Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

2.1. Điều kiện về năng lực chủ thể tham gia giao dịch dân
sự:
Theo quy định tại Điều 122 BLDS thì “người tham gia giao dịch có năng
lực hành vi dân sự”.
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng. Theo đó, “người” ở đây
phải được hiểu là tất cả các chủ thể đó tức là cá nhân, pháp nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác và Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam, trong đó Nhà nước
nước CHXHCN Việt Nam là chủ thể đặc biệt của hầu hết các ngành luật nên
chúng ta sẽ không xét đến năng lực hành vi dân sự của chủ thể này.
2.1.1. Đối với cá nhân:
Cá nhân được coi là chủ thể thường xuyên, chủ yếu, phổ biến nhất của
giao dịch dân sự bởi ngay cả trong giao dịch có sự tham gia của pháp nhân
hay chủ thể khác thì cá nhân với tư cách là người đại diện vẫn tham gia giao
dịch đó. Tuy nhiên để giao dịch có hiệu lực thì cá nhân cũng phải chịu sự
điều chỉnh mà cụ thể là quy định của pháp luật về năng lực hành vi dân sự
“Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự”.
Năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật là khả năng của cá
nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều
17 BLDS). Giao dịch dân sự do cá nhân thiết lập chỉ có hiệu lực nếu đáp ứng
được các yêu cầu về mức độ hành vi dân sự của cá nhân. Mức độ đó được
xác lập như sau:
• Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: là những người
từ đủ 18 tuổi trở lên không thuộc trường hợp bị Tòa án tuyên bố hạn chế
năng lực hành vi dân sự hay bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Người
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi giao dịch
dân sự.
• Đối với những người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ
15 tuổi đến dưới 18 tuổi: ở lứa tuổi này, chủ thể đã có thể xác lập và thực
hiện một số giao dịch dân sự nhất định. Quy định này cũng hoàn toàn hợp lý
với điều kiện về độ tuổi lao động trong Bộ luật Lao động: người lao động là
người có thể từ đủ 15 tuổi trở lên và có tham gia giao kết hợp đồng lao động.
• Đối với người có năng lực hành vi dân sự 1 phần từ đủ 6 tuổi đến
dưới 15 tuổi, người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Theo Điều 20 BLDS thì người từ đủ 6 tuổi đến 15 tuổi khi xác lập, thực hiện
giao dịch phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý trừ các giao dịch
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngay phù hợp với lứa tuổi. Quy định
này là hoàn toàn hợp lý bởi những người thuộc độ tuổi này sự nhận thức và
làm chủ hành vi của mình chưa được đầy đủ. Còn đối với những người bị
Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì trong các giao dịch do
người này tham gia phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ
giao dịch phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
• Đối với người dưới 6 tuổi, người bị tòa án tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự thì không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, mọi giao
dịch dân sự của họ đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực
hiện.
2.1.2. Đối với các chủ thể khác:
Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác cũng có thể trở thành chủ thể của các
giao dịch dân sự nhưng pháp luật cũng quy định cho những đối tượng này
những quy định nhất định như đối với chủ thể là cá nhân. Các chủ thể này
chỉ có thể tham gia giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật
của họ hoặc do họ ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự đó. Tuy
nhiên pháp luật cũng quy định rõ pháp nhân chỉ được tham gia các giao dịch
dân sự thuộc chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân; hộ gia đình chỉ được tham
gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, đến hoạt động sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh
khác theo quy định pháp luật; còn tổ hợp tác chỉ được tham gia các giao dịch
dân sự liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ được xác định
trong hợp đồng hợp tác. Nếu tham gia vào các giao dịch dân sự không thuộc
lĩnh vực hoạt động đã được pháp luật quy định như trên, pháp nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác đều coi là đã vi phạm 1 trong các điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự, tất nhiên giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu.
2.2. Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch dân sự:
“Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong
muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” (Điều 123 BLDS 2005). Trong bất
kỳ một giao dịch nào, các bên tham gia đều hướng đến một mục đích nhất
định, từ đó sẽ có sự xác lập quyền và nghĩa vụ (tức là nội dung của giao
dịch) nhằm hiện thực hóa mục đích đó. Như vậy mục đích và nội dung của
giao dịch có quan hệ chặt chẽ 2 chiều với nhau.
Mục đích và nội dung là một trong những yếu tố chủ yếu tạo thành một
giao dịch dân sự, do vậy điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch
cũng là những điều kiện cần thiết cho một giao dịch dân sự hợp pháp: “Mục
đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy
định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất
định. Việc quy định cụ thể những điều cấm của pháp luật là để đảm bảo lợi
ích công cộng và của các chủ thể. Còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực
ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng
thừa nhận và tôn trọng. Tuy nhiên trong thực tế, căn cứ để xác định mục
đích và nội dung của giao dịch dân sự trái với đạo đức xã hội khá phức tạp
vì đó là những chuẩn mực ứng xử do cộng đồng xã hội tự đặt ra và thừa
nhận nó như những quy tắc chung chứ không được quy định cụ thể, rõ ràng
trong các văn bản pháp luật như các điều cấm của pháp luật.
2.3. Điều kiện về ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự:
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí
tức là các chủ thể tham gia giao dịch phải có sự tự nguyện. Đây cũng là một
trong các điều kiện tiên quyết để 1 giao dịch dân sự có hiệu lực “Người
tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.
Khi tham gia giao dịch dân sự, mỗi chủ thế đều có những nguyện vọng,
mong muốn để tạo cơ sở cho việc xác lập các quyền và nghĩa vụ trong giao
dịch đó. Nhưng để có thể đạt được mục đích của giao dịch, các chủ thể phải
có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Nếu không thỏa mãn điều này
tức là các chủ thể đã vi phạm điều kiện về sự tự nguyện trong giao dịch đồng
nghĩa với việc giao dịch dân sự được xác lập sẽ bị coi là vô hiệu. Pháp luật
cũng quy định một số trường hợp cụ thể mà giao dịch dân sự được thiết lập
không có sự tự nguyện của các chủ thể tham gia giao dịch: giao dịch dân sự
được xác lập bởi sự giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay giao dịch xác lập
vào thời điểm mà người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình. Tất nhiên, những giao dịch được xác lập bởi những yếu tố kể trên tức
là đã vi phạm vào nguyên tắc tự nguyện của chủ thể sẽ bị coi là vô hiệu.
2.4. Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự:
Hình thức giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới 1
hình thức nhất định của các bên tham gia giao dịch. Theo quy định của pháp
luật hiện hành thì “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của
giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”. Như vậy hình thức của
giao dịch chỉ trở thành điều kiện có hiệu lực trong một số trường hợp được
pháp luật quy định. Đây là điểm mới trong BLDS 2005 so với bộ luật cũ. Tại
Điều 131 BLDS 1995 thì hình thức của giao dịch được quy định là một
trong 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và bất cứ giao dịch nào vi
phạm quy định về hình thức đều bị coi là vô hiệu chứ không chỉ trong một
số trường hợp như pháp luật hiện hành.
Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không quy định hình thức bắt
buộc thì giao dịch đó có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào chẳng
hạn như bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể:
+ Hình thức miệng (bằng lời nói) : đây được coi là hình thức phổ biến nhất
trong xã hội hiện nay dù đó cũng là hình thức có độ xác thực thấp nhất. Hình
thức này thường được áp dụng đối với các giao dịch được thực hiện ngay và
chấm dứt ngay sau đó hoặc giữa các chủ thể có mối quan hệ thân tín, tin cậy.
+ Hình thức văn bản: thể theo sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia giao
dịch hoặc do pháp luật quy định, các bên xác lập giao dịch bằng hình thức
văn bản, trên đó phải có chữ ký xác nhận của chủ thể nhằm xác minh sự
tham gia giao dịch của các chủ thể. Ngoài ra, có một số trường hợp các bên
thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch bắt buộc phải lập thành văn
bản có chứng nhận chứng thực, đăng ký hoặc xin phép mà thông thường là
đối với các giao dịch dân sự có đối tượng Nhà nước cần phải kiểm soát trong
lưu thông dân sự hoặc đối tượng của giao dịch dân sự có giá trị lớn ( đất đai,
nhà cửa…). Trong các trương hợp đó, các chủ thể buộc phải tuân theo quy
định của pháp luật về hình thức để có thể đảm bảo giao dịch dân sự phát sinh
hiệu lực.
+ Hình thức bằng hành vi: chẳng hạn như rút tiền từ trạm ATM, gọi điện
thoại ở bốt công cộng, mua nước bằng máy tự động Đây cũng là hình thức
giản tiện nhất của giao dịch do không cần thiết phải có sự hiện diện của tất
cả các bên tham gia giao dịch.
Giao dịch dân sự là một chế định rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn.
Những quy định về giao dịch dân sự là sự cần thiết cấp bách không thể thiếu
trong việc điều chỉnh mối quan hệ cơ bản của pháp luật dân sự. Tuy nhiên để
có thể bảo đảm trọn vẹn quyền lợi của các chủ thể tham gia giao dịch, pháp
luật cũng đề ra các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự hợp pháp,
từ đó xác định những giao dịch nào vi phạm các điều kiện đó sẽ bị coi là vô
hiệu, sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu đó. Vậy cụ thể, giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Hậu quả
pháp lý của nó ra sao? Nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này sẽ giúp chúng ta có
phương hướng để hoàn thiện thêm chế định giao dịch dân sự nói chung.
II. Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:
1. Giao dịch dân sự vô hiệu:
1.1. Khái niệm:
Nhìn dưới góc độ nghiên cứu khoa học, dù thuật ngữ giao dịch dân sự vô
hiệu được sử dụng khác rộng rãi nhưng lại chưa có tài liệu nào nêu ra khái
niệm khoa học cụ thể. Trong BLDS nước ta, tại Điều 122 BLDS 2005 có
quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, căn cứ vào các
quy định này mà xây dựng nên quy định chung về giao dịch dân sự vô hiệu:
“ Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều
122 của Bộ luật này thì vô hiệu”(Điều 127 BLDS 2005). Như vậy các điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự làm cơ sở cho việc xác định giao dịch
dân sự vô hiệu. Căn cứ vào các quy định trên, ta có thể khái quát: “Giao
dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định”.
Bằng việc quy định các điều kiện và một số trường hợp cụ thể dẫn đến
giao dịch dân sự vô hiệu, Nhà nước có thể kiểm soát các giao dịch dân sự
nhất định để đảm bảo tính ônt định trong giao lưu dân sự. Nhìn chung các
quy định về giao dịch dân sự vô hiệu có một số ý nghĩa sau đây:
• Định hướng, tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sự khi tiến
hành xác lập giao dịch dân sự phải tuân theo các quy định của pháp luật,
không được thảo thuận hoặc thi hành trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện cho các chủ thể.
• Ngăn chặn các loại giao dịch dân sự mà pháp luật cấm hoặc trái đạo đức
xã hội, bảo đảm cho các giao lưu dân sự hợp pháp được ổn định, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân.
• Ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao
dịch còn bảo đảm quyền lợi cho người thứ 3 ngay tình, bảo đảm tính công
bằng khi giải quyết hậu que của giao dịch dân sự vô hiệu.
• Là cơ sở pháp lý mang tính nguyên tắc cho các bên tự hòa giải với nhau
khi xảy ra tranh chấp hoặc được tòa án áp dụng khi giải quyết các tranh chấp
giao dịch dân sự vô hiệu.
1.2. Đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu:
Mục đích hay nói cách khác là những mong muốn, nguyện vọng mà bất
kỳ chủ thể nào tham gia giao dịch đều muốn đạt được. Pháp luật luôn tạo
điều kiện và giúp đỡ các chủ thể hành động theo ý chí của mình nếu họ
không vi phạm vào 1 trong 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói
trên. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không tuân thủ các điều kiện đó
dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu và các chủ thể phải gánh chịu hậu quả
pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu. Đây cũng là 2 đặc điểm
đặc trưng của giao dịch dân sự vô hiệu:
Vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp
luật quy định: đặc điểm này tuân theo đúng tinh thần của quy định về giao
dịch dân sự tại Điều 127 BLDS 2005. Một đặc điểm mang tính quyết định
một giao dịch trở nên vô hiệu đó là việc giao dịch đó không tuân thủ đầy đủ
4 điều kiện mà pháp luật đã quy định đối với giao dịch dân sự có hiệu lực tại
Điều 122 BLDS: điều kiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia
giao dịch, điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch, điều kiện về sự
tự nguyện của chủ thể và điều kiện về hình thức trong một số trường hợp
pháp luật quy định.
Các bên tham gia giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ
việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: bất kỳ một sự vi phạm nào cũng chịu
sự điều chỉnh của pháp luật bằng những chế tài nhất định. Trong giao dịch
dân sự cũng vậy, một khi các chủ thể không tuân theo quy định của pháp
luật về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì cũng phải chịu hậu
quả do việc tuyên bố giao dịch đó đem lại. Cụ thể, khi giao dịch bị tuyên bố
là vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
giao dịch đó. Tính vô hiệu được xác định từ thời điểm các bên xác lập giao
dịch( tức là từ khi giao kết hoặc tuyên bố ý chí). Đồng thời, khi giao dịch vô
hiệu, các bên quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận của
nhau. Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên vì không đạt được
mục đích ban đầu khi tham gia giao dịch, ngoài ra nếu bên nào có lỗi làm
thiệt hại phải bồi thường thiệt hại. Như vậy hậu quả pháp lý có thể và hầu
như thường gây bất lợi cho các bên tham gia giao dịch dân sự.
1.3. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu:
Nếu dựa vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại giao dịch
dân sự khác nhau:
 Nếu căn cứ vào sự vô hiệu về nội dung của giao dịch dân sự thì giao dịch
dân sự vô hiệu được chia thành:
Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ: là loại giao dịch mà tất cả các nội dung
của giao dịch đều vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
hoặc có 1 phần nội dung của giao dịch vô hiệu nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp
đến toàn bộ giao dịch. Giao dịch này không có giá trị pháp lý.
Ví dụ: Giao dịch dân sự có đối tượng giao dịch là tài sản Nhà nước
cấm lưu thông như động vật quý hiếm, ma túy…
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: là giao dịch dân sự chỉ có một số nội
dung vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, còn các nội
dung khác không vi phạm hoặc có 1 phần của giao dịch vô hiệu nhưng
không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại trong giao dịch.
 Dựa vào thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì
giao dịch dân sự vô hiệu được chia thành:
Giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu: Đây là giao dịch vi phạm
vào một hay một số điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự một cách
nghiêm trọng. Các giao dịch dân sự vô hiệu này sẽ không bị hạn chế thời
hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu nên các chủ thể có thể yêu
cầu bất kỳ lúc nào, thậm chí nếu không yêu cầu, các giao dịch đó cũng bị
xác định là vô hiệu.
Giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu: đây là những giao dịch mà mức
độ vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự không nghiêm
trọng. Sự vi phạm các điều kiện đó chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên
tham gia giao dịch cho nên các bên có thể yêu cầu hoặc không yêu cầu tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên các loại giao dịch dân sự vô
hiệu này sẽ bị giới hạn thời gian yêu cầu, nếu quá thời gian đó các chủ thể
của giao dịch dân sự vô hiệu không cong quyền này nữa.
 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của BLDS 2005: Thực
chất cách phân loại này dựa trên quy định của Điều 122 BLDS, từ đó đưa ra
các trường hợp khái quát sự vi phạm các điều kiên có hiệu lực của giao dịch
dân sự. Theo đó, giao dịch dân sự được chia thành:
Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức
xã hội: Đó là các giao dịch có mục đích và nội dung trái pháp luật và đạo
đức xã hội (căn cứ vào Điều 122 BLDS). Điều 128 BLDS quy định rõ “giao
dịch dân sự có mục đích và nội dung trái vi phạm điều cấm của pháp luật,
trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”
Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: đây là một trong các trường hợp giao
dịch dân sự vi phạm nguyên tắc tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch
bởi khi đó ý chí đích thực của chủ thể không hề đồng nhất với sự bày tỏ ý
chí. Tại Điều 129 BLDS, pháp luật có nêu ra 2 tình huống mà giao dịch dân
sự được xác lập do sự giả tạo hướng đến. Thứ nhất, nếu giao dịch đó được
xác lập nhằm mục đích che dấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô
hiệu, giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch bị che
dấu đó cũng vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Thứ 2,
nếu giao dịch đó được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3 thì
giao dịch đó vô hiệu.
Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:
(Điều 130 BLDS 2005) Như đã trình bày ở trên, những đối tượng này có thể
tham gia giao dịch dân sự chỉ khi có người đại diện thay họ xác lập, thực
hiện giao dịch. Khi xuất hiện các dấu hiệu vi phạm trong giao dịch dân sự,
người đại diện có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Giao dịch vô hiệu do bị nhầm lẫn: Theo cách hiểu thông thường thì nhầm
lẫn là sự nhận thức hoặc sự bày tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực bên
trong của các bên khi tham gia giao kết. Sự nhầm lẫn của các bên tham gia
giao dịch có thể xuất phát từ một phía hoặc từ cả 2 phía, có thể do thiếu kiến
thức hoặc những điều kiện nhất định để hiểu rõ ý tưởng của phía đối tác.
Tuy nhiên tại Điều 131 BLDS 2005 của nước ta chỉ quy định giao dịch dân
sự vô hiệu do bị nhầm lẫn do lỗi của 1 phía là phía đối tác. Như vậy trên
thực tế, trong công tác xử án của tòa án thường gặp nhiều khó khăn, lúng
túng khi gặp trường hợp lỗi làm cho nhầm lẫn thuộc về cả 2 bên tham gia
hoặc lỗi gây nhầm lẫn lại thuộc về chính người bị nhầm lẫn.
Trước khi yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, bên bị nhầm
lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên kí
không đồng ý thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự đó vô hiệu. Nếu một bên bị nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên kia thì
trường hợp này sẽ xác định giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối theo
quy định tại điều 132 BLDS.
Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của 1 bên nhằm làm cho
bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hay nội dung của
giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó. Do đó thể hiện không đúng ý chí của
mình. Để xác định được yếu tố lừa dối trong giao dịch dân sự phải căn cứ
vào 2 điều kiện: 1 bên có hành vi sử dụng thủ đoạn để lừa người khác và
người bị lừa phải nghe theo, làm theo một việc nào đó làm thiệt hại đến lợi
ích của họ.
Đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ
3 làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của mình
hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình (Điều 132 BLDS). Như vậy,
hành vi đe dọa là sự cố ý của một bên làm cho đối tác hay người tham gia
giao dịch với họ khiếp sợ đến mức họ phải thiết lập giao dịch mà không theo
ý muốn chủ quan của họ. Khi giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối,
đe dọa thì bên bị lừa dối, đe dọa có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch
dân sự đó vô hiệu.
Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình: loại giao dịch này áp dụng cho những người có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự. Dù vậy không phải lúc nào họ cũng có thể nhận
thức và làm chủ hành vi của mình được như rơi vào tình trang say rượu,
bia…Cho nên nếu họ xác lập giao dịch dân sự vào thời điểm không nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình thì họ có quyền yêu cầu tòa án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: Hình
thức của giao dịch dân sự được xác định là điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự trong trường hợp pháp luật quy định. Cho nên đối với các giao
dịch pháp luật buộc các bên phải thông qua một hình thức nhất định mà các
bên không thông qua hình thức này thì tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ấn định 1 thời hạn để các bên hoàn thành các thủ tục về hình
thức, quá thời hạn này mà các bên không thực hiện thì giao dịch dân sự đó
vô hiệu.
 Theo cách phân loại truyền thống thì giao dịch vô hiệu được chia làm 2
loại giao dịch vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và giao
dịch vô hiệu tương đối (còn gọi là vô hiệu bị tuyên). Đây là cách phân loại
khá phổ biến và được nhiều người thừa nhận hiện này. Cơ sở của cách phân
loại này dựa vào một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của 2
khái niệm, ngoài ra cách phân loại này cũng thể hiện được các trướng hợp cụ
thể được quy định trong pháp luật. Phân biệt 2 khái niệm này dựa vào các
điểm sau:
Đặc điểm Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt
đối
Giao dịch dân sự vô hiệu
tương đối
Trình tự vô
hiệu của
giao dịch
Mặc nhiên được coi là vô hiệu. Không mặc nhiên vô hiệu
Chỉ vô hiệu khi hội đủ
những điều kiện nhất định:
+ Đơn yêu cầu của người
có quyền và lợi ích liên
quan.
+ Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Thời hạn
yêu cầu
tuyên bố
giao dịch
vô hiệu
_Không bị hạn chế
_2 năm kể từ ngày giao dịch
dược xác lập đối với trường hợp
giao dịch dân sự vô hiệu do vi
phạm quy định bắt buộc về hình
thức (vì hiệu lực của giao dịch
phụ thuộc vào ý chí của chủ thể
mà không phải nhà nước.)
2 năm từ ngày giao dịch
dân sự được xác lập (Điều
136 BLDS 2005).
Hiệu lực
pháp lý của
giao dịch
Không có hiệu lực pháp lý,
không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia
giao dich ngay cả khi các chủ thể
đã tiến hành thực hiện các nội
dung đã cam kết.
Có hiệu lực pháp lý cho
đến khi bị tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu.
Bản chất
quyết định
của Tòa án
Quyết định của tòa án không
mang tính phán xử mà đơn thuần
chỉ là hình thức công nhận sự vô
hiệu của giao dịch dân sự. Ngoài
ra, quyết định của tòa án nhằm
xác định hậu quả pháp lý và
mang tính cưỡng chế buộc các
bên vi phạm phải thực hiệu hậu
quả của giao dịch vô hiệu.
Mang tính chất phán xử, là
cơ sở duy nhất khiến cho
giao dịch dân sự trở nên vô
hiệu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét