Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ lợn sau cai sữa bị tiêu chảy và chế tạo thử nghiệm vacxin phòng bệnh

ngắn gọn hơn là S. choleraesuis. Mặc dù hệ thống phân loại mới này không
được công nhận một cách chính thức bởi ủy ban quốc tế về vi khuẩn học hệ
thống, nhưng nó đã được tổ chức y tế thế giới và hiệp hội vi sinh vật học ở
Mỹ chấp nhận sử dụng (Euzéby, 1999[50]).
Vi khuẩn Salmonella được phân lập từ thịt lợn chết bởi bệnh Phó
thương hàn thường gặp ở miền Tây của nước Mỹ là S. choleraesuis var
kunzendorf, S. typhimurium và S. typhisuis (Barnes và Sorensen, 1975[33]).
Trong một vài trường hợp, ở lợn còn tìm thấy S. dublin và S. enteritidis. Hai
serotyp S. dublin và S. enteritidis cũng gặp ở lợn con đang theo mẹ. Những
báo cáo gần đây cho thấy: Ở một số nước như Mỹ, Canada, Anh và Bắc Đài
Loan đã phân lập được S. choleraesuis từ người bị bệnh (Khakhria & Johnson,
1995[57]; Chiu và cs, 1996[41]; Su và cs, 2001[74]). Từ việc tìm thấy vi
khuẩn Salmonella trong động vật ốm, sản phẩm động vật, trong nước và trong
các dụng cụ chăn nuôi , các tác giả đã có những đề xuất về các giải pháp
tổng hợp cần thiết nhằm tránh sự lây lan vi khuẩn trong hệ sinh thái môi
trường để bảo vệ sức khỏe.
Nguồn tàng trữ Salmonella chủ yếu là đường tiêu hoá của người và
động vật mắc bệnh. Một vài loài như S. typhi, S. paratyphi A, S. paratyphi B,
S. paratyphi C chỉ ký sinh ở người. Những loài khác hay gặp hơn như: S.
choleraesuis, S. enteritidis chủ yếu ký sinh ở động vật nhưng cũng có khả
năng gây bệnh cho người.
Do tính chất gây bệnh của vi khuẩn Salmonella không những cho gia
súc, gia cầm, động vật máu nóng, máu lạnh và cả ở trên người nên từ lâu
trong nhân y và thú y, người ta đã quan tâm nghiên cứu các đặc tính sinh học,
yếu tố gây bệnh và các biện pháp phòng và điều trị bệnh do chúng gây ra.
Wilcock và Schwartz (1992)[80] thì tại nước Anh, năm 1972 tìm thấy
vi khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,9%, năm 1973 tìm thấy vi khuẩn
Salmonella trong hạch ruột là 7,3%.
5
Tại Nhật Bản, Asai và cs (2002)[32] cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở
lợn sau cai sữa bị tiêu chảy là 12,4%; lợn vỗ béo là 17,3%; lợn con theo mẹ
4,5%. Tác giả cũng cho biết S. typhimurium được phân lập thấy nhiều nhất ở
lợn sau cai sữa là 72,6%; lợn gần xuất chuồng là 73,8%.
Kishima và cs (2008)[58] đã điều tra tỷ lệ nhiễm và phân bố của vi
khuẩn Salmonella trong phân lợn khỏe mạnh bình thường trên toàn lãnh thổ
Nhật Bản giữa năm 2003 và năm 2005 là 3,1%.
Theo Barnes và Sorensen (1975)[33];Wilcock và Schwartz (1992)[80]:
Ở lợn, cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra, đó là bệnh
Phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S. choleraesuis var kunzendorf và bệnh
viêm ruột mãn tính do S. typhimurium. Ở trâu bò, bệnh chủ yếu do các loài S.
dublin và S. entertidis gây ra. Ở cừu, do S. abortus ovis, S. montevideo, S.
dublin, S. anatum gây ra. Ở ngựa do S. abortus equi gây ra, còn ở gia cầm và
chim do S. pullorum, S. gallinarum, S. typhimurium và S. enteritidis gây ra.
Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để
điều trị bệnh, nhất là với lợn con trước và sau cai sữa. Tuy nhiên, do việc sử
dụng rộng rãi kháng sinh để phòng và điều trị bệnh nên đã xuất hiện các
chủng vi khuẩn Salmonella kháng thuốc (Kishima và cs, 2008[58]).
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu gen kháng
kháng sinh DT104 ở vi khuẩn Salmonella. Chủng đa kháng thuốc S.
typhimurium DT104 được phát hiện lần đầu tiên ở người mắc Salmonellosis
tại Anh vào năm 1980. Sau đó được quan sát thấy cả ở người cũng như vật
nuôi trên khắp thế giới vào những năm 90 và hiện đang là mối quan ngại hàng
đầu đối với sức khỏe cộng đồng. Gen này thường xuất hiện ở các serotyp S.
typhimurium và ít thấy ở các serotyp khác. Một tổ hợp kháng thuốc điển hình
của S. typhimurium DT104 là kháng đồng thời với 5 loại kháng sinh, bao gồm:
Ampicillin, Chloramphenicol, Streptomycin, Sulfonamide và Tetracycline
6
(ACSSuT) (Kishima và cs, 2008[58]). Tuy nhiên, không có chiều ngược lại,
tức là nếu các kết quả xác định lâm sàng cho thấy một chủng vi khuẩn kháng
với cả 5 loại kháng sinh này thì vẫn chưa đủ căn cứ để kết luận là chủng vi
khuẩn này có mang gen kháng kháng sinh DT104 (Kishima và cs, 2008[58]).
Cũng theo tác giả, có 61,5% số chủng thuộc serotyp S. typhimurium có mang
gen DT104.
Selbitz (1995)[72] còn cho biết: “genom” của Salmonella được nghiên
cứu tương đối kỹ. Cho đến nay ít nhất đã chứng minh được 750 gen, trong đó
có 680 gen đã có trong bản đồ gen.
Như vậy, vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra được rất nhiều
các nhà vi sinh vật trên toàn thế giới quan tâm. Mục đích của các nghiên cứu
này nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi
bệnh do Salmonella gây ra ở động vật và ở người.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người
và gia súc cũng đã được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50. Viện Pasteur
Sài Gòn trong những năm (1951-1953) đã phân lập được 6 chủng Salmonella
ở người (4 chủng từ máu, 2 chủng từ nước tiểu). Cũng ở Sài Gòn, trong thời
gian này đã phân lập được 35 chủng từ 360 lợn, trong đó có 23 mẫu là S.
cholereasuis (Đỗ Đức Diên, 1999[7]).
Năm 1989, Nguyễn Thị Nội và cs[19] đã tiến hành điều tra tình hình
nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn ở miền Bắc đã tìm
thấy 37,5% lợn nhiễm Salmonella. Trước tình hình như vậy, nhóm tác giả này
đã nghiên cứu và chế tạo thành công vacxin đa giá Salsco phòng bệnh ỉa chảy
cho lợn con. Vacxin đã được áp dụng để phòng bệnh có hiệu quả ở nhiều trại
chăn nuôi lợn, tỷ lệ lợn bị tiêu chảy giảm từ 30-50%, tỷ lệ lợn chết do tiêu
chảy giảm xuống còn 10-20%.
7
Lê Văn Tạo và cs (1994)[27] đã phân lập và xác định serotyp của vi
khuẩn Salmonella gây bệnh ở lợn, kết quả cho thấy: 50% các chủng phân lập
được thuộc S. choleraesuis; 12,5% S. enteritidis; 6,25% S. typhimurium và số
còn lại thuộc các serotyp khác.
Trần Xuân Hạnh (1995)[11] đã phân lập và giám định vi khuẩn
Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: S. typhisuis ở lợn
bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; S. paratyphi ở lợn
6-16 tuần tuổi là 2,8%. Đặc biệt, vi khuẩn S. choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn
bệnh và 2,8% ở lợn bình thường.
Theo Phùng Quốc Chướng (1995)[2] ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc
bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66%. Tạ Thị
Vịnh và cs (1996)[31] đã kiểm tra 75 mẫu phân lợn khoẻ và 65 mẫu phân lợn
bệnh tại một số vùng thuộc Ba Vì (Hà Tây) và Gia Lâm (Hà Nội) cho thấy:
Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao 30-56% ở lợn khoẻ trong giai đoạn 22-60 ngày
tuổi. Tỷ lệ nhiễm Salmonella ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy cao hơn lợn bình
thường và tăng dần theo lứa tuổi, dao động từ 70-90%.
Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4 cơ
sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs (2000)[21]
cho biết: Tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4 cơ sở
trên là 80%. Đây là điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta.
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001)[13], tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các đàn
lợn, ngoại thành Hà Nội cao nhất là lợn trên 60 ngày tuổi (88,23%), thấp nhất
là lợn từ 1-21 ngày tuổi (73,68%).
Ngoài ra ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella cũng đã và đang
được rất nhiều tác giả quan tâm. Lê Minh Sơn (2003)[25] đã xác định tỷ lệ
nhiễm Salmonella trong thịt lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và
thịt lợn xuất khẩu trung bình 1,42%. Tô Liên Thu (2005)[30] đã xác định tỷ lệ
nhiễm Salmonella của các mẫu thịt gà ở Hà Nội là rất cao: 33% các mẫu lấy
8
tại siêu thị, 40% các mẫu lấy từ chợ. Lò mổ là một mắt xích quan trọng có
nguy cơ cao ô nhiễm Salmonella vào thân thịt sau giết mổ. Trần Thị Hạnh và
cs (2009)[12] đã công bố tỷ lệ nhiễm Salmonella tại các cơ sở giết mổ lợn
công nghiệp và cho kết quả: Chất chứa manh tràng của lợn là 59,18%, ở mẫu
lau thân thịt là 70%, mẫu lau hậu môn 66%, mẫu lau nền chuồng nhốt lợn chờ
giết mổ là 40%, mẫu lau sàn giết mổ là 28%, còn các mẫu nước kiểm tra
không phát hiện Salmonella. Tại các cơ sở giết mổ lợn theo phương thức thủ
công cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở chất chứa manh tràng của lợn chờ giết
mổ là 87,5%, ở mẫu lau thân thịt là 75%, mẫu lau hậu môn là 55%, mẫu lau
nền chuồng nhốt lợn chờ giết mổ là 70%, mẫu lau sàn giết mổ là 80%, mẫu
nước là 50%.
Cùng với quá trình nghiên cứu chi tiết về vi khuẩn, các biện pháp phòng
bệnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có vacxin
phòng bệnh. Nguyễn Văn Lãm (1968)[15] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin
Phó thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc. Hiện
nay, các loại vacxin phòng bệnh Phó thương hàn đã được một số công ty, xí
nghiệp thuốc thú y sản xuất như vacxin nhược độc chủng TS – 177, vacxin có
bổ trợ như vacxin keo phèn hay vacxin nhũ hoá có bổ trợ dầu.
Như vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella một cách toàn diện để từ
đó đề ra biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, giữ gìn vệ sinh an toàn thực
phẩm, bảo vệ sức khỏe con người là một yêu cầu rất cần thiết.
2.2 Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella
Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae.
Giống Salmonella gồm 2 loài: S. enterica và S. bongori đã được phân chia
thành trên 2000 serotyp theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu
trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi các kháng
nguyên vỏ (kháng nguyên K). Gần đây, loài S. enterica đã được phân thành 6
phân loài đó là: S. enterica subsp. enterica, S. enterica subsp. salamae, S.
9
enterica subsp. arizonae, S. enterica subsp. diarizinae, S. enterica subsp.
houtenae, S. enterica subsp. indica. Trong đó phân loài S. enterica subsp.
enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho
người và động vật (Quinn, 2002[68]).
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Bergeys Manual (1994)[37], vi khuẩn Salmonella là những trực
khuẩn ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4-0,6 x 1,0-3,0 µm, bắt màu Gram
âm, không hình thành nha bào và giáp mô. Đa số loài Salmonella có lông
(flagella) từ 7-12 chiếc xung quanh thân (trừ S. gallinarum-pullorum).
Lông giúp cho vi khuẩn có khả năng di động. Lông có hình tròn, dài,
xuất phát từ màng cytoplasma. Do có cấu trúc từ các sợi protein hình xoắn
nên có thể co giãn và di động nên lông của chúng rất khó nhuộm. Nếu nhuộm
bằng phương pháp Haschem (1972) thì có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển
vi điện tử (Lê Văn Tạo, 1993[26]). Lông có tính kháng nguyên và do các gen
mã hóa tổng hợp protein riêng quy định.
Ngoài ra, trên bề mặt màng ngoài của vi khuẩn Salmonella đều có các
cấu trúc sợi nhỏ hơn, còn gọi là Fimbriae hay Pili. Chúng có kích thước
chừng 0,01- 0,03 x 1,0 µm. Số lượng fimbriae trên 1 vi khuẩn có khoảng 250-
400 cái vươn thẳng ra xung quanh bề mặt tế bào. Fimbriae có cấu trúc là
protein và có tính kháng nguyên đặc trưng. Theo Jones và cs (1981)[56]:
Fimbriae tạo cho vi khuẩn khả năng bám dính (adhesion) lên các tế bào biểu
mô ruột và xâm nhập vào lớp niêm mạc.
2.2.2 Tính chất nuôi cấy
Salmonella là vi khuẩn vừa hiếu khí, vừa kỵ khí không bắt buộc, dễ
nuôi cấy. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp là 37
o
C, nhưng có thể phát triển được ở
nhiệt độ từ 6- 42
o
C. Nuôi cấy ở 43
o
C có thể loại trừ được tạp khuẩn mà
Salmonella vẫn phát triển được (Timoney và cs, 1988[76]). pH thích hợp cho
vi khuẩn phát triển là 7,6, tuy nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9.
Khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường BPW (Buffered Pepton Water)
10
và môi trường RV (Rappaports Vassiliadis) sau vài giờ nuôi cấy thấy môi
trường vẩn đục nhẹ, sau 18 đến 24 giờ thấy canh trùng đục đều, trên mặt môi
trường có màng mỏng, đáy ống nghiệm có cặn.
Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật
thú y sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi
trường thạch DHL (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar), sau 24 giờ
nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng (dạng S), có
màu vàng nhạt. Các chủng sinh H
2
S thì giữa khuẩn lạc có màu đen.
Môi trường thạch MacConkey: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn
lạc tròn lồi, trong không màu, nhẵn bóng.
Trên môi trường thạch CHROM
TM
Salmonella, sau 24 giờ nuôi
cấy, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc trơn, tròn, bóng láng (dạng S) và có
màu tím hồng.
Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella
do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống
nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose. Phần
giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H
2
S. Nếu để lâu (quá
24 giờ), màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống
nghiệm (không nhìn thấy màu vàng). Vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch, có khi
đẩy thạch khỏi đáy ống nghiệm (Quinn và cs, 2002[68]).
Trong môi trường LIM (Lysine Indole Motility), vi khuẩn không làm
chuyển màu môi trường, môi trường có màu tím nhạt.
Môi trường Malonate, vi khuẩn không phát triển nên không làm thay
đổi màu môi trường.
2.2.3 Đặc tính sinh hoá
Theo Quinn và cs (2002)[68], giống vi khuẩn Salmonella được chia
thành 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường
nhất định và không đổi. Phần lớn phân loài S. enterica subsp. enterica gây
bệnh cho động vật máu nóng. Chúng lên men và sinh hơi: Glucoza, Mannit,
Mantoza, Galactoza, Dulcitol, Arabonoza, Sorbitol. Cũng ở nhóm này, hầu
11
như các chủng vi khuẩn Salmonella đều không lên men Lactoza và Saccaroza.
Đa số các vi khuẩn thuộc giống Salmonella không làm tan chảy
Gelatin, không phân giải Urê, không sản sinh Indol. Phản ứng MR, Catalaza
dương tính (trừ S. choleraesuis, S. gallinarum-pullorum có MR âm tính). Phản
ứng Oxidaza âm tính. Phản ứng sinh H
2
S dương tính (trừ S. paratyphi A, S.
typhisuis, S. choleraesuis) (Ewing và Edwards, 1970[49]).
Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính
sinh hóa có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là bước không thể bỏ qua khi xét
nghiệm vi khuẩn nói chung và vi khuẩn Salmonella nói riêng.
2.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella
Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh.
Ở nhiệt độ 50
o
C trong 1 giờ, 70
o
C trong 20 phút, 100
o
C trong 15 phút hoặc
ánh sáng mặt trời chiếu thẳng trong 5 giờ có thể diệt được vi khuẩn (Laval,
2000[16]).
Các chất sát trùng thông thường dễ phá hủy vi khuẩn hoàn toàn như:
Phenol 5%, Formon 1/500 diệt vi khuẩn trong 15- 20 phút.
Theo Laval, (2000)[16], vi khuẩn Salmonella sống được lâu trong điều
kiện lạnh, chúng có thể sống trong bột thịt 8 tháng, nhưng ở điều kiện môi
trường có độ pH ≤ 5 chúng chỉ sống được trong thời gian ngắn.
Vi khuẩn Salmonella tồn tại trong chất độn chuồng tới trên 30 tuần, có
thể sống ở trong đất với độ sâu 0,5cm trong thời gian 2 tháng. Ở sàn gỗ, tường
gỗ trong điều kiện ít ánh sáng là 87 ngày, máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt
và cs, 1995[10]). Trong nước tù đọng, đồng cỏ ẩm thấp S. typhimurium có thể
tồn tại trên 7 tháng. Trong xác súc vật chết, Salmonella có thể sống trên 100
ngày, trong thịt ướp muối từ 6-8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1970[22]).
2.2.5 Đặc điểm dịch tễ học của vi khuẩn Salmonella
Vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi, phân bố ở khắp
nơi trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về cách truyền lây của vi khuẩn này
12
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Một đặc điểm dịch tễ quan trọng của
Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc.
Theo Archie Hunter (2002)[14], một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là
gia súc mang vi khuẩn Salmonella nhưng không biểu hiện lâm sàng. Những
con này có thể thải mầm bệnh ra ngoài môi trường trong vài tháng. Tác giả
cũng cho biết cách lây lan như sau: Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn
Salmonella vào trong phân và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm
phân vào thức ăn, nước uống hay chuồng trại gia súc.
Theo Gray và cs (1995)[54] , các lợn nhiễm S. choleraesuis thường biểu
hiện các dấu hiệu lâm sàng từ 36-48 giờ sau khi nhiễm trùng và có 10
3
- 10
6
đơn vị vi khuẩn trong 1 gram phân vào giai đoạn bệnh cao nhất. Cũng theo tác
giả thì phần lớn những lợn nhiễm tự nhiên sau khi khỏi bệnh, có thể loại thải
hoàn toàn vi khuẩn vào giữa 9-12 tuần sau khi nhiễm trùng. Điều này cho thấy
rằng tình trạng mang trùng lâu dài này có thể dẫn tới sự nhiễm khuẩn môi
trường và sự tái nhiễm tiếp theo của những động vật mới đưa vào trại.
Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều cho
rằng: Vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa và có
thể do tiếp xúc. Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không gây
bệnh. Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào máu
và nội tạng gây bệnh. Bệnh Phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa phương,
dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó (Phan Thanh Phượng,
1988[23]; Nguyễn Như Thanh, 2001[28]; Laval, 2000[16]).
Theo Phan Thanh Phượng (1988)[23], tỷ lệ lợn mắc bệnh do Salmonella
gây ra thường tăng lên vào thời kỳ lợn cai sữa, vì lúc đó cơ thể lợn con thay
đổi, dễ nhiễm bệnh. Nguyễn Như Thanh (2001)[28], cũng cho biết: vi khuẩn
gây ra bệnh Phó thương hàn cho lợn con từ 2 – 4 tháng tuổi với tỷ lệ tử vong
khoảng 25%, có khi lên đến 95%; bệnh có thể ở lợn lớn với thể mãn tính và ít
13
gây chết.
Bệnh ít xảy ra ở lợn con trước cai sữa, bởi chúng được bảo hộ nhờ kháng
thể có trong sữa đầu của lợn mẹ. Song nguy cơ nổ ra bệnh tăng dần theo lứa
tuổi, đặc biệt là sau cai sữa, khi mà khả năng miễn dịch chủ động chưa thể bù
đắp kịp thời để thay thế miễn dịch thụ động (Laval, 2000[16]).
2.2.6 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella
Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmoenlla hết sức phức tạp, bao
gồm 3 loại chính:
Kháng nguyên O (O- Antigen): Kháng nguyên thân.
Kháng nguyên H (H- Antigen): Kháng nguyên lông.
Kháng nguyên K (K- Antigen) hay kháng nguyên vỏ.
* Kháng nguyên thân O (O- Antigen)
Kháng nguyên O nằm ở thành tế bào vi khuẩn, có cấu trúc
Lipopolysaccharide (LPS) là thành phần chính cấu tạo nên lớp màng ngoài
của thành tế bào vi khuẩn Gram âm. Kháng nguyên O chịu nhiệt (Heat-stable)
và kháng cồn, bị biến tính khi sử lý bằng formaldehyde. Kháng nguyên O
gồm 2 nhóm chính:
- Polysaccharide không có nhóm hydro, không mang tính đặc trưng của
kháng nguyên và chỉ tạo sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ dạng S
(Smooth) sang dạng R (Rough) và dẫn đến giảm độc lực của vi khuẩn
(Selbitz, 1995[72]).
- Polysaccharide nằm ở ngoài có nhóm hydro quyết định tính kháng
nguyên và đặc trưng cho từng serotyp.
Kháng nguyên O được xem như là một nội độc tố (Endotoxin) mà nó
được cấu tạo bởi nhóm hỗn hợp Glyco- polypeptide có thể tìm thấy ở màng
ngoài của vỏ bọc vi khuẩn.
Theo CIRAD (2006)[43], kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella có
67 loại chính, được chia thành hơn 50 nhóm, số còn lại đóng vai trò phụ.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét