Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Thăng Long – kẻ chợ. Thế kỷ 17, Phố Hiến

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
Đô thị cổ Việt Nam hình thành xuất phát từ ý đồ chủ quan của nhà nước.
Phần lớn các đô thị Việt Nam mang chức năng đô thị hành chính. Nhà
nước tìm địa điểm xây dựng các trung tâm hành chính, từ đó đô thị ra đời.
Trong quá trình tồn tại nảy sinh các chức năng khác chính trị, văn hoá dẫn
đến sự tập trung hành chính, quân đội, tập trung dân cư, nảy sinh các nhu cầu
tiêu thụ, xuất hiện các chức năng kinh tế, văn hoá, xã hội.
Có những đô thị không tuân thủ theo những chức năng này, nhiều đô thị
hình thành tự phát: như Phố Hiến.
Các đô thị hình thành rất sớm, phát triển liên tục.
Các thành thị Việt Nam được hình thành khai sinh nhất nước từ cổ đại
đến hiện đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
Đô thị Phố Hiến là một trong các đô thị cổ Việt Nam được khởi nguồn từ
thế kỷ 15.
Đô thị Phố Hiến hình thành từ trung tâm thế kỷ 15. Giữa thế kỷ 18 bắt đầu
sự suy tàn hệ thống đô thị là những đô thị ven sông.
Phố Hiến là đô thị lớn thứ 2, là đô thị đàng ngoài, là một trung tâm buôn
bán trao đổi hàng hoá trong nước và quốc tế. Đó là sự tập trung các nguồn hàng
về đây để trung chuyển lên Thăng Long kẻ chợ và các địa phương khác. Vì thế,
cư dân Phố Hiến phản ánh tính chất hội tụ nhiều nguồn gốc ở trong nước cũng
như ở nước ngoài.
Hệ thống phố phường nó cũng có nét giống với Thăng Long – kẻ chợ.
Thế kỷ 17, Phố Hiến là một đô thị sầm uất.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN NỘI DUNG
• Vị trí địa lý:
Phố Hiến ngày nay thuộc địa phận thị xã Hưng Yên. Xưa kia, Phố Hiến
nằm sát bên bờ tả ngạn sông Hồng, nhưng do phù sa bồi đắp nên ngày nay đã ở
cách sông khoảng chừng 2 km. Theo dòng sông, Phố Hiến cách Hà Nội 55 km.
Trước đây, từ Thăng Long xuôi thuyền xuống Phố Hiến mất khoảng 2 ngày,
ngược dòng lên Kinh Đô mất 3 ngày.
Vị trí của Phố Hiến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tuyến giao
thông đường thủy thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình nằm trong vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Các nhà địa chất chia châu thổ Bắc Bộ thành 3 vùng tương
ứng với ba thời kỳ thành tạo lớn: Thượng châu thổ với đỉnh của các triền sông là
Việt Trì; Trung châu thổ với đỉnh là Cổ Loa và hạ châu thổ với đỉnh là Phố Hiến
- Hưng Yên, từ đó các nhánh sông trải ra vùng đồng bằng như những chiếc nan
quạt. Bằng đường thuỷ, từ Phố Hiến có thể liên lạc tới hầu hết các địa phương
thuộc các trấn Sơn Nam, Hải Dương, An Quảng. Phố Hiến là nơi trung chuyển,
cửa ngõ án ngữ hoặc thông thương củamọi tuyến giao thương đường sông từ
vùng biển Bắc Bộ đi sâu vào đất liền tới Kinh thành Thăng Long, qua các tuyến
sông Đáy, sông Hồng, sông Thái Bình. Vị trí này được thể hiện rõ trên Bản đồ
dòng chảy Sông Đàng Ngoài từ Cacho (Hà Nội) ra đến biển do một nhà hàng hải
người Anh vẽ vào thế kỷ 17.
Trong chuyến du hành đến Đàng ngoài Việt Nam năm 1688, một nhà
hàng hải người Anh tên là William Dampier đã nhắc đến hai cửa sông chính từ
biển Đông vào Đàng Ngoài là cửa Rokbo và cửa Domea. Cửa Rokbo là cửa
sông Đáy, cửa sông lớn nhất kể từ phía Nam, trong các thư tịch cổ còn mang tên
Cửa Đại, Cửa Đại Ác hoặc Cửa Liêu. Tên Rokbo là biển âm của Độc Bộ, tên
đoạn hạ lưa sông Đáy thông ra biển, ngược lên sông Vị Hoàng (thuộc Nam
Định), ăn thông vào sông Hồng. Vào thế kỷ 17, cửa sông này tương đối nông, độ
nước sâu không quá 17 bộ (khoảng 3,648 m), nhưng đáy là một lớp phù sa mềm,
nên rất tiện lợi cho các thuyền nhỏ. Cho đến khoảng giữa thế kỷ 17, đó là lối vào
chính của các thuyền mành Trung Quốc và Xiêm La ngược sông lên bỏ neo ở
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phố Hiến. J.B. Tavernier trong Du ký năm 1679 gọi là “Cua Dang” và nhận xét:
“Tất cả những tàu lớn đều phải dừng lại ở cửa này, không thể vào đường sông
lớn Kẻ Chợ, vì nó đã bị bồi đầy cát từ vài năm nay”. Đại Nam nhất thống chí
cũng ghi: “Cửa Liêu là cửa biển trọng là cửa biển trọng yếu ở Bắc Kỳ, sau vì cát
bồi lấp, thuyền ghe không thông”. Các tác giả phương Tây còn nhắc đến một
tảng đá trên đó khắc hàng chữ lưu niệm “Baron 1680” ở ven bờ sông Đáy,
chứng tỏ vào thời điểm đó, thương nhân Samuel Baron đã đi qua nơi này.
Samuel Baron là con lai cảu một phụ nữ Việt Nam với Giám đốc thương điếm
Hà Lan ở Đàng Ngoài Hendrik Baron, sau đó nhập quốc tịch Anh và làm nhân
viên cho Công ty Đông Ấn Anh.
Cửa sông thứ hai, cửa Domea, nơi các tàu thuyền từ biển Đông – nhất là
các tàu phương Tây có trọng tải lớn - thường hay vào, chính là cửa Thái Bình.
Trong chuyến du hành của mình, William Dampier viết: “Các tàu buôn phương
Tây thường nhờ hoa tiêu dẫn theo một luồng nước giữa hai dải cát ngoài cửa
sông, tiến ngược qua hạ lưu sông Thái Bình, tới bỏ neo tại một thị trấn có tên
Domea cách cửa sông khoảng chừng từ 20 – 28 km” (có nhiều khả năng đây là
làng An Dụ, xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng). Từ đó, dùng thuyền
ngược lên theo sông Luộc tới Phố Hiến. Cửa sông Domea chính là cửa sông
Đàng Ngoài (Tonkin River) nổi tiếng trên các bản đồ và trong thư tịch cổ
phương Tây thế kỷ 17 – 18 với tư cách là tuyến giao thương quan trọng nhất của
người châu Âu tại khu vực miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ này. Sông Đàng
Ngoài là một phức hợp sông, bao gồm sông Hồng chảy từ Hà Nội đến Phố Hiến,
sông Luộc và hạ lưu sông Thái Bình thuộc Hải Phòng ngày nay.
Cùng với các tuyến giao thương đường sông, các tuyến giao thương ven
biển đã nối liền Phố Hiến với các thị trường xa hơn. Từ thời nhà Trần (1226 –
1400), các thương nhân người Hoa ở Xích Đằng đã có những mối liên hệ với
các cảng Hội Triều (Thanh Hoá), Càn Hải và Hội Thống (Nghệ An). Thế kỷ 17-
18, các quan hệ thương mại giữa Phố Hiến và vùng Sơn Nam với các phố cảng
miền Trung và Đàng Trong thông qua các khách buôn nước ngoài càng được
tăng cường, như các bến đò Phụ Lễ (Nghệ An), Phù Trạch (Hà Tĩnh) và xa hơn
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
là Thanh Hà (Thuận Hoá), Hội An (Quảng Nam). Cuối cùng, cùng với các liên
hệ giao thông nội địa trong các thế kỷ 17-18, qua hai hệ thống sông Đàng Ngoài
và sông Đáy, Phố Hiến còn bắt nhịp với các tuyến giao thương quốc tế ở biển
Đông như: Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam á, cũng như với các
nước phương Tây…
• Sự ra đời của Phố Hiến
Phố Hiến có một lịch sử khá sớm và lâu dài, nhưng thời kỳ hưng đạt nhất
của nó là vào khoảng thế kỷ 17.
Trong giai đoạn tiền Phố Hiến, ngày từ thế kỷ 10, các nhà nghiên cứu đã
từng lưu ý đến vùng Đằng Châu phía bắc thị xã Hưng Yên ngày nay. Vùng này
vốn là lãnh địa của sứ quân Phạm Phòng Ất (Phạm Bạch Hổ), đến thời Tiền Lê
là thực ấp của Lý Công Uẩn.
Thế kỷ 18, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên diệt Tống, một số kiều
dân Trung Quốc tị nạn đã kéo sang Việt Nam, lập nên làng Hoa Dương (hàm ý
những Hoa kiều tị nạn thờ Dương Quý Phi). Vùng này về sau bao gồm các xã
Mậu Dương, Lương Điền và Phương Cái. Cùng lúc đó, một số người Việt từ
nhiều địa phương khác nhau cũng dần dần đến sinh sống tại địa điểm tụ cư này
để buôn bán và làm ăn.
Có nhiều khả năng Phố Hiến xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 15.
Khi đó, trong công cuộc cải cách hành chính của mình, vua Lê Thánh Tông
(1460-1497) đã chia nước thành 12 đạo Thừa tuyên. ở mỗi Thừa tuyên có lập
một ty Hiến sát sứ trong coi việc kiểm sát trong đó có việc kiểm sát các thuyền
bè đi lại trên sông. Người dân đã lấy tên Phố Hiến để đặt cho khu phố chợ trước
đây mà nay có thêm lị sở của ty Hiến sát sứ đặt ở đấy.
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 17, Phố Hiến mới trở thành một đô thị sầm
uất, nổi tiếng trong cả nước, một trung tâm chính trị – kinh tế có nhiều mối giao
lưu quốc tế. Lúc này, ở Phố Hiến có lị sở của trấn thủ xứ Sơn Nam, ty Hiến sát
sứ Sơn Nam, các trạm tuần ty kiểm soát thuyền bè trong ngoài nước, một đoạn
sông tấp nấp các thuyền bè đi lại và đỗ bến, những chợ phố đông đúc, các thợ
thủ công và thương nhân người Việt, người Hoa, Nhật Bản và phương Tây. Sách
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đại Nam nhất thống chí của Quốc sứ quán triều Nguyễn có chép: “Cung cũ
Hiến Nam ửo địa phận xã Nhân Dục, huyện Kim Động là lị sở trấn Sơn Nam
đời Lê, phàm người nước ngoài đến buôn bán thì tụ tập ở đây, gọi là Vạn lai
triều, phong vật phồn vinh, nhà ngói như bát úp”.
Địa điểm Hiến ty Sơn Nam chủ yếu đặt ở địa phận thị xã Hưng Yên ngày
nay. Nhưng trong lịch sử, so chính sách của từng triều vua và do sự chuyển dòng
của sông Hồng, địa điểm này có thể đã thay đổi nhiều lần từ bên này sang bên
kia sông. Tấm bia dựng năm 1625 ở chùa Hiến (tên chữ là “Thiên ứng tự”) cho
biết trấn lị Sơn Nam đóng ở Hoa Dương và đã di chuyển đi chỗ khác. Đặc biệt,
theo tấm bia dựng năm 1682 do Vũ Công Đạo soạn và được tìm thấy ở thôn
Tường Lân, xã Trác Văn, huyện Duy Tiên (Hà Nam), thì năm 1644, chúa Trịnh
Tráng đã lệnh cho dân thôn Tường Lân được miễn lao dịch vì đã phục vụ cho
Trấn thủ Sơn Nam. Sau đó, trong 40 năm lịch sử đã nhiều lần chuyển đi nơi
khác. Tới năm 1679, Hiến sát sứ Sơn Nam lúc đó là Phan Tự Cường lại cho
dựng lị sở mới ở thôn Tường Lân. Tấm bia mô tả: “Chánh đường xây ở giữa hai
bên bờ có nhà cửa của quan quân. Dân chúng tụ tập đến giúp đỡ, thợ thuyền đua
khoé … tường xây bao bọc xung quanh lị sở lộng lẫy, hành lang rộng …”.
Cùng với Hiến ty, các triều đình phong kiến có đặt ra những trạm tuần ty,
kiểm soát thuyền bè, có thể ở cả hai bên bờ sông. Theo sách Lịch triều hiến
chương loại chí của Phan Huy Chú thì trạm Lãnh Trì ở sát Phố Hiến về phía bắc
thuộc huyện Kim Động (tả ngạn sông Hồng). Nhưng theo sách Các tống trấn xã
danh bị lãm lại thuộc huyện Phú Xuyên (hữu ngạn sông Hồng) có hai cửa phụ:
một ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên); một ở Lạc Tràng (Kim Bảng, Hà Nam
ngày nay). Trên bản đồ dòng chảy sông Đàng Ngoài từ Hà Nội ra đến biển do
một nhà hàng hải Anh vẽ vào thế kỷ 17, ngoài địa điểm Phố Hiến ở bên tả ngạn
được ghi là “Thành phố ở đó người Anh có một thương điếm”, thì cũng đánh
dấu một địa điểm tụ cư hoặc một lị sở đáng chú ý ở phía đối diện ở bên kia (hữu
ngạn) sông Hồng.
II. Đặc điểm diện mạo Phố Hiến thế kỷ XVII - XVIII.
1. Quy mô:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài sự tồn tại của một lị sở trấn thủ Sơn Nam như một hạt nhân chính
trị, một ty Hiến sát sứ Sơn Nam đóng vai trò một trạm hải quan tiền cảng, Phố
Hiến trong lịch sử chủ yếu mang diện mạo của một đô thị kinh tế. Kết cấu của
nó bao gồm một bến cảng sông; một tập hợp chợ; khu phường phố và hai
thương điếm phương Tây (Hà Lan và Anh).
a, Bến cảng sông:
Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng - đoạn sông Nhị
Hà chảy sát Phố Hiến. Đoạn sông này sau bị cát bồi lấp, đến nay đã ở cách thị xã
Hưng Yên khoảng 2 km. Sự thuận tiện của Phố Hiến là ở chỗ đây là nơi trung
chuyển và là điểm tụ hội cảu những đoạn sông từ biển Đông vào tới Kinh thành
Thăng Long như tuyến Sông Đàng Ngoài, nhiều tuyến sông khác.
Bến cảng Phố Hiến là nơi các tàu thuyền ngoại quốc lưu đỗ để là thủ tục
kiểm soát và xin giấy phép đi tiếp tới Kinh đô. Các thuyền mành Trung Quốc,
Xiêm La và châu Á khác thường đi thẳng từ biển Đông qua các cửa sông tới Phố
Hiến rồi ngược lên Thăng Long. Các tàu buôn phương Tây có trọng tải nặng hơn
thường bỏ neo tại một địa điểm cách biển không xa được gọi là Domea (Đò Mè)
rồi dùng thuyền nhỏ và vừa chuyển lên Phố Hiến. Tuy nhiên, cũng có khi các
tàu phương Tây lên tận Phố Hiến, thậm chí Thăng Long – Kẻ Chợ. Năm 1637,
khi thương nhân Hà Lan Karel Hartsinck tới Phố Hiến đã gặp nhiều tàu thuyền
Bồ Đào Nha đi lại trên sông, chở đầy tơ sống. Năm 1644, thuyền trưởng
Anthonio Van Brouckhorst, người Hà Lan, đã cho tàu của mình lên tận Kẻ Chợ.
Hay, năm 1672, tàu Zant của Công ty Đông ấn Anh đã đi suốt dọc sông Đàng
Ngoài. Nhật ký của Công ty Đông ấn Anh cũng đã ghi lại trong hơn 10 năm
(1672 – 1683), đã có khoảng 30 chuyến tàu phương Tây cập bến tại Phố Hiến,
gồm cả tàu Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh. ậ phía bắc Phố Hiến, bến Xích Đằng là
một bến đò quan trọng, nhất là đối với việc buôn bán nội địa. Theo Đại Nam
nhất thông chí, bến Xích Đằng có bốn bến đò: Kệ Châu, Quan Xuyên, Nhân Dục
và Phương Trà. Bên kia sông lại có trạm tuần ty Lãnh Trì là một trạm tuần lớn.
Đền thờ bà hàng nước ở Xích Đằng kể rằng chỉ nhờ và việc bán nước cho các
khách thương của các thuyền bè qua lại mà bà giàu tới ức vạn. Ở phí nam có bến
Nễ Châu, còn gọi là Bến Mới, có thể là nơi các tàu thuyền phương Tây thường
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đỗ đậu. Địa danh truyền lại “Bến Đá”, “Giốc Đá” có thể đó là di vật của các
thương điếm phương Tây ngày trước. Những người Việt và khách thương Trung
Hoa thời đó gọi chung Phố Hiến là “Vạn Lại Triều”, có nghĩa “bến nước mà từ
đó các tàu thuyền sau khi được phép sẽ đi vào triều đình (ở Thăng Long)”. Điều
đó nói lên vai trò quan trọng có tính quyết định của bến cảng ở Phố Hiến, tính
chất thương cảng đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội của Phố Hiến.
b, Chợ:
Cùng với bến cảng sông là một các khu chợ khá sầm uất. Chợ Vạn ở bến
Xích Đằng là một chợ sầm uất nổi tiếng trong dân gian. Chợ Hiến (tức chợ Nhân
Dục) bên cạnh lị sở Sơn Nam là chợ chính, theo Đại Nam nhất thống chí, đây là
“ chợ lớn nhất trong tỉnh hạt”. Phía dưới lại có chợ Bảo Châu, bên cạnh bến Nễ
Châu. Những chợ này đã vượt khỏi khuôn khổ những chợ địa phương để chở
thành các chợ liên vùng. Thuyền bè từ Thăng Long - Kẻ Chợ và các trấn gần xa
trong nước cũng như nước ngoài đã đến đây buôn bán, trao đổi hàng hoá. Một
số thương nhân đã trở nên giàu có từ việc buôn bán trong các chợ này.
c, Khu phường phố:
Khu phường phố là khu định cư của người Việt và các kiều dân ngoại
quốc (chủ yếu là người Hoa) sản xuất và buôn bán với tính chất cố định ở Phố
Hiến. Dựa theo các văn bia ở chùa Hiến (1709) và chùa Chuông (1711), Phố
Hiến thời đó có khoảng 20 phường, có thể kể ra sau đây:
- 9 phường có tên chỉ địa vực: Cựu đê thị (phường đê cũ); Ngoại đê
thị (phường ngoài đê); Thuỷ đê nội thị (phường trong đê); Hà khẩu thị (phường
cửa sông); Hởu bi thị (phường Sau bia); Thuỷ giang nội thị (phường trong kênh
sông); Thuỷ giang ngoại thị (phường ngoài kênh sông); Vạn mới thị (phường
bến mới); Cửa cái phường.
- 7 phường sản xuất hàng thủ công nghiệp: phường đồ gỗ, phường
nhuộm vải, phường Bát Chén, phường thuộc da, phường Nón hoa, phường Hồ
sơn thiếp.
- 4 phường buôn bán nông thuỷ sản: phường hàng thịt, phường hàng
cá, phường bán rau, phường bán tre nứa.
Qua các bi ký, có thể đọc được 13 phố và 32 tên cửa hiệu buôn bán như
các Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường,… Nổi tiếng và nhộn nhịp nhất
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
là các phố do các thương gia Hoa kiều cư trú và buôn bán. Theo Đại Nam nhất
thống chí: “hai phố Bắc Hoà thượng và Bắc Hoà hạ đời Lê có dinh Hiến Nam,
nhà ngói như bát úp, là nơi người Trung Quốc tụ hội buôn bán”. Phố Nam Hoà
đối diện với phố Bắc Hoà, cũng do người Trung Quốc ở. Năm 1688, du khách
Trung Quốc đến với Phố Hiến đã mô tả như sau: “Người ta thấy ở đây những
phố buôn bán, con số có đến hàng mấy chục, được gọi là Thiên triều nhai hay
phố người Trung Quốc. Thực vậy, người Trung Hoa ở đây đã được người ta tôn
kính gọ là Thiên triều. Và các Hoa kiều cũng vậy, được gọi là người của Thiên
triều. Đấy là một thông lệ truyền thống”.
Diện mạo của PHố Hiến trong cùng năm đó cũng được nhà hàng hải
người Anh mô tả như sau: “Đó là một thành phố khá lớn, có độ 2000 nóc nhà
nhưng dân cư phần lớn là những người nghèo và lính tráng, họ đóng giữ một
đồn binh ở đấy, dù rằng không hề có tường luỹ, thành quách hoặc súng lớn gì
cả. Đây là một đường phố thuộc các thương nhân Trung Quốc. Vài năm trước
đây, đại bộ phận trong số họ đã sinh sống ở Kẻ Chợ, cho đến khi họ phát triển
thành đông đúc quá, đến nỗi bản thân những người bản xứ cũng bị họ lấn át.
Nhà vua nhận thấy điều đó bèn ra lệnh cho phải rời khỏi nơi đây, cho phép họ có
thể sống ở bất kỳ nơi nào khác nhưng không phải ở Kinh thành. Một số lớn họ
đã ở lại đây suốt từ khi đó. Những thương nhân này, mặc dù đã có lệnh cấm, vẫn
thường xuyên lên Kẻ Chợ mua bán hàng hoá nhưng không được phép thường trú
ở đó”.
d, Các thương điểm phương Tây.
Trong thế kỷ 17, có hai thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở
PHố Hiến: thương điếm Hà Lan (1637-1700) và thương điếm Anh (1672-1683).
Đây là văn phòng đại diện kiêm nhà kho của các công ty Đông Ấn của Hà Lan
và Anh. Công ty Ấn Độ của Pháp cũng được phép thành lập một thương điếm ở
Phố Hiến vào năm 1680, nhưng trên thực tế đã không có hoạt động gì đáng kể.
Đây là một quần thể kiến trúc được xây bằng gạch, nằm ở phía dưới Phố Hiến,
quãng gần thôn Nễ Châu và Vạn Mới
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thế kỷ 17, các thương nhân Hà Lan và Anh đã cho đào một con kênh từ
sông Hồng vào tới các thương điếm cho thuyền bè thuận tiện đi lại, hai bên bờ
có đắp đê con. Con kênh này cũng nối các thương điếm phương Tây với một
đầu là cảng sông và một đầu là khu phố châu á (tức Phố Khách), hơn nữa còn có
thể là một phương tiện cung cấp nước sinh hoạt cho khu thương điếm.
3. Các công trình kiến trúc văn hoá:
Phố Hiến là đô thị của các thương gia người Việt và ngoại quốc, vì vậy nó
mang những nhu cầu tâm linh văn hoá của nhiều cộng đồng người khác nhau,
thể hiện qua những công trình kiến trúc. Có thể nói, đã có một thời trong lịch sử
mà Phố Hiến đã là một đo thị đa văn hóa và mang dáng dấp quốc tế.
Phố Hiến xưa bắt đầu từ cái tên cổ - Hiến Nam mà hôm nay chúng ta thấy
tên ấy ở ngôi chùa cổ và Đằng Châu mà tướng quân Phạm Bạch Hổ cho dân
khai phá, mở mang, đến thế kỷ XIII có thêm cư dân người Hoa đến lập làng gọi
là làng Dương Hoa và họ dựng đình thờ Quách Du - viên quan nội thị triều Tống
đến Hiến Nam, tôn ông làm Đương Cảnh Thành hoàng. Mộ ông vẫn giữ được ở
phía sau đình. Đến thăm "Đông đô hội quán", chúng tôi càng thấy rõ sự phát
triển của cộng đồng người Hoa ở phố Hiến với 40 dòng họ. Ngoài người Hoa,
phố Hiến còn có thương nhân của các nước châu Âu (Anh, Pháp, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Hà Lan) và châu á (Nhật Bản, Trung Quốc, Java, Malaysia). Họ
lập thương diếm, buôn bán, trao đổi hàng hoá rồi xuôi theo sông Hồng ra biển.
Vì vậy, Phố Hiến đã trở thành cảng của Thăng Long. Dừng chân ở chùa
Chuông, ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XV và được trùng tu cuối thế kỷ
XVII - đầu thế kỷ XVIII, có kiến trúc đẹp nhất Phố Hiến, không bị lai yếu tố
kiến trúc của người Hoa, chúng tôi như đi vào thế giới cảu cõi Phật. Chùa được
kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc với hàng chục pho tượng ở gian Tam
bảo, Tả vu, Hữu vu diễn lại các tích Thập điện Diêm vương. Đặc biệt nhất là 18
pho tượng La Hán ở đây khác hẳn so với chùa Tây Phương (Hà Tây) và chùa
Láng (Hà Nội). Bàn tay tài hoa của nghệ nhân đã chạm khắc những nét tuyệt mỹ
để thổi vào mỗi pho tượng một linh hồn đầy thế sự, biểu cảm trên vẻ mặt, đôi
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mắt, đôi tay bắt quyết, các nếp áo hết sức giản dị, sinh động, gần gũi với người
dân trong cuộc sống mà mà không cao vời xa xôi trong thế giới tâm linh.
Dù đã là "thị" có thương nhân và thợ thủ công chuyên nghiệp, nhưng dân
Phố hiến vẫn giữ tín ngưỡng như dân các vùng cửa sông, cửa biển, thờ Quan
Âm Nam Hải và Thánh Mẫu họ Dương (nhà Tống). Ngoài sân đền, ba cây đa -
xanh - si cùng chung một gốc toả tán khổng lồ che kín sân càng tôn thêm vẻ u
tịch của đền. Sự hoà quyện giưa thiên nhiên và giá trị lịch sử văn hoá trong một
không gian thiêng liêngđêm lại cảm quan của cái đẹp và cái thiện là nét nổi bật
trong toàn bộ phong cảnh kiến trúc - mỹ thuật mà các di tích ở Phố Hiến còn giữ
lại được đến ngày nay. Đó thực sự là một kho báu vô giá cần phải được gìn gữ
và bảo tồn nguyên trạng trong quá trình trùng tu sắp tới. Văn Miếu tỉnh Hưng
Yên là nơi thể hiện tập trung nhất văn hiến xứ Sơn Nam Hạ. Năm 1939, vua
Minh Mạng đã cho xây dựng Văn Miếu trên nền cũ của chùa Xích Đằng. Tam
quan cao sừng sững lợp ngói ống, cổng chính được xây hai tầng, tám mái, uy
nghiêm. Chúng tôi bị thu hút ngay từ đầu bởi đôi nghê dá chầu hai bên cổng và
hai hàng cây gạo có lẽ đã 200 năm tuổi, thân mốc trắng. Tám tấm bia đá trong
nhà bia ghi tên 214 vị thi đỗ đại khoa (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) của
tỉnh Hưng Yên, trong đó có những danh nhân nổi tiếng như Đào Công Soạn, Lê
Hữu Trác, Chu Mạnh trinh đi trên Phố Hiến, chúng tôi thật sự vui mừng thấy
phố cổ - cảng thị thứ nhì ở Đàng Ngoài đang hồi sinh sau hai thế kỷ chìm trong
giấc ngủ quá dài. Chiều sâu văn hoá của đất Đằng Châu - Hiến Nam xưa, từ
Phạm Bạch Hổ đến Đinh - Lý - Trần - Lê hiẻn hiện trên các di tích trường tồn
qua mưa nắng, bình lửa đã và đang toả rạng.
Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin Hưng Yên vui mừng cho chúng tôi biết:
"Sở đã lập dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn
hoá - lịch sử của Phố Hiến trình Bộ văn hoá - thể thao và du lịch duyệt vào năm
2008. Trong quy hoạch tổng thể, Phố Hiến sẽ được trùng tu trong phạm vi trên
1.800ha. Các hạng mục di tích đã được phân chia thành 3 giai đoạn để đầu tư
kinh phí trùng tu, tôn tạo. Rồi đây, du khách sẽ được thăm thương cảng Phố
Hiến với những thương điếm của Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc theo
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phong cách kiến trúc thế kỷ XVII. Anh phấn khởi "khoe": Thị xã Hưng Yên mới
được Chính phủ phê duyệt lên thành phố (loại III). Đó là điều kiện rất thuận lợi
cho chúng tôi trùng tu và tôn tạo các di tích PHố Hiến cổ trong những năm tới,
từ đó bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong đời sống kinh tế - xã hội, đẩy
mạnh du lịch, văn hoá. Cầu Yên Lệnh và Triều Dương như hai cánh tay khổng
lồ tiếp sức mạnh, nối Hưng Yên với các tỉnh Nam Hà, Thái Bình, Hải Dương,
Hải Phòng. Năm 2007, sản xuất công nghiệp đã chiếm 42,8% trong cơ cấu nông
nghiệp - công nghiệp - dịch vụ của tỉnh. Các khu công nghiệp Như Quỳnh, Phố
Nối 1 và 2, Minh Đức 1 và 2, Vĩnh Khúc, Thăng Long 2 đã và đang đi vào hoạt
động; 76 dự án với tổng số vốn đầu tư 4,3.000 tỷ đồng và 152 triệu USD sẽ mở
ra chân trời mới cho thành phố Hưng Yên phát triển trên bước đường CNH-
HĐH". Vui với những biến chuyển mới của Phố Hiến, nhưng tôi vẫn băn khoăn
về việc phục dựng những ngôi nhà cổ của người Hoa và nhất là cảng thị khi
sông Hồng đã chuyển dòng rất xa so với vị trí cũ thế kỷ XVII. Rất tự tin, anh trả
lời ngay: "Chúng tôi sẽ phải tìm trong thư tịch cổ để xem kiến trúc, phải mời
người Hà Lan, Nhật Bản tư vấn cho chúng tôi khi dựng lại thương điếm xưa.
Mặt khác, những ngôi nhà cổ của người Nhật, người Trung Hoa ở phố cổ Hội
An sẽ giúp ích chúng tôi trong việc tạo dựng lại di tích. Mong rằng Hưng Yên sẽ
nhận được sự giúp đỡ tích cực, có hiệu quả của nhà nước với Phố Hiến cổ - di
tích cấp quốc gia".
Mong sao trong quá trình trùng tu và tôn tạo, vốn văn hoá vô giá đó
không bị "bay đi ít nhiều" dẫn tới việc xâm hại di tích văn hoá như đã từng diễn
ra ở một số nơi. Một Phố Hiến cổ đang bừng tỉnh trong lòng thành phố Hưng
Yên trên đường phát triển với những toà nhà khang trang, những cơ sở kinh tế -
văn hoá - du lịch mọc san sát trên những con phố mới thoáng mát, lộng gió sông
Hồng.
Nổi bật là cách phong cách kiến trúc Việt Nam và phong cách kiến trúc
Trung Hoa (với sắc thái vùng Phúc Kiến, phía nam Trung Quốc), thấp thoáng có
phong cáhc kiến trúc châu Âu (nhà thờ Gô-Tích Phố Hiến). Nhiều khi, các
phong cách kiến trúc đó pha trộn lẫn nhau. Tại Phố Hiến tổng cộng có tới 60 di
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tích lịch sử văn hóa. Những kiến trúc tôn giáo của người Việt ở Phố Hiến gồm
nhiều loại hình như đền, chùa, đình, miếu Có thể kể đến những công trình nổi
tiếng như đền Mây ở Xích Đằng (thờ tướng quân Phạm Phòng Ất), đền Ngọc
Thanh ở Nễ Châu (thờ vợ thứ của Lê Hoàn), đền Trần (thờ Trần Hưng Đạo), đền
Ủng (thờ Phạm Ngũ Lão) Các chùa lớn ở Phố Hiến đã để lại nhiều công trình
kiến trúc tôngiáo như đền Mẫu (thờ Dương Quý Phi), đền Thiên Hậu (thờ Lâm
Tức Mặc), Võ Miếu (thờ ba anh em Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương
Phi)
Nhà thờ Kitô giáo ở Phố Hiến là một nhà thờ cổ, xây dựng từ thế kỷ 17
theo kiểu Gô - tích, chưa rõ lai lịch, tương truyền là do các giáo sĩ Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha xây. Mặt khác, du ký du ký của William Dampier lại nói đến
hai vị giám mục người Pháp ở Phố Hiến lúc đó đã cho xây "một ngôi nhà đẹp
nhất thành phố. Đó là một toà dinh thự thấp, mỹ lệ ở đầu phía Bắc thành phố,
cạnh bờ sông. Nó có một vòng tường bao khá cao, có một cổng lớn trông ra mặt
phố, từ hai bên người ta có thể nhìn thấy nhà cửa trại đến tận toà dinh". Không
rõ ngôi nhà này có liên quan gì đến nhà thờ Phố Hiến.
Cũng như các đô thị Việt Nam khác, bên cạnh những kiến trúc băng gạch
ngói, đại bộ phận nhà của dân đều bằng gỗ, tre, nứa lại ở sát nhau. Nhiều vụ hoả
hoạn đã xảy ra. Tài liệu của Công ty đông ấn của anh cho biết: Năm 1673, hàng
trăm nóc nhà ở Phố Hiến đã bị cháy. Lưu trữ của hội truyền giáo đối ngoại ghi
lại vụ cháy ở Phố Hiến tháng 7 năm 1867, "đã thiêu huỷ một nửa thành phố".
a, Cộng đồng cư dân:
Thế kỷ 17-18 trong lịch sử, Phố Hiến là một thành phố đa quốc tịch, trong
đó thành phần chủ thể người Việt và người Hoa. Những kiều dân ngoại quốc
khác ở đây - thường trú, tạm trú - là Nhật, Xiêm La, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,
Pháp
Người Việt
Số cư dân người Việt có quê gốc lâu đời ngay tại Phố Hiến tương đối ít,
phần lớn dân cư ngụ - ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm
ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ. Theo tấm bia chùa Hiến dựng năm 1709,
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đã tới hơn 50 địa phương rải rác khắp miền bắc đã có ngườt tới phố hiến làm
ăn,như các huyện chương đức( hà tây ngày nay), Đường đào (Hưng yên), thủy
nguyên (Hải phòng), Nông Cống Hoằng Hoá(Thanh Hóa), Bố Chính (Quảng
Bình), Thanh Trì, Từ Liêm ( Hà Nội).Bộ máy hành chính có các cơ quan của
trấn Sơn Nam như Thừa ty, Trấn ty, Hiến ty ở Phố Hiến cũng có đồn binh với
nhiều quân sĩ đồn trú, nhưng không hề có thanh luỹ bao bọc xung quanh. Các
nhà nghiên cứu thường gọi Phố Hiến là "một đô thị bỏ ngỏ". Quan chức trị nhậm
Phố Hiến vào thời kỳ thịnh đạt nhất của đô thị này (trong nửa cuối thế kỷ 17) là
Lê Đình Kiên (1620-1704). Ông quê làng Thiết Danh, Thiệu Yên, Thanh Hoá
giữ chức Trấn thủ Sơn Nam trong suốt 41 năm (1664-1704), cho đến khi mất ở
tuổi 84. Công đức ông rạng rỡ, được triều đình tín nhiệm, dân chúng yêu mến,
các khách thương ngoài nể trọng. Sau khi ông mất, nhân dân đã dựng đền thờ
tưởng niệm ông. Trong tấm bia anh linh vương do thương nhân Trung Quốc
người Phúc Kiến là Trần Kế Đào cho dựng khắc ở Phố Hiến ca ngợi lòng trung
của Ngài với vua với nước [ ] Chúng tôi là những thương nhân đến từ xa,
không dám tự coi mình là những thần dân. Nhưng vì đã sống lâu năm ở Việt
Nam, hưởng ân sủng của Ngài, chúng tôi tỏ lòng nhiệt thành sủng ái Ngài".
William Dampier cũng kể về Lê Đình Kiên như sau: "Viên quan trấn thủ ở đây
là một trong những đại thần của quốc gia, luôn có một số lớn quân lính trong
thành phố và những quan chức thuộc hạ mà ông có thể tuỳ ý sử dụng trong bất
cứ trường hợp nào [ ] Viên trấn thủ hoặc đại diện của ông ta đã cấp giấy thông
hành cho mọi tàu bè xuôi ngược, ngay cả đến một chiếc thuyền nhỏ cũng khởi
hành được nếu không có giấy phép". Viên trấn thủ Sơn Nam kế nhiệm Lê Đình
Kiên vào năm 1704 đóng lị sở ở Phố Hiến là Đặng Đình Tướng, người quê làng
Lương, huyện Chương Đức, Hà Tây, có họ hàng thuộc đàng ngoại với chúa
Trịnh. Bia chùa Thiên ứng cho biết Đặng Đình Tướng và vợ là Bùi Thị Khang,
hai vợ chồng đều rất sùng Phật, đã cúng tiền bạc cho nhà sư Châu Thuận và ni
cô Diệu My xây dựng lại đền Linh Hiên ở làng Hoa Dương.
Ngoài hai trấn thủ Sơn Nam, chúng ta được biết thêm tên của 2 viên Hiến
sát sứ ty. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, năm 1670, Hiến sát sứ lúc đó là Lê
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chí Bình đã bị giáng chức vì cớ đốc suất đắp đường để tính việc chưa được rõ
ràng. Còn theo tấm bia ở xóm Dinh (Hà Nam) thì năm 1679, Phan Tự Cường và
Trần Công Sơn đã được bổ nhiệm là Hiến sát và Phố Hiến sát sứ ty Sơn Nam. ít
lâu sau, hai người này đã cho xây trụ sở ty Hiến sát ở thôn Tường Lân.
b, Hoa kiều và Nhật kiều
Bên cạnh cộng đồng người Việt, đông đảo người Hoa đã đến cư trú sinh
nhai tại Phố Hiến. Trước đây, Phố Hiến còn được gọi là Phố Khách, điều đó nói
lên tính trội của yếu tố Hoa trong đô thị này. Người Hoa đến cư trú tại Phố Hiến
từ nhiều địa phương khác nhau trong đó có hai nguồn chính. Thứ nhất là những
người Hoa vượt biển từ Trung Quốc sang, một số là những Hoa kiều di tản tị
nạn - những người trung thành với nhà Tống và sau là nhà Minh - một số là
những chủ tàu thương nhân buôn bán đường dài xuyên địa dương. Đại bộ phận
nhưng người Hoa này có quê gốc ở các tỉnh miền Nam Trung Hoa, đặc biệt ở
các huyện phủ thuộc tỉnh Phúc Kiến (như Tân Giang ). Có những người tuy
quyê gốc ở Phúc KIến nhưng sang làm ăn ở đảo Hải Nam như trường hợp của
htơng nhân Trần Kế Đào, người đã cho dựng bia Anh linh vương ca ngợi công
đức Lê Đình Kiên. Nguồn thư hai là những Hoa Kiều từ Trung Hoa từ lâu đời đã
di cư bằng đường bộ sang Việt Nam, sau đó lại tiếp tục di chuyển đến Phố Hiến.
Trong đó có các Hoa Kiều từ Vạn Ninh (Móng Cái) và Vân Đồn, đặc biệt là ừ
Thăng Long -Kẻ Chợ đã đổ dồn về Phố Hiến.
Địa điểm tụ cư đâu tiên của ngưởi Hoa ở Phố Hiến là Hoa Dương, sau
gộp thêm các xã Hoa Điền, Hoa Cái hợp thành Tam Hoa. Các cửa hiệu của Hoa
Kiều được tập trung ở Phố Khách, phố Bắc Hoà, Nam Hoà; nhiều nhà xây gạch
ngói. Họ xây dựng nhiều đình, đền, chùa, miếu, quang hội thờ các vị nhân thần
người Trung Quốc. William Dampier miêu tả về người Trung Quốc ở Phố Hiến
như sau: "Tất cả họ đều tết bím tóc dài ở đằng sau như phong tục của họ ở trong
nước khi bị Mông Cổ chinh phục". Một số đã lấy vợ người Việt Nam, sau đó trở
thành người Minh Hương.
Tuyệt đại bộ phận người Hoa ở Phố Hiến làm nghề buôn bán. Một số có
cửa hiệu ở các phố Bắc Hoà, Nam Hoà bán các mặt hàng nhập từ Trung Quốc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét