Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
WTO rất quan tâm và đã đề ra nhiều biện pháp để xoá bỏ dần các rào cản thương
mại. Chẳng hạn, theo Hiệp định Dệt may của WTO (ATC), mọi hạn chế định
lượng đối với mặt hàng dệt may được xoá bỏ từ ngày 1/1/2005. Gia nhập WTO,
Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích này nếu có mối quan hệ thương mại "như thế nào
đó" đối với các nước thành viên WTO. Đối với thương mại hàng nông sản, các
thành viên WTO cũng đã và đang đưa ra nhiều cam kết về cắt giảm trợ cấp, giảm
thuế và loại bỏ hàng rào phi thuế quan, từ đó mang lại cơ hội mới cho những nước
xuất khẩu nông sản như Việt Nam
2.1.2Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Gia nhập WTO sẽ giúp chúng ta có được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh
và minh bạch hơn, có sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài Gia
nhập WTO cũng là thông điệp hết sức rõ ràng về quyết tâm cải cách của nước ta,
tạo niềm tin cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào làm ăn tại Việt Nam. Ngoài ra, cơ
hội tiếp cận thị trường của các thành viên WTO khác một cách bình đẳng và minh
bạch theo hướng đúng chuẩn mực của WTO, cũng là một yếu tố quan trọng để thu
hút vốn đầu tư của nước ngoài.
2.1.3. Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ
khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Trước
sức ép cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước bao gồm cả các doanh nghiệp nhà
nước, sẽ phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh
tranh cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế
quan cũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phí hợp lý
hơn, từ đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh không những ở trong nước
mà còn trên thị trường quốc tế
2.1.4. Sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Môi trường thương mại quốc tế, sau này nhiều nỗ lực của WTO, đã trở
lên thông thoáng hơn. Tuy nhiên, khi tiến ra thị trường quốc tế, các doanh nghiệp
của nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại, trong đó có cả những
rào cản trá hình núp bóng các công cụ được WTO cho phép như chống trợ cấp,
chống bán phá giá… Tranh thủ thương mại là điều khó khăn mà phần thua thiệt
thường rơi về phía nước ta, bởi nước ta là nước nhỏ. Gia nhập WTO sẽ giúp ta sử
dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức này, qua đó có thêm công cụ
để đấu tranh với các nước lớn, đảm bảo sự bình đẳng trong thương mại quốc tế.
Thực tiễn cho thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động khá hiệu quả
và nhiều nước đang phát triển đã thu được lợi ích từ việc sử dụng cơ chế này.
2.2.THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI RA NHẬP WTO.
Bên cạnh cơ hội, việc gia nhập WTO cùng tạo ra một số thách thức lớn đối với
nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Đó là:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2.1. Sức ép cạnh tranh.
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị
trường dịch vụ… sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên
cạnh tranh hơn. Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nhất
là những doanh nghiệp đã quen với "bầu vú bao cấp" của Nhà nước. Tuy nhiên,
các doanh nghiệp sẽ không có cách nào khác là chủ động và sẵn sàng đối diện với
thách thức này bởi đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển, là chặng đường mà mọi
quốc gia đều phải đi qua trên con đường hướng tới hiệu quả và phồn vinh. Dù
không gia nhập WTO thì thách thức này sớm hay muộn cũng sẽ đến.
Riêng đối với khu vực nông nghiệp, việc gia nhập WTO có thể sẽ mang lại khó
khăn nhiều hơn bởi chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp khó có thể diễn
ra trong một sớm, một chiều. Chính phủ luôn lưu tâm đến yếu tố này trong đàm
phán gia nhập WTO và hy vọng kết quả đàm phán cuối cùng sẽ là một kết quả
chấp nhận được đối với lĩnh vực nông nghiệp.
2.2.2. Thách thức của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển
dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành sản
xuất không hiệu quả có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác có
hiệu quả hơn. Quá trình này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về
mặt xã hội. Đây là thách thức hết sức to lớn. Chúng ta chỉ có thể vượt qua được
thách thức này nếu có chính sách đúng đắn nhằm tăng cường hơn nữa tính năng
động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, cũng cần
củng cố và tăng cường các giải pháp an sinh xã hội để khôi phục những khó khăn
ngắn hạn.
2.2.3. Thách thức của việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành
chính quốc gia
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến
kinh tế - thương mại, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm khi gia nhập WTO.
Trước hết, phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để đảm bảo một
môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập. Sau đó, phải liên tục
hoàn thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy tính năng động và khả năng thích
ứng nhanh, yếu tố quyết định sự thành bại của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bố trí
lại nguồn lực. Cuối cùng, những cam kết mở cửa thị trường của ta là cam kết theo
lộ trình nên tiến trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý sẽ còn tiếp tục diễn ra trong
một thời gian dài.
Một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hoá. Đây là
thách thức to lớn đối với mọi nền hành chính quốc gia. Khi gia nhập WTO, nền
hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công khai hơn và
hiệu quả hơn. Đó phải là một nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của doanh
nghiệp và doanh nhân, coi trọng doanh nghiệp và doanh nhân hơn nữa, khắc phục
"sức ỳ" của tư duy và khắc phục mọi biểu hiện trì trệ, vô trách nhiệm. Nếu không
tạo ra được một nền hành chính như vậy, sẽ không thể tận dụng được các cơ hội
do việc gia nhập WTO đem lại.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2.4. Thách thức về nguồn nhân lực
Để quản lý một cách nhất quán toàn bộ tiến trình hội nhập, hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý, tạo dựng môi trường cạnh tranh năng động và cải cách có hiệu
quả nền hành chính quốc gia, bên cạnh quyết tâm về mặt chủ trương, cần phải có
một đội ngũ cán bộ đủ mạnh xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương. Đây cũng
là một thách thức to lớn đối với nước ta do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế
về kinh nghiệm điều hành một nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước
ngoài. Nếu không có sự chuẩn bị từ bây giờ, thách thức này sẽ chuyển thành
những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Ngoài ra, để tận dụng được cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO và tham gia có hiệu quả vào các cuộc đàm phán trong
tương lai của tổ chức này, chúng ta cũng cần phải có một đội ngũ cán bộ thông
thạo qui định và luật lệ của WTO, có kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán quốc tế.
Thông qua đàm phán gia nhập, ta đã từng bước xây dựng được đội ngũ này, nhưng
vẫn còn thiếu.
CHƯƠNG III: NHỮNG MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VỀ CƠ HỘI
VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM
Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO nhiều cơ hội mới mở ra nhưng đi kèm với nó cũng không ít thách thức,trong
những cơ hội và thách thức này chứa đựng các mặt đối lập và các mặt đối lập này
tạo thành mâu thuẫn biện chứng .Các mâu thuẫn biện chứng này là:
3.1.VÀO WTO CƠ HỘI MỞ RỘNG RA HAY THÁCH THỨC TĂNG LÊN.
Gia nhập WTO nền kinh tế Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường hàng hoá
và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm
và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của
các nước này, không bị phân biệt đối xử. Song đối lập với nó thì hàng hóa các
nước thành viên WTO nhập vào Việt Nam cũng được hưởng chế độ ưu đãi hàng
rào thuế quan bị dỡ bỏ hoặc hạ thấp .Khi đấy hàng hóa của các doanh nghiệp
trong nước phải chụi một sức ép cạnh tranh rất lớn với hàng hóa của nước thành
viên WTO.Trong khi hàng hóa của nước ngoài có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn hàng
hóa của ta với mẫu mã phong phú,chất lượng cao và giá cả thì phù hợp với mức
tiêu dùng của người dân trong nước.Cũng theo đó cơ hội các doanh nghiệp và
người dân có điều kiện tiếp cận, lựa chọn hàng hoá hợp nhu cầu, sở thích của
mình. Điều đó cũng đồng nghĩa với xu hướng sẽ mua hàng nước ngoài nhiều hơn
vì lợi thế cạnh tranh của họ rất cao là giá rẻ, mẫu mã đa dạng, khuyến mãi thường
xuyên.Đó là một thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nước cơ hội
được tiếp cận với thị trường thế giới với một vị trí bình đẳng nhưng đồng thời lại
phải chụi một sức cạnh tranh rất lớn tư việc được tiếp cận đó,hai việc đối lập tạo
thành một mâu thuẫn nó yêu cầu chúng ta phải nhận định đúng đượcbản chất để từ
đó có những biện pháp phương hướng hành đông phù hợp trách tình trạng các
doanh nghiệp phá sản hàng loạt sau hội nhập.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cạnh tranh không chỉ dừng lại ở đó .Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với
nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa
sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh
nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta
do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức
trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh
hơn.Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp
với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc
hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và
thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh
hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới
biến đổi nhanh chóng hay không Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch
xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường
kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không v.v…
Đứng trước những thách thức về cạnh tranh rất lớn đó yêu cầu với mỗi
doang nghiệp trong nước phải có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng sản
phẩm nhưng đông thời cũng phải giảm chi phí trong quá trình sản xuất. Tự do hoá
thương mại đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh
tranh và giá cả hàng hoá và dịch vụ cả ở thị trường trong và ngoài nước. Do đó,
các doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp để giảm chi phí sản xuất và nâng
cao chất lượng hàng hoá dịch vụ. Để giảm chi phí sản xuất doanh nghiệp (đặc biệt
là doanh nghiệp các ngành nghề có giá trị xuất nhập khẩu lớn) buộc phải xúc tiến
đồng bộ nhiều biện pháp như: đầu tư máy móc thiết bị có năng suất cao, hoàn
thiện tổ chức sản xuất, quản lý và tổ chức lao động, sử dụng nguyên vật liệu
mới…Ngoài ra, chi phí lao động với tư cách là một loại chi phí đầu vào, có tác
động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hàng hoá và dịch vụ, do đó đòi hỏi các
doanh nghiệp phải đàu tư vào nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nhằm đáp
ứng yêu cầu.
Nhận thức rằng Việt Nam đang là một nước đang phát triển ở trình độ thấp,
quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn
nhỏ bé.Tham gia hội nhập Việt Nam lại chụi một sức cạnh tranh lại rất lớn nó
cũng yêu cầu Đảng và nhà nước ta phải có những chính sách,biện pháp để giúp các
doanh nghiệp có thể đứng vững sau hội nhập.
Do trên thế giới, sự “phân phối” lợi ích toàn cầu hoá là đồng đều nên những
nước có kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Một bộ phận dân cư được
hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá
sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu
nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội
đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng
kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước phát triển”.
Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn
nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động
mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô
đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực
trước những biến động trên thị trường thế giới.
Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn
thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn
lớn, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách
nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.Như vậy đứng trước sức ép của hội
nhập thì bắt buộc nhà nước ta phải đổi mới cả về cơ chế quản lý cả về trình độ
quản lý của nhà nước như vậy việc hội nhập cũng đem lại cho chúng ta một nền
quản lý mới hiệu quả hơn, tốt hơn.
3.2.VÀO WTO SẴN SÀNG THÀNH NGƯỜI LÀM CHỦ HAY LÀ NGƯỜI
LÀM THUÊ GIÁ THẤP
Khi ra nhập WTO chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội về việc làm,nhiều cơ hội
được tiếp cận với những thành quả cú khoa học kỹ thuật mới,cơ hội tiếp cận
những nghành nghề mới.Tuy nhiên phần lớn lao động của nước ta là lao động thủ
công với trình độ khoa hoc công nghệ thấp,ít có cơ hội tiếp cận những tiến bộ khoa
học hiện đại trên thế giới .Khi ra nhập WTO đương nhiên lượng công ty đầu tư
vào Viêt Nam sẽ tăng lên tức là tạo rất nhiều cơ hội về việc làm cho người lao
động song những yêu cầu về công việc lại không phải là thấp trong khi lao động
của nước ta lại chưa được đào tạo bài bản không đáp ứng được nhu cầu .Tất yếu sẽ
dẫn đến việc lao động của nước ta phải làm thuê với giá rẻ mạt.Nhưng điều đó
cũng bắt buộc chúng ta phải có các biện pháp để năng cao chất lượng nguồn lao
động nó vừa đáp ứng được nhu cầu trong nước,vừa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu
Hơn nữa tham gia WTO tạo ra khả năng di chuyền dễ dàng hơn của lao động
Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, do đó có tác động thúc đẩy phát triển
xuất khẩu lao động. Đặc biệt là nước ta có cơ hội hơn trong mở rộng thị trường
xuất khẩu lao động kỹ thuật sang các nước thành viên WTO như: Mỹ, Canada, các
nước châu Âu…Xuất khẩu lao động chuyên môn, kỹ thuật sẽ có tác động tích cực
đối với kích thích đào tạo nhân lực trên thị trường lao động, các yêu cầu khắt khe
về tiêu chuẩn lao động của thị trường lao động các nước phát triển, là động lực
mạnh mẽ của phát triển nguồn nhân lực nước ta.
Về phía doanh nghiệp thì theo nhận định chung là còn yếu kém:quy mô
nhỏ,vốn liếng ít,công nghệ lạc hậu,năng lực cạnh tranh kém,trình độ quản lý
thấp…Mặc dù được tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại nhưng với bối cảnh
nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam với nhiều ưu thế hơn hẳn
chúng ta liệu các doanh nghiệp của chúng ta có theo kịp được những nhu cầu mới
hay không, theo kịp với trình độ tiên tiến của các nước khác hay không.Vì thế
thách thức với các doanh nghiệp sau hội nhập là không hề nhỏ .
Không chỉ dừng lại ở vậy nó còn gây ra rất nhiều mâu thuẫn .Với những
người có năng lực có trình độ tất yếu sẽ có việc làm ổn định với một mức thu nhập
cao nhưng trái lại thi có nhưng người lai sẽ mất việc làm do không theo kịp thời
thế .Như vậy trong xã hội lại có sự phân chia giàu nghèo mà điều luôn là nguyên
nhân sâu sa đẻ dẫn tới sự phân chia giai cấp và làm nảy sinh mâu thuẫn trong xã
hôi .Đó là điều trái ngược với xã hội xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng
Ngoài ra điều có còn có nghĩa là sẽ có một số đông lao động bị mất việc
làm do không có năng lực và một phần do các doanh nghiệp không cạnh tranh
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được bị phá sản như thế sự phân chia giàu nghèo càng rõ rệt hơn.Nhưng nói như
vậy không có nghĩa là nó chỉ toàn những mặt tiêu cực .Việc đòi hỏi về trình độ và
năng lực cũng đã thúc đẩy nhà nước ta chú trọng đầu tư vào phát triển nguồn nhân
lực đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của đất nước.Và việc được cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác của nước ngoài cũng giúp cho các doanh nghiệp trong
nước ta nâng cao được vị thế cua mình, việc các doanh nghiệp không cạnh tranh
được phải phá sản cũng là một quá trình chọn lọc tự nhiên giúp cho nền kinh tế đất
nước có các doanh nghiệp có sự phát triển bền vững tức là các doanh nghiệp mạnh
.Hiện tượng có nhiều lao động thất nghiệp sau hội nhập cũng đòi hỏi nhà nước ta
phái có những chính sách phúc lợi xã hội thỏa đáng tức là nâng cao tầm quản lý
cua nhà nứơc với các vấn đề xã hội .
Việc hội nhập cũng có một yêu cầu không nhỏ đối với các doanh nhân trong
nước .Nó đòi hỏi họ phải năng động hơn,đầu óc nhạy bén hơn và nhất là phải có
sự hiểu biết nhất định .Như vậy yêu cầu đề ra bắt buộc chúng ta phải thực hiện và
một khi đã được thực hiện thì tức là nước ta có một đội ngũ doanh nhân tiên tiến
hiện đại năng động .Họ sẽ là những người góp phần to lớn vào sự phát triển của
đất nước.
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế
vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó không
biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng
cơ hội của chúng ta. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến
đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta.
Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động,
chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát
triển. Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách
thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách
thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài
hạn rất khó khắc phục. Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự
lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất.
Với thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực
trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và
kết quả của nhiều nước gia nhập Tổ chức thương mại thế giới trước ta, cho chúng
ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua
thách thức. Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá
sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp
mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và
định hướng của chúng ta
CHƯƠNG IV:NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
NÀY CỦA NƯỚC TA
Đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức như vậy Đảng và nhà
nước ta đã có những chủ trương chính sách với nội dung như sau:
4.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình
thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho
việc thực hiện các cam kết. Trước hết tập trung vào;
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
4.1.1 Soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực thi các luật mới ban hành, bảo
đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với nội dung của luật
4.1.2 Xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện
giá thị trường cho mọi loại hàng hoá và dịch vụ. Đối với những mặt hàng hiện còn
áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác định lộ trình thực hiện nhanh giá thị
trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh
4.1.3 Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho
các ngân hàng thương mại thực sự là các đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về các khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả, không có sự phân biệt đối xử về
hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế. Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường
đất đai và bất động sản, tạo bước đột phá trong hoạt động của thị trường này. Cải
cách chế độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế
4.1.4. Xây dựng các biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi
đôi với việc loại bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa
hoá phù hợp với các cam kết của ta trong Tổ chức thương mại thế giớiHoàn thiện
cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra
môi trường cạnh tranh lành mạnh. Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn
vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp với Hiệp định TBT và SPS để bảo vệ thị
trường nội địa và người tiêu dùng;
4.1.5. Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt
các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng của công tác thông tin, dự báo về thị trường, giá cả, quan hệ
cung cầu để xác định các cân đối lớn.
4.1.6.Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm nghiên cứu hình
thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp, và các chính sách an sinh xã hội
4.1.7. Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng
tăng cường tính tự chủ, tự hạch toán. Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh
nghiệp để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp, nhằm phát
triển thị trường khoa học, công nghệ. Có chính sách khuyến khích các doanh
nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi
với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
4.2. Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ
tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh
nghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá và dịch vụ vào kinh doanh.
Việc quản lý xuất nhập khẩu các mặt hàng quản lý chuyên ngành chỉ căn cứ vào
tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện hành nghề, không dùng
giấy phép làm công cụ để hạn chế thương mại.
Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc,
người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị
cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám
sát việc thực hiện. Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý là một
trong những tiêu chí của xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh" và là yêu cầu cấp
bách hiện nay.
4.3. Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, theo yêu cầu quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực. Làm việc này không phải là để tinh gọn tổ chức một cách giản đơn.
Làm việc này là tạo ra tiền đề tổ chức để bảo đảm sự đồng bộ, tầm nhìn liên
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngành, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi các
thiết chế quản l
Trên cơ sở sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành
chính để xây dựng lại hệ thống phân cấp theo những tiêu chí khoa học, bảo đảm
tính tương thích, sự đồng bộ và tính mục tiêu trong các lĩnh vực đã phân cấp. Quan
điểm nhất quán ở đây là: bảo đảm tính thống nhất quản lý và mục tiêu phát triển,
phân cấp mạnh cho địa phương và cơ sở. Vấn đề sẽ được giải quyết ở cấp nào mà
ở đó có đầy đủ thông tin và khả năng thực hiện công việc tốt nhất. Gắn phân cấp
với kiểm tra, giám sát
Đổi mới để phát triển mạnh nguồn nhân lực:Chúng ta thường nói và người
nước ngoài cũng nói: nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động trẻ chiếm 70%
lực lượng lao động. Người Việt Nam cần cù, chịu khó học tập, nhận thức nhanh.
Đây là một lợi thế cạnh tranh. Điều đó đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ thực
trạng nguồn nhân lực nước ta.
Hiện tại, chúng ta chỉ có lợi thế cạnh tranh thực tế trong những ngành nghề
đòi hỏi sử dụng nhiều lao động với kỹ năng trung bình và thấp. Những lĩnh vực có
giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi trình độ cao, chúng ta đang rất thiếu và do đó làm hạn
chế khả năng thu hút đầu tư vào những lĩnh vực này như cơ khí chế tạo, sản xuất
các sản phẩm công nghệ cao, tư vấn thiết kế, tạo mẫu và trong các ngành dịch vụ
có giá trị gia tăng cao Hạn chế này là do những yếu kém, bất cập trong hệ thống
giáo dục của ta, cần phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để khắc phục.
Hướng chính ở đây là:
Chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo đại học thuộc các ngành kỹ thuật -
công nghệ và dạy nghề để huy động các nguồn lực nhằm phát triển và nâng cao
chất lượng đào tạo gắn liền với việc thực hiện đầy đủ cơ chế thị trường trong việc
trả lương cho người lao động Từ quan điểm hệ thống và bảo đảm tính liên thông
trong hệ thống giáo dục - đào tạo từ phổ thông - đại học và dạy nghề, giải quyết
trước việc cải cách giáo dục đại học và dạy nghề. Học tập kinh nghiệm của các
nước có nền giáo dục đại học và dạy nghề tiên tiến để chọn lọc, sử dụng. Trên cơ
sở bảo đảm tính thống nhất trong những nguyên tắc lớn và sự quản lý thống nhất
của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo, phát huy tính tự chủ, bản sắc riêng và
tính cạnh tranh trong đào tạo đại học và dạy nghề. Nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn
cho những ngành nghề cần thiết nhưng tính cạnh tranh thấp.
Khẩn trương xây dựng chiến lược cải cách giáo dục từ nội dung chương trình,
phương pháp giảng dạy, chế độ thi cử ở tất cả các cấp đào tạo.
4.5. Tập trung sức phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng:
Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ hạn chế thu hút đầu tư làm tăng chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng
sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều kiện các hình thức ưu đãi trái với
quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ bị loại bỏ. Vì vậy, phải đặc biệt coi
trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng. Lâu nay nhà nước đã rất chú ý phát triển cơ sở hạ
tầng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn của doanh
nghiệp đầu tư theo phương thức BOT, BT,…, vốn của dân. Khuyết điểm ở đây là
tình trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước phân tán, kéo dài chậm được khắc
phục.Huy động mọi nguồn lực kể cả các nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài
vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
4.6.về nông nghiệp nông thôn và nông dân
Giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng:
Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản
xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, yêu
cầu đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn. Đây là
hướng phát triển quan trọng nhất.
Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành
toàn bộ các nguồn vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để
đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông thôn. Nhà nước hỗ trợ việc xây dựng hệ
thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất
lượng sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hoá lưu thông
trên thị trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn. Giảm mạnh sự đóng
góp của nông dân.
Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất
lượng tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước. Phát
triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện,
xã và hợp tác xã.
Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và
kinh doanh dịch vụ ở nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy quá trình hình thành
các vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và
cung ứng vật tư cho nông dân. Khuyến khích nông dân trở thành cổ đông của các
doanh nghiệp và các hợp tác xã cổ phần, là đồng sở hữu các nhà máy chế biến
nông sản, bảo đảm thu nhập của nông dân và cung cấp ổn định nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến.
Nghiên cứu để hình thành cơ chế gắn việc thu hút lao động trong nông
nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, xuất khẩu lao động với việc chuyển
giao, cho thuê lại ruộng đất để đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất.
4.7. Phát triển các loại hình dịch vụ:
Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao: dịch vụ
tài chính, ngân hàng với nhiều sản phẩm đa dạng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ du
lịch, các loại dịch vụ tư vấn để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân lập doanh nghiệp, lựa
chọn phương án kinh doanh, các dịch vụ nghề nghiệp như kế toán, kiểm toán để
đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công khai, minh bạch
về tình trạng tài chính của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tham gia thị trường
chứng khoán. Nhanh chóng xây dựng hệ thống mã số các loại dịch vụ theo phân
loại của Tổ chức thương mại thế giới. Trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn
chiến lược phát triển dịch vụ.
4.8.Phát triển những lĩnh vực,sản phẩm có lợi thế cạnh tranh,có khả năng
mở rộng thị trường
Việc lựa chọn các ngành và sản phẩm để phát triển phải căn cứ vào các yếu
tố sau đây: (1) lợi thế so sánh dài hạn; (2) quy mô kinh tế đặt trong quy hoạch liên
vùng (để bảo đảm giảm chi phí cố định); (3) dung lượng thị trường (để bảo đảm có
được thị phần và tăng thị phần mà không bị các biện pháp tự vệ, điều tra chống
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
bán phá giá); (4) mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết (để đo sức ép
cạnh tranh của hàng nhập khẩu). Đi đôi với việc phát triển một số ngành, sản phẩm
theo các tiêu chí nêu trên cần hết sức coi trọng phát triển các ngành công nghiệp
hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hoá.
4.9. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích mọi
người đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp,
có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Một nước ở trình độ phát triển thấp như nước ta, lại đang trong giai đoạn
chuyển đổi, tuyệt đại bộ phận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95%), loại
hình doanh nghiệp này thực sự đang là động lực của sự phát triển. Vì vậy, cần có
chính sách hỗ trợ có hiệu quả hơn nữa các doanh nghiệp này.
4.10. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN:
Các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược mặt hàng và chiến lược thị
trường đúng đắn. Trên cơ sở lựa chọn đúng chiến lược thị trường, chiến lược mặt
hàng mà đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý; áp dụng các tiêu chuẩn
ISO, hoàn thiện phương thức kinh doanh; tạo ra bản sắc riêng có, những nét độc
đáo riêng có của doanh nghiệp mình thông qua đó mà thu hút khách hàng, phát
triển thị trường, xây dựng thương hiệu. Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều
dọc và chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng và nhanh chóng hình thành hệ thống
phân phối. Cần nhận thức rằng cạnh tranh và hợp tác luôn song hành trong hoạt
động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trưởng.
Các tập đoàn tư bản tuy cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng cũng sẵn sàng
hợp tác vì lợi ích của chính họ. Doanh nghiệp của ta quy mô nhỏ, vốn ít càng cần
phải tăng cường liên kết và hợp tác. Điều quan trọng là năng lực và bản lĩnh của
người quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải chọn cho được những
người quản trị doanh nghiệp có bản lĩnh và năng lực thực sự.
Kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng, bảo
đảm hiệp hội thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, hỗ
trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, xúc tiến thương
mại, đào tạo nguồn nhân lực. Nâng cao trách nhiệm và đổi mới phương thức hoạt
động của các cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, thiết lập quan hệ bạn
hàng, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch và thu hút đầu tư.
Không thể thực hiện những công việc rộng lớn trên đây trong một thời gian
ngắn. Nhưng phải kiên quyết và kiên trì thực hiện trên cơ sở xây dựng các chương
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét