Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong họat động cho vay tiêu dùng tại hội sở ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
- Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ được
xác định cụ thể trong hợp đồng tín dụng. Cho vay có thời hạn được phân chia
thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay đến 12
tháng.
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến 60 tháng.
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên 60
tháng trở lên.
d. Phân chia theo đối tượng tham gia qui trình cho vay:
Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
Cho vay theo cách này sẽ hạn chế được người vay sử dụng tiền sai mục đích,
thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ. Đối với các công ty bán
lẻ, ngân hàng sẽ mua lại các khế ước hoặc các chứng chỉ nợ phát sinh và còn lại
trong thanh toán.
Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay mà Ngân hàng cấp vốn trực tiếp
cho người có nhu cầu, người đi vay cũng trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân
hàng.
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG
1.2.1. Định nghĩa
Cho vay tiêu dùng được định nghĩa là một khoản tín dụng được trao cho
khách hàng để sử dụng với mục đích cá nhân (mục đích tiêu dùng), thường có
rủi ro cao và dựa trên ý chí và nguyện vọng trả nợ của khách hàng. Khách hàng
thường phải trả tiền hàng tháng.
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
5
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
Như vậy, tuy không có một định nghĩa chuẩn, nhưng ta có thể rút ra đặc
trưng của một món vay tiêu dùng, đó là:
- Món vay được sử dụng với mục đích tiêu dùng
- Khoản vay có rủi ro cao
- Thường được trả hàng tháng cho đến khi đáo hạn
Trong lịch sử, các ngân hàng không thích cho vay đối với cá nhân và hộ gia
đình do tính rủi ro cao của nó. Tuy nhiên, có một số lý do buộc các ngân hàng
phải phát triển mạnh mẽ hoạt động cho vay này.
1.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Trên góc độ của Ngân hàng, Cho vay tiêu dùng thường có các đặc điểm sau:
• Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu tiêu
dùng tại thời điểm hiện tại nhưng chưa có khả năng thanh toán.
• Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh.
• Qui mô khoản vay: Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối nhỏ so
với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có thể có giá trị
lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân
hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có
một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu
(so với vay kinh doanh, có thể chủ đầu tư vay toàn bộ số tiền cần thiết
cho dự án) Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên Ngân
hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay,
căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng.
• Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại là rất lớn do đối tượng của
loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng
đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao,
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
6
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
người dân càng có nhu cầu vay Ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức
sống. Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lượng các khoản vay tiêu
dùng sẽ càng nhiều.
• Thời hạn vay: Các khoản cho vay tiêu dùng thì thời hạn thường là ngắn
và trung hạn do món vay có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao đối với Ngân
hàng. Tuy nhiên, đối với cho vay bất động sản lại thường có thời hạn dài
do người dân phải tích lũy thu nhập một thời gian tương đối mới có thể
đủ tiền trả Ngân hàng.
• Nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là
thu nhập của người đi vay, do đó Ngân hàng thường xem xét mức thu
nhập thường xuyên của khách hàng để quyết định xem có cho vay không.
Đây cũng là một điểm khác biệt so với cho vay kinh doanh -nguồn trả nợ
chủ yếu của món vay này là lợi nhuận khi thực hiện phương án kinh
doanh đó.
• Lãi suất. Khi vay tiền, khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất mà
họ quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng, thời gian được giải ngân
và khả năng trả nợ của mình. Nguyên nhân chủ yếu là người tiêu dùng
thường coi vay mượn là công cụ để đạt đươc một cuộc sống thoải mái
hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tình trạng khẩn cấp hoặc
để tạo ra lợi nhuận.
• Rủi ro. Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao. Sau đây là
một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.
o Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ
và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo
cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
7
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản
vay cho dù có khả năng thanh toán.
o Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại
của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất
việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng
tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là rủi ro
khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế
được thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án.
o Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế. Khi nền
kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay
ngân hàng nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất
nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng.
• Chi phí: Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn
nhất trong danh mục cho vay của Ngân hàng. Do trong cho vay tiêu dùng
số lượng món vay nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng mỗi khoản
vay số lượng lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho công
việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định
cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau
khi cho vay. Mặt khác, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản
lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối
với khách hàng cá nhân, thông tin về tình hình tài chính thường không
công khai minh bạch như ở các công ty lớn. Tất cả những điều này kiến
chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cao hơn so với các loại hình
cho vay khác.
• Lợi nhuận: Lợi nhuận của cho vay tiêu dùng thường cao do cho vay tiêu
dùng có rủi ro cao, chi phí cao và tâm lý người vay “kém nhạy cảm với
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
8
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
lãi suất”. Các khoản vay tiêu dùng thường được định giá cao, đến mức
mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỉ lệ tổn thất tín dụng phải
tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không
mang lại lợi nhuận.
• Tính chu kì: Khác với các khoản vay thương mại, nhu cầu phát sinh theo
chu kì kinh doanh lặp đi lặp lại, trong cho vay tiêu dùng, người vay
thường ít vay nhiều lần.
1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
a. Căn cứ vào mối quan hệ giữa ngân hàng và người tiêu dùng
Căn cứ vào quan hệ giữa ngân hàng và người tiêu dùng, người ta phân
chia ra làm 2 hình thức là Cho vay tiêu dùng trực tiếp và cho vay tiêu dùng gián
tiếp.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức Ngân hàng trực tiếp cho vay và
cũng trực tiếp thu nợ từ người tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng trực tiếp thực hiện
theo sơ đồ sau:
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng vay
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán
lẻ
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
Ngân hàng Công ty
bán lẻ
Người tiêu
dùng
5
4
2
3
9
1
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho Ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp giúp giảm rủi ro của Ngân hàng do Ngân hàng
có thể toàn quyền quyết định việc cho vay hay không đối với khách hàng dựa
trên những tiêu chí của Ngân hàng. Mặt khác khi khách hàng quan hệ trực tiếp
với Ngân hàng thì có nhiều khả năng khách hàng sẽ sử dụng các dịch vụ khác
của Ngân hàng như mở tài khoản tiết kiệm, dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền…
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng mua
các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch
vụ cho người tiêu dùng. Như vậy, cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức Ngân
hàng thương mại tài trợ cho các hãng bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng
để họ bán hàng trả góp cho người tiêu dùng.
(1). Ngân hàng và công ty bán lẻ kí hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng,
Ngân hàng đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền
bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.
(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.
Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(4) Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
Ngân hàng Công ty bán lẻ
Người tiêu dùng
6 3
2
1
5
10
4
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có những ưu điểm như sau: Giúp Ngân hàng
tiếp cận được với đối tượng có nhu cầu vay cao, tiết kiệm được chi phí liên
quan đến việc thẩm định và đánh giá khách hàng(do có sự trợ giúp của phía nhà
bán lẻ), gia tăng uy tín và mở rộng địa bàn hoạt động. Tuy nhiên, Cho vay gián
tiếp cũng sẽ làm tăng rủi ro của khách hàng do Ngân hàng không thể tiếp xúc
trực tiếp với người tiêu dùng, nhân viên bán lẻ không được đào tạo về chuyên
môn xét duyệt khoản vay có chất lượng cao. Sự kết hợp đồng thời giữa 3 bên:
Ngân hàng, người bán lẻ và Khách hàng cũng đòi hỏi một sự phối hợp nhịp
nhàng và một hợp đồng chặt chẽ về trách nhiệm các bên.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua 3 phương
thức. Các phương thức phân chia này chủ yếu dựa trên mức độ liên quan của
công ty bán lẻ đối với những rủi ro mà Ngân hàng sẽ phải gánh chịu. Ở mức cao
nhất, công ty bán lẻ sẽ cam kết thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ các khoản nợ
nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho Ngân hàng. Đây là
phương thức an toàn nhất đối với Ngân hàng. Theo phương thức thứ hai, trách
nhiệm thanh toán của công ty bán lẻ đối với Ngân hàng chỉ có giới hạn, phụ
thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận. Phương thức thứ ba thì Ngân
hàng sẽ phải chịu toàn bộ rủi ro: sau khi bán các khoản nợ cho Ngân hàng, công
ty bán lẻ không còn trách nhiệm trong việc chúng có được hoàn trả hay không.
Chỉ những công ty bán lẻ rất được Ngân hàng tin cậy mới áp dụng hình thức
này. Ngoài ba phương thức trên, nếu người tiêu dùng không trả được nợ thì
ngân hàng có thể thanh lý tài sản bằng cách bán trở lại cho công ty bán lẻ phần
nợ mình chưa được thanh toán.
b. Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
11
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngưòi đi
vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn
nhất định trong thời hạn cho vay.
Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Là khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia
đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời hoặc mua hàng hoá có giá trị không
lớn và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó Ngân
hàng cho phép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một
hạn mức tín dụng nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc
được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.
c. Căn cứ vào biện pháp đảm bảo tiền vay
Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó khách
hàng cầm cố hoặc thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình (thường là bất động
sản hoặc động sản có giá trị lớn) để đảm bảo cho khoản vay. Trong trường hợp
xấu nhất, khách hàng không trả được nợ thì Ngân hàng có thể phát mại tài sản
đảm bảo để hạn chế tổn thất
Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là cho vay chỉ dựa trên uy tín và khả
năng trả nợ của khách hàng vay, không căn cứ vào tài sản đảm bảo.
d. Căn cứ vào mục đích vay
Cho vay mua bất động sản: Là các khoản cho vay nhằm mục đích mua mới
hoặc sửa chữa, xây dựng nhà ở hoặc đất đai. Qui mô trung bình của một món
vay tài trợ đối với bất động sản thường lớn hơn so với qui mô trung bình của
món vay thông thường, kỳ hạn dài hơn và độ rủi ro cũng cao hơn.
Cho vay tiêu dùng thông thường
Cho vay du học: Là khoản cho vay đối với thân nhân của những người đi du học
nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho người đi du học (tại chỗ hoặc nước ngoài)
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
12
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
Cho vay mua xe hơi: Là khoản cho vay đối với cá nhân có nhu cầu mua ô tô
phục vụ cho công việc hoặc nhu cầu cá nhân.
Cho vay hỗ trợ tiêu dùng khác: Là các khoản vay để phục vụ cho các mục đích
đa dạng khác như chữa bệnh, cưới hỏi, đi du lịch…
1.2.4. Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng
a. Đối với Ngân hàng: Trước hết, cho vay tiêu dùng giúp Ngân hàng nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn. Như trên đã phân tích, cho vay tiêu dùng có chi phí cao
nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn nhiều trên đồng vốn bỏ ra so với
các hình thức cho vay khác. cho vay tiêu dùng cũng giúp ngân hàng thu hút
thêm khách hàng sử dụng các hình thức dịch vụ khác. Thông thường khi cho
vay tiêu dùng, Ngân hàng thường có ràng buộc khách hàng phải chuyển tiền
hoặc sử dụng trả lương qua tài khoản tại Ngân hàng … Tuy nhiên, khách hàng
cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ Ngân hàng cá nhân tại Ngân hàng
mình đã có quan hệ tín dụng. Đây cũng là điều kiện tiên quyết giúp Ngân hàng
nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập với xu thế quốc tế.
b. Đối với người tiêu dùng: cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng nâng cao
chất lượng cuộc sống, có thể tiêu dùng trước khi tích luỹ đủ tiền để mua hàng
hoá đó.
c. Đối với nhà sản xuất: Tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể mua hàng hoá
nhiều hơn và nhanh hơn là đã giúp nhà sản xuất bán được sản phẩm, quay vòng
vốn nhanh hơn, mở rộng sản xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên. Đây cũng là
nguyên do khiến càng ngày càng nhiều nhà sản xuất mong muốn hợp tác với
Ngân hàng để mở rộng cho vay tiêu dùng.
d. Đối với toàn bộ nền kinh tế: Sức cung và sức cầu của một nền kinh tế đều
tăng là dấu hiệu của một nền kinh tế năng động hơn và có dấu hiệu khởi sắc.
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
13
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Techcombank
1.3. NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TIÊU DÙNG.
1.3.1. Khái niệm
Xét một cách tổng quát, cạnh tranh được hiểu là khi hai hay nhiều đối thủ trên
thị trường tìm các biện pháp để tìm kiếm và thu hút khách hàng, gia tăng thị
phần của doanh nghiệp trên thị trường nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận. Trong
lĩnh vực ngân hàng, khả năng cạnh tranh là một chỉ tiêu rất tổng hợp, có liên
quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ khác biệt và chỉ rõ lợi thế
cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu, đồng thời phải làm cho
khách hàng thấy được lợi ích thực tế từ những sản phẩm dịch vụ đó. Khả năng
cạnh tranh của một ngân hàng cũng được biểu hiện cụ thể qua thị phần của
Ngân hàng đó trên thị trường.
1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh trong hoạt động
cho vay tiêu dùng của NHTM.
1.2.2.1. Môi trường vĩ mô.
Môi trường vĩ mô bao gồm các tác nhân nằm ngoài sự quản lý của Ngân
hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới toàn bộ hoạt động của
Ngân hàng. Những thay đổi và xu thế của môi trường vĩ mô có thể tạo ra những
cơ hội hoặc gây ra những hiểm họa đối với Ngân hàng.
Có 6 yếu tố môi trường vĩ mô:
• Môi trường dân số bao gồm các nhân tố về: tỉ lệ tăng dân số, những thay
đổi về cấu trúc dân số, xu thế di chuyển địa dư dân cư, chính sách dân số
của vùng, khu vực hay quốc gia. Đây là một yếu tố quan trọng, bởi nó
không chỉ tạo thành nhu cầu và kết cấu nhu cầu của dân cư về dịch vụ
Nguyễn Thị Bình - Tài chính doanh nghiệp 44A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét