1.1.2. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau nhưng
nhìn chung có các hình thức chủ yếu sau:
Một là, xuất khẩu trực tiếp, Đây là hoạt động xuất khẩu các hàng hoá
dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các doanh nghiệp
sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu những sản phẩm này sang các quốc gia
khác với danh nghĩa là hàng của mình. Ưu điểm của hình thức này là giúp các
doanh nghiệp hay quốc gia khẳng định được uy tín trên thị trường quốc tế bởi
sự gắn kết giữa hàng hoá đó và thương hiệu của doanh nghiệp, quốc gia.
Đồng thời thu được lợi nhuận cao, giảm các chi phí trung gian tạo điều kiện
thâm nhập thị trường, chủ động trong sản xuất và xuất khẩu. Tuy vậy, hình
thức này đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và tiền ẩn nhiều rủi ro khó có thể báo
trước.
Hai là, xuất khẩu gia công uỷ thác. Đây là hình thức các doanh nghiệp
đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia
công, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất cho bên nước ngoài. Doanh nghiệp
đóng vai trò trung gian, là cầu nối giữa đơn vị gia công và đơn vị uỷ thác.
Kết thúc hợp đồng doanh nghiệp được hưởng tỷ lệ phần trăm nhất định theo
giá của lô hàng. Hình thức này không đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu
tư nhưng phần trăm thu được không nhiều.
Ba là, xuất khẩu uỷ thác. Đây là hình thức doanh nghiệp đóng vai trò
trung gian xuất khẩu, làm thay cho các doanh nghiệp có hàng những thủ tục
cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăn theo giá trị hàng xuất khẩu đã
được thoả thuận. Hình thức này có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, không cần
vốn mua hàng nhưng lợi nhuận bị phân chia, mất sự liên hệ trực tiếp với thị
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
trường đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải có cán bộ kinh doanh có kinh
nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Bốn là, buôn bán đối lưu. Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng
hoá trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời
là người mua, lượng hàng giao dịch đi có giá trị tương ứng với lượng hàng
nhận về. Thực chất của hình thức này là sự mở rộng của phương thức giao
dịch hàng đổi hàng.
Năm là, xuất khẩu theo nghị định thư. Hình thức xuất khẩu này nhằm
mục đích thực hiện những thoả thuận đã được ký kết giữa chính phủ của các
quốc gia với nhau. Hình thức xuất khẩu nầy đảm bảo được khả năng thanh
toán là rất cao nhưng đi kèm với nó là liên quan đến uy tín, lợi ích của quốc
gia trên thị trường quốc tế mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp
ứng được.
Sáu là, xuất khẩu tại chỗ. Đây là hình thức mà hàng hoá và dịch vụ có
thể chưa vượt ra khỏi biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng
giống như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho
các đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế,…Hoạt động xuất khẩu này đang
được phổ biến có nhiều ưu điểm như giảm được chi phí vận chuyển, độ rủi ro
thấp.
Bảy là, gia công xuất khẩu. Đây là một hình thức kinh doanh theo đó
một bên nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm từ bên đặt gia công sau đó
chế biến thành thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.Hình thức này
giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhận được
các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất. tuy nhiên doanh nghiệp
sẽ bị động, chất lượng sản phẩm không đều.
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
Tám là, tạm nhập tái xuất. Đây là việc xuất khẩu những hàng hoa trước
đây đi nhập khẩu về nhưng vẫn chưa tiến hành các hoạt động chế biến. Mục
đích của việc tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hoá ở nước này sau đó bán đắt ở
nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra. Hàng hoá có thể đi từ nước
xuất khẩu đến nước tái xuất rồi sang nước thứ ba hoặc có thế đi thẳng từ nước
xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
1.1.3. Nội dung của hoạt động xuất khẩu:
a. Quy mô xuất khẩu
Xác định quy mô xuất khẩu một mặt hàng bao gồm việc xác định sản
lượng cũng như doanh thu của mặt hàng đó. Về mặt logic, sản phẩm có sức
cạnh tranh cao, dễ bán trên thị trường thì sẽ có doanh thu cao. Ngược lại, sức
cạnh tranh của sản phẩm thấp thì doanh thu thu được từ hoạt động thương mại
cũng nhỏ hơn. Việc xác định quy mô, tốc độ xuất khẩu nói chung phụ thuộc
vào quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự biến động trên thị trường quốc
tế. Khi nhu cầu thị trường tăng lên, doanh thu xuất khẩu cao và tốc độ xuất
khẩu cũng tăng trưởng đều đặn với cùng xu hướng phản ánh khả năng thỏa
mãn nhu cầu và thị hiếu thị trường cũng như sức cạnh tranh của hàng hóa so
với các đối thủ khác.
b. Chi phí sản xuất và giá sản phẩm xuất khẩu
Chi phí để tạo ra một hàng hóa là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm
có xem xét tương quan với chất lượng sản phẩm đó. Chi phí sản xuất hàng
hóa, đặc biệt là nông sản dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, khu vực.
Các nước có lợi thế so sánh trong hoạt động sản xuất nông sản, nhờ tích lũy
kinh nghiệm qua nhiều thế hệ, cũng như điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các
giống cây phát triển Tuy nhiên, hiện nay cạnh tranh nhằm giảm chi phí sản
xuất nông sản xuất khẩu không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi và
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
kinh nghiệm trong sản xuất, mà phải dựa trên hiệu quả của tất cả các khâu:
sản xuất, thu mua, vận chuyển, chế biến, kho bãi, cầu cảng… Bên cạnh đó,
chi phí sản xuất chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để nâng cao sức cạnh tranh
cho hàng hóa xuất khẩu, vì nông sản xuất khẩu muốn cạnh tranh với các đối
thủ khác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiến lược kinh doanh,
marketing, quản trị xuất khẩu, khả năng dự báo và đối phó với những thay đổi
bất thường của thị trường quốc tế…
Giá cả của bất kỳ loại hàng hóa xuất khẩu nào cũng phục thuộc vào các
yếu tố như: chi phí, nhu cầu, mức độ cạnh tranh, các quy định về luật và thuế
xuất – nhập khẩu, khả năng thống trị thị trường của mặt hàng… Thông
thường, cùng một mặt hàng với cùng chất lượng, kiểu dáng bao bì… người
tiêu dùng sẽ chọn lựa dựa trên tiêu chuẩn về giá. Giá hàng hóa của hãng càng
rẻ càng có lượng tiêu thụ lớn. Tuy nhiên, giá cao cũng có tác dụng kích thích
người mua, vì nó hàm ý giá trị của hàng hóa cao hơn. Giá cả của nông sản đặc
biệt phụ thuộc vào công đoạn chế biến. Càng gia tăng công đoạn chế biến với
kỹ thuật hiện đại, giá trị nông sản càng cao dẫn đến giá bán cũng sẽ gia tăng.
c. Cơ cấu và chất lượng hàng xuất khẩu
Chủng loại nông sản trên thế giới rất đa dạng, với nhiều kiểu, tên gọi và
chất lượng khác nhau. Hơn thế, nông sản mà mỗi vùng miền với đặc điểm khí
hậu, đất đai, nguồn nước, chế độ canh tác và giống lâu đời đã tạo nên rất
nhiều loại đặc sản của từng địa phương.
Việc xác định loại nông sản xuất khẩu chính phải dựa trên lợi thế so sánh
của mỗi quốc gia (lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực, về kinh nghiệm…)
cũng như yêu cầu của các thị trường tiềm năng.
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
d. Thị trường và thương hiệu nông sản xuất khẩu trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế
Việc xác định chỉ tiêu cho từng thị trường xuất khẩu nằm trong định
hướng xuất khẩu của các quốc gia dưới áp lực cạnh tranh toàn cầu. Định
hướng thị trường xuất khẩu không những giúp các quốc gia xác định lợi thế
so sánh và yêu cầu từ thị trường từ đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa
mà còn hỗ trợ các nhà quản lý xác định và dự báo được quy mô và chủng loại
nông sản xuất khẩu làm cơ sở để đề xuất kế hoạch sản xuất cho kỳ tiếp theo.
Do đó, định hướng thị trường xuất khẩu có tính quyết định tính khả thi của
chiến lược.
Xác định chỉ tiêu thị trường xuất khẩu bao gồm: dự báo nhu cầu gạo trên
thị trường quốc tế (các thị trường truyền thống và các thị trường tiềm năng),
xác định các yêu cầu về đảm bảo an toàn vệ sinh, các quy định kiểm tra, các
yêu cầu về thời gian số lượng.
1.1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu
a. Quan hệ chính trị ngoại giao
Một quốc gia muốn phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu phải có
đường lối chính trị mở cửa hội nhập với thế giới một cách nhất quán và ổn
định lâu dài, có quan hệ ngoại giao cởi mở được thể hiện cụ thể cụ thể bằng
các hiệp định được ký kết và triển khai cụ thể cho từng thời kỳ. Việc thiết lập
quan hệ ngoại giao giữa các nước là điều kiện tiên quyết thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu và tìm thị trường đối tác.
b. Chính sách thương mại của Nhà nước
Chính sách mậu dịch tự do: một nước theo đuổi chính sách mậu dịch tự
do thì ở đó Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp và quá trình điều tiết ngoại
thương, Nhà nước sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa để cho hàng hoá và
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
vốn đầu tư tự do lưu thông và tạo điều kiện cho hoạt động thương mại quốc tế
tự do phát triển.
Chính sách bảo hộ mậu dịch: khi sử dụng chính sách này Nhà nước
thường áp dụng các công cụ, biện pháp thuế quan và phi thuế quan để tránh
cho hàng hoá và doanh nghiệp trong nước khỏi cạnh tranh trực tiếp với hàng
hoá và doanh nghiệp nước ngoài.
c. Thuế quan
Thuế quan được hiểu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh.
Thuế xuất khẩu sẽ tác động đến giá cả của hàng hoá bán ra nước ngoài.
Nếu Nhà nước đánh thuế vào hàng xuất khẩu sẽ làm cho giá cả của mỗi đơn
vị hàng hoá xuất khẩu cao hơn so với khi không có thuế và sẽ làm giảm khả
năng cạnh tranh của hàng hoá trên trường quốc tế. Do vậy, để khuyến khích
hoạt động xuất khẩu, Nhà nước cần có những chính sách linh hoạt, miễn giảm
thuế xuất khẩu cho các loại hàng hoá để mở rộng thị trường, tăng GDP cho
nền kinh tế.
d. Hạn ngạch xuất khẩu
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng và giá trị của một loại
hàng hoá hoặc một nhóm hàng hoá được phép xuất khẩu. Đây là công cụ quan
trọng thứ hai sau thuế tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng hoá.
Trên thực tế thì để khuyến khích xuất khẩu, cách tốt nhất là Nhà nước không
nên áp dụng hạn ngạch xuất khẩu trừ những trường hợp các mặt hàng có liên
quan đến an ninh quốc gia như lúa gạo hoặc các hàng hoá xuất khẩu sang
những thị trường mà tại đó có quy định hạn ngạch nhập khẩu.
e. Tỷ giá hối đoái
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
Tỷ giá hối đoái là một công cụ tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu
một cách gián tiếp, Các nước theo đuổi chính sách hướng về xuất khẩu
thường sử dụng chính sách hạ giá đồng nội tệ, Khi ấy hàng hoá xuất khẩu sẽ
rẻ hơn tương đói so với hàng hoá của các quốc gia khác. Điều này khuyến
khích các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá nhiều hơn, làm tăng thêm GDP
cho nền kinh tế.
f. Quy định hải quan
Hàng hoá xuất khẩu phải được thông qua nhanh chóng. Nếu hoạt động
hải quan phức tạp gây nhiều phiền hà cho người xuất khẩu thì sẽ làm mất cơ
hội kinh doanh cho các doanh nghiệp. Do đó cần phải hoàn thiện quy trình
nghiệp vụ hải quan, áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại phân loại hàng
hoá theo mức độ quan trọng để từ đó thông quan nhanh chóng cho những
hàng hoá thông thường.
g. Hỗ trợ xúc tiến thương mại
Nhà nước đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị cho
việc thu thập thông tin thị trường thế giới hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu,
giúp các doanh nghiệp giao lưu với các đối tác nước ngoài để tìm kiếm thị
trường và cơ hội kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá như
tham gia hội chợ quốc tế, gặp gỡ trao đổi thông tin thương mại với các doanh
nghiệp nước ngoài.
h. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Đây là hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan theo đó quốc gia
nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu
sang nước mình một cách tự nguyện nếu không nước nhập khẩu sẽ áp dụng
các biện pháp kiên quyết
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
1.1.4. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế
xã hội
a. Đối với quốc gia xuất khẩu
• Xuất khẩu tạo điều kiện cho quốc gia tận dụng lợi thế so sánh của
mình, thúc đẩy phân công lao động xã hội
Chỉ có những hàng hoá có sức cạnh tranh cao thì mới có thể đứng vững
trên thị trường thế giới. Do đó xuất khẩu giúp cho quốc gia có thể nhận biết
thế mạnh của mình. Từ đó quốc gia tập trung nguồn lực để sản xuất và cung
ứng những sản phẩm thuộc thế mạnh của mình, phân công lao động quốc tế
được hình thành. Nguồn lực sẽ được phân bổ hiệu quả hơn trên cơ sở các
quốc gia đều nhận thấy được lợi thế so sánh của mình.
Xuất khẩu tạo ra cơ hội cho tất cả các quốc gia nhất là các quốc gia đang
phát triển có thể tận dụng được thời cơ, đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sở
ứng dụng thành quả cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất.
• Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc
và những nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
Xuất khẩu là động lực kích thích các ngành sản xuất phát triển, tăng thu
nhập cho nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Mặc dù không phải là nguồn thu ngoại tệ duy nhất nhưng có thể khẳng
định rằng đây là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu nhất và bền vững nhất. Nguồn
thu quan trọng nhất để nhập khẩu máy móc, công nghệ để phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là từ xuất khẩu. Xuất khẩu vừa là tiền đề, là
động lực của nhập khẩu. Thúc đẩy xuất khẩu để tăng khả năng nhập khẩu mở
rộng sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Đây chính là sự kết hợp giữa nội lực và
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
ngoại lực trong tăng trưởng kinh tế. Ngoại tệ thu được từ xuất khẩu còn là
nguồn tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia để ổn định và điều tiết nền kinh tế.
• Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
sản phẩm
Xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra khả năng mở rộng
thị trường tiêu thụ nhờ vậy mà sản xuất có thể phát triển và ổn định.
Sự phát triển của hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho
các ngành sản xuất phụ trợ phát triển theo. Nếu quốc gia phát huy được thế
mạnh nhờ hàng xuất khẩu sẽ là động lực để chuyển dịch cơ cấu sản xuất.
Do phải cạnh tranh với hàng hoá của các quốc gia khác nhau trên thị
trường thế giới nên nhà sản xuất hàng xuất khẩu sẽ phải chú ý nhiều hơn đến
chất lượng, mẫu mã sản phẩm xuất khẩu cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
Sự cạnh tranh này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
thích ứng được với những thay đổi của thị trường. Do đó xuất khẩu tạo tiền đề
kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất.
• Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
Sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc
và tăng thu nhập cho người lao động không chỉ ở những doanh nghiệp, những
địa phương sản xuất hàng xuất khẩu mà cả ở những địa phương khác do sự di
chuyển của mọt bộ phận lao động vào sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tạo cơ hội
cho những người khác có khả năng kiếm được việc làm. Nhờ vậy mà đời sống
của người dân được nâng cao, thất nghiệp giảm và tệ nạn xã hội cũng có xu
hướng giảm theo
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
Xuất khẩu tạo nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, phục
vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng phong phú
của người dân.
Đồng thời sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng
nhiều hơn, năng suất lao động cao. Rõ ràng xuất khẩu tác động tích cực tới
tay nghề và thay đổi thói quen của những người sản xuất hàng xuất khẩu.
• Xuất khẩu là cơ sở để thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,
tăng cường địa vị kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới.
Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà phân công lao động quốc tế ra đời. Từ
đó làm các quốc gia phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Các quốc gia sẽ đặt mục
tiêu kinh tế lên hàng đầu thúc đẩy quan hệ ngoại giao phát triển. Đến lượt nó,
quan hệ ngoại giao là điều kiện tiền đề thúc đẩy hoạt động thương mại quốc
tế, đẩy mạnh xuất khẩu.
b. Đới với quốc gia nhập khẩu
Không chỉ có vai trò to lớn đối với quốc gia xuất khẩu, hoạt động xuất
khẩu còn đóng vai trò tích cực trong đời sống kinh tế, đời sống xã hội của
quốc gia tiếp nhận nhập khẩu. Cụ thể như:
- Tiếp nhận nhập khẩu từ quốc gia khác tạo điều kiện cho người tiêu
dùng tại quốc gia đó được tiêu dùng những sản phẩm hàng hoá đa dang,
phong phú hơn. Vì trên thực tế không một quốc gia nào có đủ điều kiện nguồn
lực để tự sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nước. Nếu có thì chi phí sản xuất rất cao. Nhờ có thương mại quốc
tế và hoạt động xuất nhập khẩu mà các quốc gia có thể giảm được chi phí sản
xuất đồng thời có được nhiều loại hàng hoá phục vụ tiêu dùng trong nước.
PHAN DIỆU LINH Kế hoạch 47A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét