LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp
2.1.1. Vò trí đòa lý
Kiên Giang là một tỉnh nằm ở tận cùng phía Tây Nam Việt Nam, có diện tích
khoảng 626904 ha, dân số 1689000 người (theo thống kê năm 2004). Tỉnh gồm 11
huyện, 1 thò xã và 1 thành phố. Trong đó, huyện Tân Hiệp là một trong những huyện
có nền kinh tế phát triển mạnh của tỉnh, đời sống vật chất được nâng cao.
Huyện nằm dọc theo quốc lộ 80, cách thành phố Rạch Giá 33 km, cách Cần
Thơ 50 km, giáp với huyện Vónh Thạnh – Cần Thơ nên quá trình đô thò hóa của
huyện diễn ra rất nhanh. Nhiều dự án xây dựng ra đời, trong đó có dự án xây dựng
bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp.
Bệnh viện nằm ngay trung tâm của thò Trấn Tân Hiệp, xung quanh bệnh viện
tiếp giáp với khu dân cư:
+ Phía Bắc giáp với xã Mong Thọ- Châu Thành- Kiên Giang.
+ Phía Nam giáp với huyện Vónh Thạnh - Cần Thơ.
+ Phía Đông giáp với khu dân cư Kinh Mới.
+ Phía Tây giáp với quốc lộ 80.
5
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
Bệnh viện ĐK Tân Hiệp tọa lạc tại Khóm B – thò trấn Tân Hiệp – Kiên Giang.
Bệnh viện nằm ở một vò trí thuận lợi về giao thông đường thủy (cạnh sông Cái Sắn,
con Kinh Mới) và giao thông đường bộ (Quốc lộ 80).
2.1.2. Khái quát về bệnh viện
Trước đây, bệnh viện là trung tâm y tế huyện Tân Hiệp, có nhiệm vụ chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân trong huyện và các vùng lân cận.
Bệnh viện được nâng cấp và bắt đầu thi công vào đầu năm 2004 cho đến nay
với tổng diện tích 10500 m
2
, bệnh viện đạt tiêu chuẩn cấp 3. Bệnh viện có quy mô
khoảng 150 ÷180 giường bệnh mỗi ngày.
2.1.3. Tổ chức và nhân lực của bệnh viện
Ban giám đốc: 1 giám đốc, 2 phó giám đốc.
Tổng số cán bộ công nhân viên của bệnh viện là 183 người, với 4 phòng chức
năng và 16 khoa.
− Các phòng chức năng:
+ Phòng tổ chức - hành chánh.
+ Phòng kế toán tài vụ.
+ Phòng y vụ.
+ Phòng bảo hiểm y tế.
− Các khoa gồm: khoa ngoại, khoa nội, khoa cấp cứu hồi sức, khoa đông y, khoa
sản, khoa nhi, khoa nhiễm, khoa mắt, khoa tai mũi họng, khoa răng hàm mặt, khoa
dược, khoa dinh dưỡng, khoa xét nghiệm, khoa X-quang, khoa siêu âm, khoa giải
phẫu.
6
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
2.1.4. Các nguồn gây ô nhiễm
2.1.4.1 Các nguồn phát sinh nước thải
Gồm nước mưa chảy tràn và nước thải sinh hoạt, nước thải điều trò.
a) Nước mưa chảy tràn
Lượng nước thải này sinh ra do lượng nước mưa rơi trên mặt bằng của khuôn
viên bệnh viện và chạy qua khu vực ô nhiễm. Nước mưa có khả năng nhiễm bẩn khi
chạy qua một số nơi như thùng rác đặt ngoài đường, bãi rác và hố rác của bệnh viện…
Thành phần nước mưa trong trường hợp này có khả năng nhiễm các chất gây bẩn và
máng dầu. Tuy nhiên, nếu bệnh viện quan tâm đến vấn đề này và quy hoạch các vò trí
đặt trang thiết bò nói trên một cách hợp lý, không để nước mưa tạt vào thì khi đó nước
mưa vẫn được xem là nước thải quy ước sạch, cho phép xả trực tiếp vào nguồn tiếp
nhận mà không cần phải xử lý.
b) Nước thải sinh hoạt và điều trò
Lượng nước thải này là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Hàng ngày bệnh viện thải ra một lượng nước thải tương đối lớn, mức ô
nhiễm cao, và chứa nhiều vi trùng gây bệnh.
Nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường của bệnh viện được phát sinh ra từ
các nguồn sau:
− Nước thải sinh hoạt của bệnh nhân và thân nhân.
− Nước thải sinh hoạt của khu hành chánh, nghiệp vụ.
− Nước vệ sinh khoa hàng ngày.
− Nước giặt chăn mền, drap, khử trùng, rửa chai, súc rửa các dụng cụ y khoa …
7
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
2.1.4.2 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Các chất thải rắn phát sinh trong quá trình hoạt động của bệnh viện có thể phân
chia thành 4 nhóm chính theo tính chất ô nhiễm và biện pháp xử lý như sau:
+ Nhóm 1: là rác y tế gồm các loại bệnh phẩm vứt bỏ sau những ca phẫu thuật,
các dụng cụ y khoa sau khi sử dụng xong (như ống tiêm, ống chuyền, kim tiêm, vỏ ống
thuốc thủy tinh, chai lọ đựng thuốc…), bông, băng, đàm… Đây là loại chất thải được
đánh giá có mức độ ô nhiễm cao và có chứa nhiều loại vi trùng gây bệnh, dễ gây ra
các tác động xấu đến môi trường và tạo mầm mống cho các dòch bệnh nếu thải bừa
bãi ra môi trường. Loại chất thải này cần phải được thu gom triệt để và tổ chức xử lý
ngay trong bệnh viện bằng các lò đốt chuyên dùng. Lượng chất thải rắn thuộc nhóm
này ước tính bình quân khoảng 100kg/ngày.
+ Nhóm 2: bao gồm các loại rác sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong bệnh
viện và thân nhân bệnh nhân. Ngoài ra còn kể đến các loại bao bì y tế.
+ Nhóm 3: là các loại cặn bùn sinh ra do quá trình xử lý nước thải.
+ Nhóm 4: gồm các loại tro tàn sinh ra sau mỗi quá trình vận hành lò đốt rác.
Với loại rác này cần phải xử lý thích hợp để tránh gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, đặc biệt là lượng rác rò rỉ sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm tại khu
vực.
2.1.4.3 Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, các nguồn chủ yếu có khả năng gây
ô nhiễm không khí là:
+ Nguồn thải từ quá trình hoạt động của lò đốt rác y tế, bao gồm khí thải từ quá
trình đốt nhiên liệu dầu D.O và quá trình cháy của rác y tế.
8
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
+ Nguồn thải từ quá trình hoạt động của máy phát điện dự phòng. Các tác nhân
gây ô nhiễm là các loại khí độc thải ra khi đốt dầu D.O (như CO
x
, NO
x
, SO
x
và bụi
tro).
+ Nguồn thải do hoạt động của các phương tiện lưu thông trên bệnh viện. Tuy
nhiên, do lượng xe cộ được phép lưu thông trong bệnh viện rất nhỏ nên tải lượng ô
nhiễm từ nguồn thải này không đáng kể.
+ Nguồn khí thải từ hệ thống thoát nước và xử lý nước thải chủ yếu là CH
4
, CO
2
,
NH
3
, CH
3
SH, …
+ Khí thải từ khu vực xử lý rác: tại khu vực tồn trữ, phân loại, và xử lý rác.
+ Mùi và dung môi hữu cơ (cồn, ete) bay hơi trong quá trình khám và điều trò
bệnh.
2.1.4.4 Tiếng ồn
Nguồn gây ồn chính trong bệnh viện là:
− Hoạt động của máy phát điện dự phòng.
− Hoạt động của các phương tiện được phép lưu thông trong bệnh viện (xe cứu
thương, xe chở hàng hóa vào kho, xe ô tô…)
− Hoạt động của các loại quạt gió.
− Hoạt động của các loại máy móc thiết bò phục vụ cho hệ thống xử lý nước thải.
− Hoạt động của con người trong bệnh viện.
− Tiếng ồn do xe cộ lưu thông bên ngoài bệnh viện.
9
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
2.1.4.5 Các chất phóng xạ
Chất phóng xạ phát sinh từ các khu vực xạ trò, chụp X-quang, Scanner… có thể
gây nguy hiểm đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh nếu như không có
biện pháp bảo vệ thích hợp.
2.1.5. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
2.1.5.1 Đối với nước thải
Giảm thiểu không để cho nước mưa rửa trôi dầu nhớt và các chất thải rắn trong
bệnh viện.
Xây dựng tuyến mương thoát nước bao quanh khu tiếp nhận, phân loại rác và
dẫn tất cả nước thải rò ró vào hệ thống thoát nước bẩn để đưa đến trạm xử lý tập trung.
2.1.5.2 Đối với chất thải rắn
Để giải quyết vấn đề chất thải rắn, đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ các biện pháp
và công đoạn sau:
Công đoạn thu gom và phân loại: Quá trình phân loại rác phải thực hiện tại
nguồn.
Trong từng phòng bệnh, từng khoa, phòng, ban phải đặt các thùng rác có nắp
đậy với màu sắc khác nhau để phân biệt rác sinh hoạt và rác y tế. Các thùng rác này
được thu gom theo lòch trình nhất đònh (1 lần/ngày). Các loại rác này được cho vào bao
nilon buộc kín trước khi cho vào thùng. Còn đối với bệnh phẩm thì sau ca phẩu thuật
hoặc chữa trò khác đều được vận chuyển đến ngay nơi tập trung rác để thiêu hủy. Khu
tập trung chất thải rắn được bố trí gần lò đốt để thuận tiện cho việc thiêu hủy.
Công đoạn xử lý:
10
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
+ Rác sinh hoạt sau khi đưa vào khu tập trung sẽ được xe rác đến thu gom.
+ Đối với rác thải y tế, sau khi được vận chuyển đến nơi tập trung sẽ được đưa
vào lò đốt.
+ Đối với các loại bùn cặn sinh ra trong quá trình xử lý nước thải sẽ được xe hút
bùn đến hút bỏ đònh kỳ.
2.1.5.3 Đối với khí thải
Ô nhiễm không khí trong quá trình hoạt động của bệnh viện là do khói thải của
lò đốt chứa các chất ô nhiễm là sản phẩm cháy của quá trình đốt cháy nhiên liệu và
rác thải. Các chất này cần được xử lý bằng thiết bò hoạt động theo nguyên lý hấp thụ.
Hiện bệnh viện chưa có thiết bò xử lý khói thải của lò đốt.
2.1.5.4 Đối với tiếng ồn
Nguồn gây ồn chủ yếu của bệnh viện phát ra từ máy phát điện dự phòng. Vì
vậy cần xây dựng kết cấu chống ồn và cách âm cho buồng máy phát điện.
2.2. Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải bệnh viện
2.2.1 Mục đích
Mục đích của quá trình xử lý nước thải là loại bớt các chất ô nhiễm có trong
nước thải đến mức độ chấp nhận được theo tiêu chuẩn quy đònh của môi trường. Mức
độ yêu cầu xử lý nước thải tùy thuộc vào các yếu tố sau:
+ Xử lý để tái sử dụng.
+ Xử lý quay vòng.
+ Xử lý để xả ra ngoài môi trường.
Hầu hết, nước thải được xử lý để xả ra ngoài môi trường.
11
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
Hiện nay, để xử lý nước thải y tế ta có thể phối hợp nhiều phương pháp: cơ học,
hóa lý, sinh học… Mỗi phương pháp đều giúp ta loại bỏ một số thành phần ô nhiễm có
trong nước thải. Việc lựa chọn một phương pháp xử lý hay phối hợp nhiều phương
pháp tùy thuộc vào các yếu tố sau:
Đặc tính của nước thải: cần xác đònh cụ thể thành phần các chất ô nhiễm có
trong nước thải, dạng tồn tại của chúng (lơ lửng, dạng keo, dạng hòa tan…), khả năng
phân hủy sinh học và độ độc của các thành phần vô cơ và hữu cơ.
Mức độ yêu cầu xử lý: chất lượng nước đầu ra phải thỏa mãn một yêu cầu cụ
thể nào đó.
Chi phí xử lý và diện tích đất hiện có để xây dựng trạm xử lý.
Nước thải bệnh viện có nguồn gốc từ các hoạt động khám và điều trò bệnh, từ
các dòch vụ hỗ trợ và nhà vệ sinh. Trung bình mức tiêu thụ cho một giường bệnh là
800 lít/giường/ngày đêm.
Nước thải bệnh viện về cơ bản giống nước thải sinh hoạt, chỉ khác ở chỗ lượng
vi sinh gây bệnh trong nước thải rất cao. Do đó, khi xử lý nước thải bệnh viện, ngoài
việc áp dụng các phương pháp xử lý cơ học, hóa học, sinh học còn phải đặc biệt quan
tâm tới việc khử trùng.
Một số công trình xử lý nước thải bệnh viện là:
Xử lý sơ bộ: nhằm xử lý sơ bộ nước thải, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước
xử lý tiếp theo.
Xử lý bậc 1: gồm các phương pháp xử lý hóa học, hóa lý, vật lý để loại bớt các
tác nhân gây ô nhiễm như pH, SS, độ đục, độ màu, kim loại nặng, cả BOD, COD.
12
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
Xử lý bậc 2: gồm các phương pháp xử lý sinh học nhằm làm giảm nồng độ hòa
tan trong nước thải, có thể phân loại thành quá trình sinh trưởng lơ lửng, quá trình sinh
trưởng bám dính, và nhóm các phương pháp kết hợp cả hai quá trình trong một hệ
thống xử lý.
Xử lý bậc 3: bao gồm các phương pháp xử lý hóa lý, được thực hiện sau khi qua
xử lý bậc 2 nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.
2.2.2 Các phương pháp xử lý nước thải
2.2.2.1 Phương pháp cơ học (vật lý)
Xử lý cơ học nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất không tan ra khỏi nước thải
(các tạp chất vô cơ và hữu cơ). Đây được coi như là bước đệm nhằm đảm bảo tính an
toàn cho các thiết bò và các quá trình xử lý tiếp theo.
Các công trình xử lý cơ học nước thải thông dụng:
a) Song chắn rác (SCR)
Song chắn rác thường đặt trước hệ thống xử lý nước thải hoặc tại các miệng xả
trong phân xưởng sản xuất nhằm xử lý sơ bộ để chuẩn bò điều kiện cho việc xử lý
nước thải sau đó. Nếu ở trạm bơm chính đã đặt SCR với kích thước 16mm thì không
nhất thiết phải đặt nó ở trên trạm xử lý nữa. SCR gồm các thanh đan xếp cạnh nhau,
giữa các thanh đan gọi là khe hở 9 mắt lưới).
Song được làm bằng mắt tròn hoặc vuông (sắt tròn có
φ
= 8 ÷10 mm), thanh
nọ cách thanh kia một khoảng bằng 60 ÷ 100 mm để chắn vật thô và 10 ÷ 25 mm để
chắn vật nhỏ hơn, đặt nghiêng theo dòng chảy một góc 60 ÷ 75
0
.
b) Lưới lọc: loại bỏ các tạp chất rắn có kích cỡ nhỏ hơn, mòn hơn.
13
LVTN: Thiết kế HTXLNT bệnh viện Đa Khoa Tân Hiệp với công suất 140 m
3
/ngày.đêm
c) Bể tách dầu
Nước thải của một số xí nghiệp ăn uống, chế biến bơ sữa, các lò mổ, xí nghiệp
ép dầu… thường có lẫn dầu mỡ. Các chất này thường nhẹ hơn nước và nổi lên trên mặt
nước. Nước sau xử lý không có lẫn dầu mỡ mới được phép cho chảy vào các thủy vực.
Hơn nữa, nước thải có lẫn dầu mỡ khi vào xử lý sinh học sẽ làm bít lỗ hổng ở vật liệu
lọc, ở phin lọc sinh học và còn làm hỏng cấu trúc bùn hoạt tính trong Aeroten.
d) Bể điều hòa
Tùy thuộc vào công nghệ sản xuất của một số ngành công nghiệp, lưu lượng và
nồng độ nước thải thường không đều theo các giờ. Sự dao động lớn về lưu lượng và
nồng độ nước thải dẫn đến những hậu quả xấu về chế độ công tác của mạng lưới và
các công trình xử lý. Do đó bể điều hòa được dùng để duy trì dòng thải và nồng độ
vào công trình xử lý ổn đònh, khắc phục những sự cố vận hành do sự dao động về nồng
độ và lưu lượng của nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất của các quá trình xử lý
sinh học. Bể điều hòa có thể phân loại như sau:
+ Bể điều hòa lưu lượng.
+ Bể điều hòa nồng độ.
+ Bể điều hòa cả lưu lượng và nồng độ.
e) Bể lắng
Dùng để tách các chất không tan ở dạng lơ lửng trong nước thải dựa vào sự
chênh lệch giữa trọng lượng các hạt cặn có trong nước thải. Các bể lắng có thể bố trí
nối tiếp nhau. Quá trình lắng tốt có thể loại bỏ 90 ÷ 95% lượng cạn có trong nước thải.
Vì vậy đây là quá trình quan trọng trong xử lý nước thải.
Để tăng cường quá trình lắng ta có thể thêm vào chất đông tụ sinh học.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét