhẹ (bằng ngón trỏ) lên mũi
Hành động này có nghĩa là “tôi đang lắng nghe đây”
Giữ khoảng cách
Người châu Á trong đó có người Trung Quốc, thường giữ khoảng cách ít nhất
là 1 mét khi giao tiếp. Trong khi đó, người Mỹ Latin và Trung Đông thích đứng gần
nhau, đôi khi chỉ cách nhau chừng nửa mét. Đối với người Mỹ và châu Âu, khoảng
cách này là trung bình cộng của hai khoảng cách trên
Bạn nên giữ khoảng cách phù hợp khi giao tiếp vớ
i đối tác hay đồng nghiệp. Ví
dụ khi bạn phỏng vấn ứng viên, khoảng cách tiếp xúc quá gần sẽ khiến cho ứng viên
cảm thấy không thoải mái, mất bình tĩnh và không nghe rõ những gì bạn nói. Hoặc
khi đánh giá thành tích làm việc của nhân viên, bạn sẽ khiến cho nhân viên có cảm
giác bị uy hiếp và có khuynh hướng bác bỏ đề nghị hay phê bình của bạn nếu bạn
đứng quá gần anh ta.
5. Giáo dục

Trung Quốc rất chú ý đầu tư cho giáo dục. Tỷ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở
nên đạt 90% ( năm 2005).
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 9
Phương châm chiến lược phát triển Giáo dục Trung Quốc đó là: Giáo dục
hướng về hiện đại, Giáo dục hướng tới tương lai và Giáo dục hướng ra thế giới. Đây
là tư tưởng xác lập vị trí chiến lược của giáo dục trong nỗ lực xây dựng đất nước
phát triển, nhất là nhằm tăng cường hội nhập quốc tế. Sau khi gia nhập WTO, Trung
Quốc chủ trương bồi d
ưỡng, giáo dục nhân tài theo ba hướng này.


Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 10
CHƯƠNG 3:
NĂM CHIỀU VĂN HÓA GEERT-HOFSTEDE
VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ TRUNG QUỐC

Bảng: Điểm cho 5 chiều văn hóa của một số quốc gia (nguồn:http://www.geert-
hofstede.com/)
Quốc gia Khoảng
cách
Quyền
Lực
Chủ Nghĩa
Cá Nhân
Nam Tính Tránh
Rủi Ro
Hướng
Tương
lai
Trung Quốc 80 20 66 30 118
Việt Nam 70 20 40 30 80
Trung bình các
nước trên thế giới
55 43 50 64 45

Chiều thứ nhất: Khoảng Cách Quyền Lực (Power Distance - PD)
Chiều văn hóa này liên quan đến mức độ bình đẳng / bất bình đẳng giữa người
với người trong một xã hội bất kỳ nào đó.
Trung Quốc là quốc gia có khoảng quyền lực lớn với chỉ số là 80, trong khi chỉ
số trung bình của các nước trên thế giới là 55.
Một quốc gia có điểm Khoảng Cách Quyền Lực lớn sẽ
CHẤP NHẬN và kéo
dài sự bất bình đẳng giữa người và người. Một ví dụ về xã hội như vậy sẽ là một tháp
quyền lực cao và nhọn; và việc một người di chuyển từ chân tháp lên đỉnh tháp sẽ rất
khó khăn và hạn chế.
Vì thế, trong xã hội Trung Quốc, người ta chấp nhận sự độc tài hoặc các thể chế
mang tính mệnh lệnh, nhân dân ngoan ngoãn phục tùng lãnh đạo, nhân viên làm theo
lời sếp, h
ọc sinh răm rắp nghe theo thầy cô, con cái không dám cãi cha mẹ - bởi họ
coi đó là bổn phận, là điều đương nhiên. Sự phân chia đẳng cấp rất rõ ràng. Việc một
người ở đẳng cấp thấp chuyển lên đăng cấp cao hơn là khó khăn.
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 11
Chiều thứ hai: Chủ nghĩa Cá Nhân (Individualism - IDV)
Chiều văn hóa này liên quan đến mức độ mà một xã hội chấp nhận chủ nghĩa cá
nhân, hay yêu cầu mọi người phải sống vì tập thể.
Người Trung Quốc xếp hạng thấp hơn so với trung bình các nước trong bảng
xếp hạng IDV, chỉ số này là 20 so với chỉ số trung bình là 43. Điều này có thể một
phần là do chế độ Cộng sản có m
ức độ tập trung vào xã hội tập thể là cao so với chủ
nghĩa cá nhân.
Ở Trung Quốc con người từ khi sinh ra đã buộc phải hòa nhập vào một cộng
đồng rộng lớn hơn, thường là tập hợp của các gia đình (với cô, chú, bác và ông bà
v.v ). Cộng đồng này sẽ bảo vệ họ những khi khó khăn, nhưng đổi lại họ phải trung
thành với cộng đồng mà không được quyền thắc mắc. Trong c
ộng đồng như thế,
thành viên của nó thường phải theo đuổi cái gọi là trách nhiệm với cộng đồng (thể
diện dòng họ, thể diện hàng xóm láng giềng, v.v ). Vấn đề sống hòa hợp và tránh
làm mất mặt người khác được người Trung Quốc đặt nặng.
Chiều thứ ba: Tránh Rủi ro (Uncertainty Avoidance - UAI)
Chiều văn hóa này nói lên mức độ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi, những
điều mớ
i mẻ của một cộng đồng.
Chỉ số tránh rủi ro Trung Quốc là 30, thấp hơn nhìu so với chỉ số trung bình của
các nước trên thế giới là 64.
Văn hóa Trung Quốc thể hiện sự tránh thay đổi ở mức độ trung bình. Mọi
người trong xã hội có cảm giác bị đe dọa bởi các tình huống không rõ ràng (hay
không biết trước kết quả), và cố gắn tránh những tình huống như thế bằng cách tìm
công vi
ệc ổn định, thiết lập các luật lệ chặt chẽ và tránh những ý tưởng và hành vi
mang tính đột biến. Đây cũng là một trở ngại cho việc xâm nhập của các tư tưởng
mới, khác lạ so với tư tưởng cũ vốn thống trị. Thay đổi thể chế chính trị cũng gặp
khó khăn, trừ khi có những biến động kinh tế - xã hội rất lớn khiến thể ch
ế cũ không
thể tồn tại.
Chiều thứ tư: Nam Tính (Masculinity - MAS)
Chiều văn hóa này nói lên mức độ xã hội chấp nhận hay không chấp nhận
quyền lực truyền thống của người đàn ông trong xã hội.
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 12
Chỉ số nam tính ở Trung Quốc là 66, chỉ số này là tương đối cao so với chỉ số
trung bình của các nước là 50
Điểm Nam Tính cao chỉ ra ở Trung Quốc có sự phân biệt giới tính. Đàn ông có
xu hướng thống trị trong phần lớn cấu trúc quyền lực gia đình và xã hội. Luôn tồn tại
sự đối xử bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong mọi khía cạnh xã hội.
Chiều thứ n
ăm: Hướng tương lai (Long-term orientation – LTO)
Chiều Hướng tương lai mô tả cách nhìn của một xã hội là hướng tương lai, hay
sống chỉ hướng vào quá khứ và hiện tại.
Geeft Hofstede phân tích định hướng tương lai của Trung Quốc có chỉ số LTD
cao nhất (118), đó là sự thật cho tất cả các nền văn hóa của châu Á.
Điều này chứng tỏ người Trung Quốc rất quý trọng sự bền bỉ (hay kiên nhẫn,
bền chí), thích tiế
t kiệm, sắp xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã
hội, có khái niệm về "xấu hổ". Các cá nhân trong xã hội luôn lo lắng tương lai của
mình sẽ về đâu, họ tiết kiệm chi tiêu để dành dụm cho những lúc trái nắng trở trời
hay về già, họ trông đợi việc kiên gan sẽ đem lại thành công trong tương lai. Họ cũng
coi trọng "kết quả cuối cùng" (virtue) hơn là "sự thật" (truth), họ thường l
ấy kết quả
biện hộ cho phương tiện.
LỐI SỐNG, MỘT SỐ THÓI QUEN PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA
NGƯỜI TRUNG QUỐC
Nhà ở
Do môi trường tự nhiên và tình hình nhân văn các khu vực Trung Quốc khác
nhau, kiến trúc nhà ở các nơi cũng thể hiện bô ̣mặt đa dạng hoá.
Dòng chính kiến trúc nhà ở truyền thống ở khu vực dân tộc Hán là nhà ở kiểu
quy củ, tiêu biểu là Tứ Hợp Viện Bắc Kinh áp d
ụng bố cục đối xứng qua trục chính.
Tứ Hợp Viện Bắc Kinh chia làm nhà trước và nhà sau, nhà chính giữa là nơi kính
trọng và sùng bái nhất, đây là nơi tổ chức lễ nghi gia đình, tiếp đón khách quý, các
nhà ở đều có cửa hướng vào sân giữa, có hành lang nối với nhau. Tứ Hợp Viện Bắc
Kinh đã thể hiện quan niệm tôn pháp và chế độ gia đình thời cổ Trung Quốc, nhưng
khu nhà rộng vuông vắn, yên lặng thân thi
ết, hoa lá, cây cỏ ngăn nắp, là không gian
sinh hoạt ngoài trời rất lý tưởng. Kiến trúc nhà ở vùng Hoa Bắc, Đông Bắc phần lớn
là khu nhà rộng rãi như vậy.
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 13
Nhà chính và nhà lầu
Kiến trúc nhà ở của miền Nam Trung Quốc khá chặt chẽ, nhiều nhà tầng, nhà ở
điển hình là nhà hướng vào sân có diện tích nhỏ hình chữ nhật. Kiểu nhà ở này bên
ngoài vuông vắn, chất phác đơn giản, phân bố rất rộng tại các tỉnh miền nam TQ.
Người Khách Gia ở khu vực phía nam Phúc Kiến, phía bắc Quảng Đông và
Quảng Tây thường ở khu nhà tập đoàn cỡ lớn, khu nhà ở có hình tròn và vuông, gồm
khu nhà chính một t
ầng ở giữa và khu nhà 4-5 tầng ở xung quanh tạo thành, loại kiến
trúc này có tính phòng thủ rất mạnh, tiêu biểu là nhà lầu Khách Gia huyện Vĩnh Định
Phúc Kiến. Vĩnh Định có hơn 8 nghìn ngôi nhà lầu với các hình vuông, hình tròn,
hình tám cạnh và hình bầu dục, những lầu đất này quy mô lớn, tạo hình đẹp, vừa
khoa học thực dụng, vừa có đặc điểm riêng, đã tạo thành thế giới nhà ở kỳ diệu.
Thổ Lâu (nhà lầu
đất) ở tỉnh Phúc Kiến được xây bằng đất sét, cát đá, mảnh gỗ,
nối liền với nhau thành một cụm kiến trúc thành quách mang tính phòng ngự khép
kín, gọi là Thổ Lâu. Thổ Lâu mang tính kiên cố, an toàn, khép kín và đặc thù tông
tộc. Trong Thổ Lâu có giếng nước, có kho chứa lương thực, nếu xảy ra chiến loạn,
thổ phỉ thì chỉ cần đóng cửa lại là hình thành một khối, dù bị vây hãm vài tháng vẫn
có đủ lương thực. Cộng thêm có
đặc tính mùa đông ấm áp mùa hè mát mẻ, kháng
chấn và bão, Thổ Lâu là nời nơi sính sống của các đời người Hẹ.
Kiến trúc nhà ở dân tộc Thiểu số
Kiến trúc nhà ở vùng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng rất đa dạng, như nhà ở
của dân tộc Vây-ua Tân Cương tây bắc Trung Quốc phần lớn là nhà mái bằng, tường
đất, một đến ba tầng, bên ngoài có vườn vây quanh; nhà ở điển hình của ngườ
i dân
tộc Tạng tường ngoài xây bằng đá, bên trong kết cấu gỗ, mái bằng; dân tộc Mông Cổ
thường ở trong lều bạt Mông Cổ có thể di động; còn các dân tộc thiểu số vùng tây
nam thường xây các nhà sàn bằng gỗ dựa vào thế núi hướng ra mặt nước, dưới sàn để
không, bên trên ở người, trong đó nhà sàn tre của dân tộc Mèo, dân tộc Thổ Gia.
Nhà sàn thường xây trên đường dốc, không đổ nền nhà, chỉ lấy cột chống, nhà có hai
ho
ặc ba tầng, tầng trên cùng rất thấp, chỉ để lương thực không người ở, dưới sàn để
đồ lặt vặt hoặc nuôi gia súc.
Van hoa kinh doanh Trung Quoc http://www.ebook.edu.vn 14
Nhà hang miền bắc và kiến trúc nhà ở thành cổ
Vùng trung và thượng du sông Hoàng Hà miền bắc Trung Quốc có khá nhiều
nhà hang.
Tại vùng hoàng thổ Thiểm Tây, Cam Túc, Hà Nam, Sơn Tây… cư dân địa
phương đào hang trên vách đất tự nhiên, và thường nối liền mấy hang với nhau,
trong hang lát gạch đá, làm thành nhà hang. Nhà hang tránh lửa, tránh tiếng ồn, mùa
đông thì ấm mùa hè thì mát, tiết kiệm đất đai, ít tốn công lại kinh tế, kết hợp hữu cơ
giữa cảnh tự nhiên vớ
i cảnh sinh hoạt, là hình thức kiến trúc hoàn mỹ tuỳ nơi mà vận
dụng linh hoạt, thể hiện sự thiết tha và quyến luyến của mọi người đối với đất hoàng
thổ.
Trang phục
Sườn xám (hay còn gọi là Xường xám) là trang phục truyền thống nổi tiếng của
thiếu nữ Trung Quốc. Xuất hiện lần đầu tiên dưới thời nhà Thanh và nhanh chóng
được các thiếu nữ đón nhận và trở
thành biểu tượng của thiếu nữ Trung Hoa.
Sườn xám lúc đó là kiểu cổ cao tròn ôm sát, ống tay hẹp, bốn mặt vạt đều xẻ,
có khuy nối các vạt lại với nhau kèm theo thắt đai lưng, chất liệu vải thường là da
thuộc và chỉ có những thiếu nữ con nhà quý tộc, địa chủ hoặc những thương gia mới
mặc.
Theo thời gian và văn hóa phương Tây tràn vào cách thiết kế cũng như chấ
t liệu
của Sườn xám cũng thay đổi nhiều với chiều hướng gọn gàng hơn, hấp dẫn hơn 6m
sát người nhằm tôn lên các đường cong và vẻ đẹp của phụ nữ. Và cho đến ngày nay
trên đường phố Trung Quốc đặc biệt ở thành phố Thượng Hải những thiếu nữ thướt
tha với những bộ Sườn xám hiện đại nhưng không kém phần truyền thống, hấp dẫn
nhưng cũng rất kín đáo.
Từ những năm đầu thế kỉ hai mươi, Sườn Xám có sự thay đổi khá nhiều về mặt
kết cấu,ví dụ như: cổ dựng, chỉ có hai bên vạt áo xẻ, ôm sát thân, tay áo có thể liền
hoặc rời thân. Và bắt đầu từ những năm hai mươi, Sườn Xám xuất hiện dần dần trên
đường phố Thượng Hải rồi lan sang Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu… Sau đó do

nh hưởng của nền văn hóa phương tây Sườn Xám đã có một vài đổi mới so với thời
Mãn Thanh: Cổ áo có thể cao hoặc thấp, ống tay lúc hẹp lúc loe, vạt áo dài ngắn tùy
sở thích mỗi người.

Xem chi tiết: tim_hieu_van_hoa_trung_quoc


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét