Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hoà mình với công cuộc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào
những thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành ngân hàng đã phải vượt
qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì thế, không
ai khác mà chính hệ thống ngân hàng phải trở thành bàn đạp vững chắc cho nền
kinh tế. Việt nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế đến nay, sản xuất
nông nghiệp phát triển ngày càng mạnh mẽ, từ một nước nghèo thiếu lương thực
Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 2 thế giới về sản xuất lương thực,
các sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch
xuất khẩu. Đạt được những thành tựu đó là nhờ sự đóng góp của ngành Ngân hàng
nói chung và NHN
0
và PTNT nói riêng.
Tuy nhiên, hơn 20 năm đổi mới chưa phải là nhiều, ngân hàng còn phải giải
quyết nhiều khó khăn trước mắt mà một trong những vấn đề nổi cộm là hiệu quả
công tác huy động vốn của ngân hàng hiện nay.
Nhận thức vai trò to lớn của vốn đối với nền kinh tế, tầm quan trọng của vốn
đối với sự phát triển của ngân hàng. Agribank chủ trương nâng cao hiệu quả huy
động vốn với định hướng nâng dần tính ổn định và duy trì mức chi phí hợp lý.
Trong những năm qua các NHTM Việt Nam nói chung và Agribank nói riêng
đã không ngừng cố gắng bằng mọi biện pháp để mở rộng nguồn vốn, nâng cao chất
lượng phục vụ khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình kinh doanh
của NH.
Sau thời gian thưc tập tại NH Thạch Thất em cũng biết được chut ít về tầm
quan trọng của vốn. Vì vậy em xin chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả huy động vốn” làm luận văn tốt nghiệp.
Nguyễn Văn Nghĩa
1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và vai trò về vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại
1.1.1. Khái niệm về vốn của NHTM
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng
cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực
hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi
nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất
định.
Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau:
“ Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực
hiện các dịch vụ kinh doanh khác”.
1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Vốn là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ ( thị
trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trườngvốn dài hạn ). Chính vì
thế, có thể nói: vốn là điểm đầu tiên trong chu kì kinh doanh của ngân hàng. Do
đó, nguồn vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thì ngân hàng
phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động
của mình.
- Vốn quyết định quy mô nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ kinh doanh
khác của ngân hàng.
Nguyễn Văn Nghĩa
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
- Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên
thương trường.
Để có thể mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh có thể đứng vững tồn tại
trong kinh doanh ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị
trường. Uy tín của ngân hàng thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả của
ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao, chứng tỏ vốn khả dụng
của ngân hàng càng lớn. Vì vậy có thể nói khả năng thanh toán của ngân hàng tỉ lệ
thuận với số vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng nói riêng.
Với tiềm năng vốn lớn ngân hàng có thể hoạt động với quy mô ngày càng mở
rộng tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nâng cao vị thế cạnh tranh của
ngân hàng trên thị trường.
- Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng
quan hệ tín dụng. Điều này sẽ giúp thu hút được nhiều khách hàng tham gia vào
quan hệ tín dụng và sẽ làm doanh số hoạt động của ngân hàng tăng nhanh chóng,
ngân hàng sẽ có nhiều thuận llợi trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện để bổ
sung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật và quy mô
của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
1.2. Nội dung và tính chất của các loại vốn trong kinh doanh ngân hàng.
Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:
Vốn sở hữu
Vốn huy động
Vốn đi vay
Vốn khác
1.2.1. Vốn sở hữu
Là những giá trị tiền tệ do NH tạo lập được và thuộc quyền sở hữu của NH.
Nguyễn Văn Nghĩa
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
Do tính chất thường xuyên ổn định nên vốn tự có được sử dụng vào việc mua
sắm TSCĐ như: trụ sở, kho tàng, máy móc, thiết bị để phục vụ cho bản thân NH.
Bên cạnh đó vốn tự có còn được dùng để bù đắp những tổn thất trong kinh doanh,
nếu những tổn thất đó chưa được bù đắp bằng tiền bồi thường của các tổ chức, cá
nhân gây ra. Phần còn lại vốn tự có được sử dụng vào kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời.
1.2.2. Vốn huy động
a. Khái niệm
Là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các khoản tiền tạm
thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân được NH sử dụng để cho vay, đầu tư và các
nghiệp vụ kinh doanh khác.
Vốn huy động không thuộc sở hữu của ngân hàng mà ngân hàng chỉ có quyền
sử dụng trong một thời gian nhất định.
Vốn huy động là thành phần quan trọng trong tổng nguồn vốn.Nó là công cụ
chủ yếu đối với hoạt động kinh doanh NH, vì vậy nó giữ vị trí quan trọng nhất,
quyết định quy mô và khả năng mở rộng kinh doanh của NH.
b. Thành phần của vốn huy động
Tiền gửi tiết kiệm: Là một bộ phận thu nhập của cá nhân, người lao động
chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ tích luỹ tiền một cách an toàn và được hưởng một
số tiền lãi từ số tiền đó.
- Tiền gửi TKKKH: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không
được sử dụng các phương tiện thanh toán để chi trả cho người khác.
- Tiền gửi TKCKH: Là khoản tiền có sự thoả thuận trước về thời hạn gửi và
rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với TGKKH.
Nguồn huy động khác: Phát hành giấy tờ có giá (kì phiếu, trái phiếu, chứng
chỉ tiền gửi )
Nguyễn Văn Nghĩa
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
1.2.3. Vốn đi vay.
Là quan hệ vay vốn giữa NHTM và NHTW, hoặc giữa các NHTM với nhau
hay các tổ chức tín dụng khác.
1.2.4. Vốn khác
Là nguồn vốn được hình thành thông qua việc NHTM nhận làm đại lý, uỷ
thác cho các cá nhân thông qua hoạt động thanh toán.
1.3. Hiệu quả huy động vốn của NHTM
1.3.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn của NHTM là tập hợp những tiêu chí chỉ rõ sự tương
quan giữa chi phí huy động vốn với tổng số vốn huy động trong một thời kỳ.
1.3.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.3.2.1. Chi phí để thực hiện huy động một đơn vị vốn
Chi phí huy động vốn cho thấy cứ huy động được một đơn vị vốn thì cần bao
hiêu đồng chi phí.
=
Tổng chi phí: là tất cả các chi phí mà nguồn hàng bỏ ra trong một kỳ: tiền lãi
trả cho người gửi, chi phí quản lý, lương trả cho cán bộ công nhân viên, chi phí
marketing khác.
1.3.2.2. Hệ số sử dụng vốn
= x100%
* Chỉ tiêu này càng cao càng tốt điều này cho thấy vòng quay của vốn.
1.3.2.3. Hệ số vốn bị rủi ro
= x100%
Nguyễn Văn Nghĩa
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
1.3.2.4. Một số chỉ tiêu chí khác
Ngoài các tiêu chí trên, hiệu quả của công tác huy động vốn còn được đánh
giá qua một số tiêu chí sau:
- Mức độ đa dạng các hình thức huy động
- Mức độ hài lòng của khách hàng
- Thời gian để huy động một số kỳ vốn nhất định.
1.4. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng là tạo ra và cung cấp các dịch vụ
tài chính mà thị trường có nhu cầu. Bất cứ ngân hàng nào mà thường xuyên làm
cho khách hàng thất vọng thì ngân hàng đó khó có khả năng đứng vững trên thị
trường nếu không tìm ra giải pháp để cải thiện được thực trạng đó. Nếu ngân hàng
không đủ vốn mà phải từ chối yêu cầu xin vay của khách hàng thì cũng đồng nghĩa
với sự lãng phí về một khoản tiền gửi và cũng bỏ phí một cơ hội kinh doanh nào đó
trong tương lai với khách hàng do họ đã bị thất vọng và không còn tín nhiệm đối
với ngân hàng đó nữa. Như vậy, việc đưa ra các hình thức huy động phù hợp linh
hoạt là điều rất cần thiết đối với NHTM. Có thể phân loại vốn huy động của ngân
hàng theo các tiêu thức khác nhau:
1.4.1. Theo thời gian huy động
Việc phân loại theo thời gian có thể giúp cho ngân hàng có thể chủ động được
hoạt động tín dụng của mình. Tùy theo kỳ hạn tương ứng mà ngân hàng có thể đề
ra các giải pháp cụ thể để điều chỉnh nguồn vốn của mình.
Vốn huy động ngắn hạn: Là những khoản tiền có thời hạn dưới 1 năm mà
ngân hàng áp dụng để huy động vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ thông qua việc
phát hành các công cụ nợ. Để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, ngân hàng có thể
chia nhỏ từng kỳ hạn thành nguồn 3, 6, 9, 12 tháng với mức lãi suất phù hợp.
Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động
được của ngân hàng. Tuy nhiên do thời gian ngắn hạn nên tính ổn định kém.
Nguyễn Văn Nghĩa
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
Vốn huy động trung hạn: Để phục vụ chủ yếu cho các khoản vay trung hạn,
các NHTM huy động qua phát hành công cụ nợ với các mức kỳ hạn từ 1 đến 5
năm. Do thời gian huy động khá dài cho nên nguồn này không được nhiều sự ưa
chuộng của khách hàng. Vì nguồn này đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của mình, cho nên ngân hàng cần phải thực hiện có hiệu quả các giải
pháp để thu hút được nhiều hơn nguồn vốn này.
Vốn huy động dài hạn: Đây là những khoản tiền mà ngân hàng huy động có
thời hạn từ 5 năm trở lên, được dùng cho các dự án đầu tư dài hạn mang tính khả
thi. Đây cũng là nguồn vốn ổn định mà ngân hàng huy động nhưng ngân hàng cũng
phải trả mức lãi suất cao hơn cho những khoản vốn này.
1.4.2. Theo đối tượng huy động
Vốn huy động từ dân cư:
Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư
trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh
toán. Đây là nguồn vốn có tiềm năng lớn và khá ổn định đối với ngân hàng. Nguồn
vốn này rất đa dạng, vì thế nó có thể huy động dưới nhiều hình thức để phục vụ
mục tiêu phát triển của ngân hàng.
Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ
phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: Khấu hao đã trích nhưng chưa sử dụng đến; Tiền
thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật liệu, trả lương; Các quỹ đầu tư phát triển,
phúc lợi, khen thưởng Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng thời vẫn sinh lời, các
tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá
trình sử dụng vốn, đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các
dịch vụ ngân hàng khác. Khi đó, họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng. Đồng thời
ngân hàng sẽ mở cho các đơn vị các tài khoản tương ứng để thuận tiện trong việc
sử dụng. khoản vốn này phụ thuộc vào các tiện ích của dịch vụ mà NH mang lại
Nguyễn Văn Nghĩa
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
cho khách hàng. Điều này giúp cho việc huy động vốn từ các DN, các TCXH được
gắn liền với việc mở rộng các dịch vụ của NH.
1.4.3. Theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện
nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân
hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:
* Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi:
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại. Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng để ngân hàng thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng
cung cấp rất nhiều loại hình tiền gửi khác nhau và mỗi công cụ huy động tiền gửi
mà ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng. Để gia tăng lượng tiền gửi
trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng
cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động phong phú:
Tiền gửi không kỳ hạn: (tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi phát séc)
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào để đáp ứng nhu
cầu sử dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng
vào bất cứ lúc nào khi khách hàng yêu cầu dù ngân hàng đang gặp khó khăn về
vốn hay thị trường đang không ổn định gây bất lợi cho ngân hàng.
Qua nghiệp vụ này cả khách hàng và ngân hàng cả hai bên sẽ đều có lợi. Đối
với khách hàng, nhờ gửi tiền vào ngân hàng mà thu được lãi tiền gửi, nhưng vẫn có
thể rút tiền bất cứ lúc nào hoặc khi thực hiện các dịch vụ tiện lợi của ngân hàng
như thanh toán bằng chuyển khoản. Còn đối với ngân hàng thì tiền gửi thanh toán
như một khoản nợ mà ngân hàng sẽ phải trả cho khách hàng gửi tiền vào bất cứ lúc
nào họ yêu cầu, nếu chậm trễ hoặc không đầy đủ coi như ngân hàng vi phạm thỏa
thuận và phải chịu phạt theo quy định của luật pháp. Ngân hàng có thể sử dụng loại
tiền gửi thanh toán này để cho vay, tuy nhiên việc cho vay phải có mức độ, phải có
Nguyễn Văn Nghĩa
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ các yêu cầu của khách hàng và chấp hành
quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tiền gửi có kỳ hạn:
Đây là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào ngân hàng có sự thỏa thuận giữa ngân
hàng và khách hàng về lãi suất tiền gửi và thời hạn rút tiền. Thông thường ngân
hàng quy định khách hàng không được rút tiền trước thời hạn; Tuy nhiên do áp lực
cạnh tranh hiện nay các ngân hàng vẫn phải chấp nhận cho khách hàng rút ra trước
thời hạn nhưng người gửi chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất đã thỏa thuận
ban đầu hoặc chịu một mức phạt nhất định tùy thuộc vào chính sách huy động vốn
của ngân hàng và loại tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định và ngân hàng có thể sử
dụng loại tiền gửi này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Do đó để
khuyến khích khách hàng gửi tiền, các ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn
khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Với mỗi kỳ hạn ngân
hàng áp dụng một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc: kỳ hạn càng dài thì
mức lãi suất càng cao và với nhiều điều khoản hấp dẫn khách hàng để tạo sự khác
biệt.
Tiền gửi tiết kiệm:
Là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Khi gửi tiền vào Ngân
hàng, người gửi tiền được nhận một sổ tiết kiệm, đó là chứng từ đảm bảo tiền gửi,
là giấy chứng nhận khách hàng đã gửi tiền vào ngân hàng và người có sổ tiết kiệm
có thể mang sổ này đến ngân hàng cầm cố để vay vốn.
Tiền gửi tiết kiệm cũng có 2 loại đó là: Tiết kiệm có kỳ hạn và tiết kiệm
không có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền tiết kiệm mà khách hàng có
thể rút tiền vào bất cứ lúc nào mà không cần phải thông báo trước cho ngân hàng
với mục tiêu nhờ ngân hàng giữ hộ tiền là chủ yếu. Với tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn ngân hàng chỉ trả cho người gửi tiền lãi suất bằng lãi suất tiền gửi thanh toán.
Nguyễn Văn Nghĩa
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng
Nguồn vốn này mang lại cho ngân hàng nguồn lợi cao hơn vì lãi suất thấp, tuy vậy
nguồn vốn này không ổn định mà thường xuyên biến động.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là nguồn vốn mang tính ổn định cao nên
ngân hàng rất chú trọng huy động nguồn vốn theo hình thức này. Các NHTM Nhà
nước thường đưa ra nhiều loại sản phẩm với các loại kỳ hạn khác nhau như loại 1,
2, 3 tháng đến 1, 2, 3 năm nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn nguồn vốn đầy
tiềm năng này.
Mỗi lần gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngân hàng phải giao cho khách hàng một sổ
tiết kiệm có kỳ hạn, một người gửi nhiều lần thì ngân hàng phải phát hành nhiều sổ
tiết kiệm và người gửi tiền phải lưu giữ và bảo quản nhiều sổ tiết kiệm đó. Đối với
ngân hàng sẽ chi phí cao hơn trong việc in ấn sổ tiết kiệm, khó khăn trong việc
hạch toán và theo dõi; đối với khách hàng thì việc bảo quản cũng không thuận lợi
lại không được mua bán chuyển nhượng trên thị trường đồng thời không được
hưởng các dịch vụ ngân hàng từ tài khoản tiết kiệm này.
* Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay:
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh
doanh đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều
nguồn:
Vay từ các tổ chức tín dụng:
Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị
trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng các
mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay Ngân hàng
Trung ương.
Vay từ Ngân hàng Trung ương:
Khi NHTM xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng
thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là NHTW. Ngân
hàng Trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu. Các NHTM
Nguyễn Văn Nghĩa
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét