Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT

Luận văn tốt nghiệp
1.2.1 Chức năng tạo tiền.
Để phục vụ cho lu thông, giúp cho nền kinh tế phát triển, NHNN đa một
khối lợng tiền nhất định vào trong lu thông. Lợng tiền đó phải đảm bảo đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế, nhng lợng tiền cung ứng vợt quá nhu cầu của nền kinh
tế sẽ gây ra lạm phát có hại cho nền kinh tế. Với một lợng tiền cung ứng ban
đầu, thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của hệ thống NHTM đã làm
tăng lợng tiền cung ứng so với ban đầu. Đây là chức năng chủ yếu của NHTM,
chức năng tạo tiền. Và thông qua chức năng này của NHTM mà NHNN với
những công cụ của mình nh dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu có thể thực
hiện các chính sách tiền tệ quốc gia nhằm đa ra một khối lợng tiền phù hợp, ổn
định đợc giá trị đồng tiền.
1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán.
Với hoạt động này của mình, NHTM đã tạo điều kiện cho việc thanh toán
giữa các tổ chức cá nhân đ ợc thuận tiện và đặc biệt là tiết kiệm đợc chi phí
cho họ cũng nh tiết kiệm chi phí cho xã hội. Bởi vì việc thanh toán qua ngân
hàng đợc thực hiện tập trung, chuyên nghiệp và có công nghệ cao. Và cũng qua
hoạt động thanh toán NHTM thu đợc những lợi ích nhất định. Ngày nay hoạt
động thanh toán ngày càng phát triển tại các NHTM. Việc thanh toán không
dùng tiền mặt đợc các ngân hàng khuyến khích.
1.2.3 Hoạt động huy động tiền gửi.
Để có đợc nguồn vốn để thực hiện việc đầu t tín dụng, NHTM đã tiến hành
đã tiến hành huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân c. Việc huy động vốn
này giúp cho NHTM có đủ lợng vốn đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế. Tạo
ra thu nhập cho ngời gửi tiền là một lợi ích mà hoạt động huy động vốn của
ngân hàng mang lại. Những ngời gửi tiền vào NHTM sẽ đợc nhận tiền lãi, tạo
thu nhập cho những khoản tiền nhàn rỗi của họ. Ngày nay để huy động đợc
nhiều tiền gửi, NHTM đã phát triển rất nhiều loại tiền gửi khác nhau: Có kỳ hạn
hoặc không có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm
1.2.4 Hoạt động tín dụng.
Đây là hoạt động chủ yếu của NHTM bởi nó tạo ra thu nhập chính cho
NHTM, duy trì sự tồn tại của NHTM. Đây cũng là hoạt động cơ bản và lâu dài
của NHTM. NHTM dùng những khoản vốn huy động đợc để cho vay đối với
nền kinh tế, nhằm giúp những ngời có nhu cầu có đợc vốn để thực hiện quá
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
5
Luận văn tốt nghiệp
trình sản xuất kinh doanh của mình hoặc đảm bảo các nhu cầu khác. Với việc
cho vay này NHTM đã tạo cho sự phát triển kinh tế đợc thông suốt và hiệu quả.
Bởi nếu không có nguồn vốn vay từ ngân hàng thì rất nhiều doanh nghiệp
không thể tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh đợc. Hầu nh mọi doanh
nghiệp hiện nay đều vay vốn ngân hàng. Bên cạnh đó hoạt động cho vay mang
lại thu nhập cho ngân hàng dới dạng lãi vay. Càng cho vay đợc nhiều thì lãi thu
đợc càng lớn. Tuy nhiên hoạt động tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc
nâng cao các khoản tín dụng là mục tiêu hàng đầu, sống còn trong hoạt động
kinh doanh của mình để vừa đảm bảo có thu nhập cao vừa an toàn, hiệu quả.
1.2.5 Tài trợ hoạt động ngoại thơng
ngày nay khi mà hoạt động thơng mại quốc tế ngày một phát triển, xuất
nhập khẩu giữa các nớc đã diễn ra mạnh mẽ thì đòi hỏi việc thanh toán quốc tế
cũng nh những hộ trợ khác cho thanh toán ngày càng nhiều. Việc đảm bảo
thanh toán cho các doanh nghiệp giữa các nớc đòi hỏi một tổ chức đứng ra phải
có đủ khả năng và uy tín nh NHTM mới đảm trách đợc. Các NHTM giúp cho
các doanh nghiệp có hoạt động đối ngoại thực hiện việc thanh toán đợc hiệu
quả, an toàn và đặc biệt là giảm đợc chi phí cho họ. Ngoài ra NHTM còn có hỗ
trợ về vốn, nghiệp vụ giúp cho các doanh nghiệp có thể thực hiện một cách
thuận lợi và an toàn các hoạt động ngoại thơng. Cụ thể ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ mở L/C, séc chuyển tiền, hối phiếu
1.2.6 Hoạt động bảo lãnh.
Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn mà đòi hỏi về vốn và uy
tín vợt qua khả năng tài chính của mình, nhng dự án đó là có hiệu quả. Vì vậy
các doanh nghiệp này rất cần một tổ chức đứng ra bảo lãnh cho họ để họ ký kết
hoạt động thực hiện dự án. Ngân hàng chính là ngời bảo lãnh tốt cho các doanh
nghiệp bởi NHTM có tiềm lực về vốn và uy tín. Mặt khác, NHTM có thể t vấn
cung cấp tiền tệ, nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt dự án. Hiện nay,
việc NHTM bảo lãnh cho các doanh nghiệp là khách hàng của mình ngày càng
phổ biến, điều đó mang lại lợi ích cho cả hai bên: NHTM và doanh nghiệp.
Ngoài ra NHTM còn có nhiều chức năng khác nh: Dịch vụ uỷ thác, bảo
đảm an toàn vật có giá
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
6
Luận văn tốt nghiệp
1.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thơng mại.
1.3.1 Nghiệp vụ nợ
hoạt động của NHTM dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động còn nguồn
vốn tự có của NHTM là rất nhỏ, nó chỉ là tấm đệm để hạn chế những rủi ro. Số
vốn huy động tại các NHTM chịu ảnh hởng của rất nhiều yếu tố khác nhau nh:
lãi suất, tình hình kinh tế xã hội, cách thức gửi tiền và trả lãi, phong tục tập
quán, địa điểm và thái độ phục vụ của ngân hàng
Các hình thức huy động bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán: Đây là loại tiền gửi không kỳ hạn, có hoặc
không có lãi suất. Mục đích của ngời gửi tiền là để hởng các dịch vụ của ngân
hàng phục vụ cho quá trình thanh toán của mình. Loại tiền gửi này tuy có chi
phí thấp nhng chứa đựng rủi ro cao, do ngời gửi có thể rút bất kỳ lúc nào. Tỉ lệ
tiền gửi thanh toán ở Việt Nam còn thấp rất nhiều so với tỷ lệ chung trên thế
giới vì ngời dân nớc ta vẫn giữ thói quen sử dụng tiền mặt trong lu thông.
- Tiền gửi tiết kiệm: Mục đích của loại tiền gửi này là để hởng lãi suất.
Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không có kỳ
hạn. Các kỳ hạn do sự thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng.
Ngoài hai loại tiền gửi chủ yếu trên ngân hàng còn thực hiện một số hình
thức tiền gửi khác và ngân hàng không chỉ huy động vốn bằng tiền gửi mà còn
có nhiều hình thức huy động vốn khác nh phát hành chứng khoán, vay trên thị
trờng tiền tệ, vay từ tổ chức tín dụng khác, vay từ NHTW Tuy nhiên, các hình
thức này không thờng xuyên mà chỉ thực hiện trong những trờng hợp nhất định,
bởi chứa đựng trong đó ràng buộc và điều kiện.
1.3.2 Nghiệp vụ có.
Đây là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng. Ngân hàng dùng vốn huy
động đợc cùng với vốn tự có để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình
nhằm tạo ra nguồn thu nhập. Nghiệp vụ có của ngân hàng thể hiện ở các hoạt
động sau:
- Hoạt động ngân quỹ: Mỗi ngân hàng đều phải giữ lại một khoản tiền
tại két của Ngân hàng để phòng những trờng hợp rút tiền của ngời gửi, tránh đ-
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
7
Luận văn tốt nghiệp
ợc những rủi ro về thanh toán. Nên có thể nói hoạt động này đảm bảo cho khả
năng thanh toán thờng xuyên của ngân hàng. Khoản tiền bảo đảm khả năng
thanh toán của ngân hàng có thể là tiền tại két, tiền gửi NHTW, chứng khoán,
tiền mặt trong quá trình thu. Đó là những tài sản có tính thanh khoản cao.
Những tài sản này không sinh lời hoặc sinh lời thấp. Vì vậy, ngân hàng phải
điều chỉnh lợng dự trữ này sao cho hợp lý để đảm bảo khả năng sinh lời cao,
vừa đảm bảo khả năng thanh toán tốt.
- Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của
ngân hàng, nó thờng đem lại cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao tới 60 70%.
Mặt khác, đây cũng là hoạt động nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Có thể nói
hoạt động tín dụng có mức độ rủi ro cao nhất, do đó để thực hiện có hiệu quả
hoạt động này các ngân hàng phải có những biện pháp để hạn chế những rủi ro
bằng cách quản lý chặt chẽ các khoản cho vay.
- Hoạt động thuê mua: Đây là hoạt động còn khá mới mẽ ở Việt Nam.
Đây là hình thức cung cấp tài chính cho khách hàng dới hình thức thuê. Hoạt
động này cũng là một hình thức cấp tín dụng, nhng nó có điểm khác biệt là
quyền sở hữu vẫn thuộc về bên cho thuê. Chỉ đến khi kết thúc hợp đồng. Ngời
thuê có quyền mua lại tài sản có ở mức giá thoả thuận giữa hai bên, ấn định từ
khi hợp đồng này.
- Hoạt động đầu t trực tiếp: Bên cạnh các hình thức đầu t gián tiếp
bằng cách cấp tín dụng ở trên, ngân hàng còn tham gia đầu t trực tiếp vào một
công trình Hoạt động này một mặt tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác
giúp bổ trợ cho các hoạt động khác bởi đa dạng hoá giảm rủi ro. Cùng với việc
nắm giữ chứng khoán, ngân hàng có thể đảm bảo cho khả năng thanh toán của
tài sản có sinh lời.
1.3.3 Nghiệp vụ trung gian.
Ngoài 2 nghiệp vụ trên, ngân hàng còn thực hiện cung cấp các dịch vụ
khác cho khách hàng nhằm thu phí và khuyến khích khách hàng đến với ngân
hàng. Ngày nay, hoạt động này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân
hàng. Các hoạt động trung gian bao gồm:
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
8
Luận văn tốt nghiệp
- Dịch vụ thanh toán và cung cấp phơng tiện thanh toán: Ngân
hàng đứng ra làm trung gian thanh toán hộ cho khách hàng và phát hành các ph-
ơng tiện nhằm phục vụ cho thanh toán nh: UNC, UNT, Sec, L/C
- Dịch vụ môi giới: Ngân hàng tổ chức mua bán, lu ký, bảo quản chứng
khoán cho ngân hàng. Tại Việt Nam, các ngân hàng thành lập ra các công ty
chứng khoán để thực hiện hoạt động này.
- Dịch vụ ngân quỹ: Ngày nay, khi mà thị trờng không dùng tiền mặt
thì hoạt động này ngày càng phát triển rộng. Ngân hàng đứng ra thu hộ và phát
tiền mặt cho khách hàng.
- Dịch vụ chuyển tiền: Với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật thì dịch
vụ này ngày càng đợc nhiều ngời sử dụng.
- Dịch vụ bảo lãnh: Bằng uy tín và khả năng tổ chức của mình, ngân
hàng đứng ra bảo lãnh cho các công ty phát hành chứng khoán, bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Dịch vụ t vấn: Cung cấp thông tin và hỗ trợ về mặt chuyên môn cho
khách hàng.
- Dịch vụ bảo quản.
2. Lý luận chung về tín dụng
2.1. Khái niệm tín dụng
Danh từ tín dụng dùng để chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp nh: bán chịu
hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc. Trong mỗi
một hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết với nhau nh sau:
- Một bên trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc;
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của tài hoá đó trong
một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó.
Trong quan hệ giao dịch trên thể hiện các nội dung:
Trái chủ hay còn gọi là ngời cho vay chuyển giao cho ngời thụ trái
hay còn ngọi là ngời đi vay một lợng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dới
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
9
Luận văn tốt nghiệp
hình thái giá trị hoặc dới hình thái hiện vật nh hàng hoá, máy móc, thiết bị bất
động sản.
Ngời thụ trái hay là ngời đi vay chỉ đợc sử dụng tạm thời một thời
gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoã thuận, ngời đi vay phải
hoàn trả cho ngời cho vay.
Giá trị hoàn trả thờng lớn hơn giá trị cho vay hay nói cách khác ngời
đi vay phải trả thêm phần lợi tức. Thớc đo phần lợi tức này là giá trị tài hoá hoặc
tiền tệ và lãi suất mà hai bên thoả thuận. Ngời cho vay phải tuân thủ nguyên
tắc : Lãi suất cho vay phải chứa đựng các yếu tố nh lạm phát, rủi ro và chi phí
cơ hội. Ngời cho vay phải chú ý đến giá trị thời gian của tiền.
Nh vậy: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó
một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời
gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần
tài sản đã mợn cộng thêm một phần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận.
Từ tín dụng xuất phát từ tiếng la tinh -credittum- có nghĩa là sự tín nhiệm.
Trong giới tài chính, một ngời đợc xem là có uy tín khi ngời khác tin tởng và
sẳn sàng ký thác tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta. Tín dụng là sự cho vay có hứa
hẹn thời tgian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện mức độ tín nhiệm của ngời cho
vay, yếu tố tín nhiệm là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện
cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Do nhu cầu phát triển và đi lên của xã hội loài ngời mà quan hệ tín dụng
đã hình thành rất sớm. Quan hệ tín dụng đầu tiên trong lịch sử là tín dụng nặng
lãi, quan hệ tín dụng này hình thành từ đầu chế độ nô lệ và thậm chí còn tồn tại
đến ngày nay. Hình thức tín dụng này đợc coi là phơng pháp tích luỹ nguyên
thuỷ, là công cụ đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tạo điều kiện cho
phơng thức sản xuất mới ra đời ra đời. Quan hệ tín dụng phát triển hết sức đa
dạng và phức tạp bắt đầu từ khi chế độ chủ nghĩa t bản ra đời. Cho đến ngày nay
các quan hệ tín dụng đã phát triển toàn diện. Trong thực tiễn thờng có các chủ
thể tham gia vào quan hệ tín dụng cụ thể, ví dụ:
Quan hệ tín dụng giữa nhà nớc với các doanh nghiệp và công chúng thể
hiện dới hình thức nhà nớc phát hành các giấy nợ nh công trái, trái phiếu đô thị,
tín phiếu kho bạc.
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
10
Luận văn tốt nghiệp
Quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau hay còn gọi là tín dụng thơng
mại thể hiện dới hình thức bán chịu hàng hoá.
Quan hệ tín dụng giữa các công ty và công chúng thể hiện dới hình thức
các công ty phát hành các trái phiếu, hoặc bán hàng trả góp.
Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân
hàng với các doanh nghiệp và công chúng, thể hiện dới hình thức nhận tiền gửi
của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua
Quan hệ tín dụng giữa nhà nớc và các tổ chức tài chính quốc tế, chính
phủ các nớc thể hiện dới hình thức vay nợ.
Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thơng mại tham gia vào
quan hệ tín dụng với hai t cách. Ngân hàng đóng vai trò thụ trái và hành vi này
đợc gọi là đi vay bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để
vay vốn trong xã hội, vay vốn của ngân hàng trung ơng và các ngân hàng khác.
Ngân hàng đóng vai trò trái chủ, hành vi này đợc gọi là cho vay. Vì tính chất
phức tạp của hoạt động cho vay vì thế khi nói đến tín dụng ngời ta thờng đề cập
đến hoạt động cho vay mà bỏ quên mặt thứ hai đó là đi vay.
Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò trái chủ gọi là tín dụng ngân
hàng. Tín dụng ngân hàng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản khi hình thành nên
các ngân hàng thơng mại và đây cũng là nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng.
Sự phù hợp về nhu cầu của hai nhà t bản ngân hàng và nhà t bản sản xuất kinh
doanh hàng hoá đã dẫn đến sự ra đời mối quan hệ tín dụng này. Do chuyên môn
hoá trong kinh doanh và do đặc điểm của hàng hoá tiền tệ mà hình thức tín
dụng này ngày càng phát triển và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong
nền kinh tế hàng hoá. Tín dụng ngân hàng đã khắc phục đợc những hình thức
tín dụng trớc đó và thực sự trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Nh vậy:Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mợn về vốn tiền tệ giữa ngân
hàng và các đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nớc, các tổ chức xã hội và các
tầng lớp dân c theo nguyên tắc có hoàn trả.
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
11
Luận văn tốt nghiệp
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
2.2.1. Căn cứ vào mục đích
Dựa vào căn cứ này cho vay đợc chia ra làm các loại sau:
Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, th-
ơng mại và dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thơng mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thơng mại và
dịch vụ.
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nh
mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản
cho vay để trang trải các chi phí thông thờng của đơì sống thông qua phát hành
thẻ tín dụng.
Thuê mua và các loại khác.
2.2.2 . Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn dới 12 tháng và đợc sử
dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng thơng mại tín dụng ngân hàng chiếm
tỉ trọng cao nhất.
Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nớc Việt
Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, còn đối với các ngân
hàng thơng mại trên thế giới loại tín dụng có thời hạn đến 7 năm. Tín dụng
trung hạn chủ yếu đợc đầu t để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: Theo quy định ở Việt Nam loại tín dụng có thời hạn
trên 3 năm, còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7 năm.Tín dụng
dài hạn là loại tín dựng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn nh xây dựng nhà
ở, các thiết bị, phơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dung các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thơng mại là cho vay ngắn hạn, nh-
ng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng thơng mại đã chuyển sang kinh
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
12
Luận văn tốt nghiệp
doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỉ trọng
cho vay trung và dài .
2.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
Theo căn cứ này tín dụng đợc chia làm hai loại:
Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của ngời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh,
có khả năng tài chính mạnh, quản trị tài chính hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp
tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung.
Cho vay có bảo đảm là loại cho vay đợc ngân hàng cung ứng phải có tài
sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của ngời thứ ba. Đối với khách
hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm.
Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn thu thứ hai, bổ
sung nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Đồng thời tài sản thế chấp này bảo
đảm khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết.
2.2.4 . Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng.
Theo căn cứ này tín dụng ngân hàng đợc chia làm hai loại:
Tín dụng bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng đợc
cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng và việc thực
hiện bằng các kỷ thuật khác nhau nh: Tín dụng ứng trớc, thấu chi, tín dụng thời
vụ, tín dụng trả góp
Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và
đa dạng, riêng đối với các ngân hàng cho vay bằng tài sản đợc áp dụng phổ biến
đó là tài trợ thuê mua. Theo phơng thức cho vay này ngân hàng hoặc các công
ty thuê mua( công ty con của ngân hàng)cung cấp trực tiếp tài sản cho ngời đi
vay đợc gọi là ngời đi thuê và theo định kỳ ngời đi thuê hoàn trả nợ vay bao
gồm cả vốn gốc và lãi.
2.2.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng.
Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại:
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
13
Luận văn tốt nghiệp
Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những ngời có nhu
cầu, đồng thời ngời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay đợc thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thơng mại cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thơng
mại, mua các phiếu bán hàng, mua các khoản nợ của doanh nghiệp Ngoài các
loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho
khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp vụ này ngân hàng không phải
cung cấp tiền, nhng khi ngời bảo lãnh không thực hiện đợc nghĩa vụ theo hợp
đồng thì ngời bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Chính vì
lý do trên đây, mà ngời ta gọi hành vi cam kết bảo lãnh của ngân hàng là tín
dụng bằng chữ ký. Tín dụng bằng chữ ký bao gồm các loại: Tín dụng chứng từ,
bảo lãnh của ngân hàng
3. Tín dụng ngắn hạn.
3.1. Khái niệm.
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn một năm.
NHTM là nhà cung ứng phần lớn các khoản vay ngắn hạn cho các doanh
nghiệp. Các khoản vay này ít rủi ro về khả năng thanh toán cũng nh về lãi suất
so với vay trung và dài hạn. Những khoản cho vay ngắn hạn thờng đợc sử dụng
rộng rãi trong việc tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm
thời cho các khoản chi phí sản xuất.
3.2. Phân loại tín dụng ngắn hạn.
Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, thì đây là tín dụng tài
trợ vốn lu động. Nếu nh vốn lu động thờng xuyên của doanh nghiệp không đủ
trang trải về loại vốn này, thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng ngân hàng.
Nhu cầu về vốn lu động cao hay thấp tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh
doanh và khả năng quản lý vốn lu động của doanh nghiệp. Nhng dù nhu cầu cao
hay thấp, doanh nghiệp luôn sử dụng tín dụng vốn lu động với t cách là các
khoản vay ít hay nhiều thờng xuyên theo cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Dới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thơng mại thực hiện cho vay
ngắn hạn theo các loại hình phổ biến sau đây:
Nguyễn Thành Sơn - Khoa Ngân hàng Tài chính
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét