Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
- Tiền lơng đợc coi là một bộ phận của thu nhập quốc dân nên cơ chế
phân phối tiền lơng phụ thuộc vào vấn đề phân phối thu nhập quốc dân do Nhà
nớc quy định. Nếu nh vẫn duy trì cơ chế phân phối này, khi thu nhập quốc dân
còn nhiều thì phân phối nhiều, còn ít thì phân phối ít, hạn chế đến việc chi cho
bù đắp sức lao động đã hao phí, đó là cha nói đến tái sản xuất sức lao động.
- Tiền lơng không còn là mối quan tâm của công nhân viên chức trong
các doanh nghiệp Nhà nớc, điều họ quan tâm là những lợi ích phân phối ngoài l-
ơng.
Đó là những hạn chế của tiền lơng trong nền kinh tế thị trờng dới quan
niệm của xã hội chủ nghĩa
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nh ở nớc ta hiện
nay, phạm trù tiền lơng đợc thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực
kinh tế.
Trong thành phần kinh tế Nhà nớc và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền
lơng đợc coi là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức
của Nhà nớc trả cho ngời lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nớc và đ-
ợc thể hiện trong hệ thống thang lơng, bảng lơng do nhà nớc qui định.
Trong các thành phần về khu vực kính tế ngoài quốc doanh, tiền lơng
chịu sự tác động, chi phối rất lớn của thị trờng nói chung và của thị trờng lao
động nói riêng. Tiền lơng trong khu vực này dù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp
luật và theo những chính sách của Chính phủ, nhng là những giao dịch trực tiếp
giữa một bên làm thuê và một bên đi thuê đó là các hợp đồng lao động. Những
hợp đồng lao động này tác động trực tiếp đến phơng thức trả công.
Xét trong phạm vi một doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh, tiền lơng là một cấu thành chi phí sản xuất. Vì vậy, tiền lơng luôn
đợc tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với ngời lao động , tiền lơng là thu nhập
từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động
trong xã hội có ảnh hởng trực tiếp đến mức sống của họ. Phấn đấu nâng cao tiền
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
lơng là mục đích của tất cả những ngời lao động. Mục đích này tạo động lực
cho ngời lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Xét trên phạm vi toàn xã hội, tiền lơng đợc xem xét và đặt trong quan hệ
về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi và
do vậy các chính sách về tiền lơng, thu nhập luôn luôn là chính sách trọng tâm
của từng quốc gia. Chính sách này có liên quan đến động lực của sự phát triển
và tăng trởng kinh tế, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nớc, khai thác
khả năng tiềm tàng của mỗi ngời lao động.
Từ những quan điểm tiền lơng ở nhiều phơng diện khác nhau, ta có thể
khái quát tiền lơng nh sau: Tiền lơng là số tiền mà ngời sử dụng lao động trả
cho ngời lao động khi họ hoàn thành các công việc theo hợp đồng lao động,
và tiền lơng đợc trả theo năng suất lao động, chất lợng lao động và hiệu quả
công việc với mức lơng ngời lao động không thấp hơn mức lơng tối thiểu mà
ngời pháp luật quy định.
2. Vai trò cơ bản của tiền lơng
2.1. Vai trò là thớc đo giá trị
Từ trớc tới nay thì vai trò thớc đo giá trị là vai trò cơ bản nhất của tiền l-
ơng. Là cơ sở để điều chỉnh cho giá cả phù hợp mỗi khi giá cả biến động, là th-
ớc đo để xác định mức tiền công của các loại lao động, làm căn cứ thuê mớn lao
động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm. Tiền lơng thể hiện bằng tiền của
giá trị sức lao động. Vì vậy tiền lơng trở thành thớc đo giá trị sức lao động. Nói
cách khác, giá trị của sức lao động đợc phản ánh thông qua tiền công, nếu sức
lao động có giá trị càng cao thì mức trả công càng lớn và ngợc lại. Giá trị của
sức lao động đợc biểu hiện thông qua các yếu tố sau:
- Tính chất kỹ thuật của việc làm: các đặc thù về kỹ thuật và công nghệ
sử dụng của việc làm.
- Tính chất kinh tế của việc làm: vị trí của việc làm trong hệ thống quan
hệ lao động (làm quản lý, công nhân, nhân viên ).
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
- Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của ngời lao động: trình độ tay
nghề, kinh nghiệm, khả năng thành thạo nghề.
Quan điểm trên không trái với quan điểm của C.Mác: Tiền lơng là
biểu hiện của giá trị sức lao động, giá trị sức lao động đợc đo bằng giá trị t liệu
sinh hoạt cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất,
những giá trị của những chi phí nuôi dỡng con ngời trớc và sau tuổi có khả
năng lao động, những giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học hành.
Những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý của
con ngời, mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và giá cả các
t liệu sinh hoạt. Nh vậy tiền lơng thờng xuyên biến động xoay quanh giá trị, nó
phụ thuộc vào quan hệ cung- cầu và giá cả t liệu sinh hoạt.
2.2. Vai trò tái sản xuất sức lao động
Tái sản xuất sức lao động đợc thể hiện ở ba mặt sau:
Một là: duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân ngời lao
động.
Hai là: sản xuất ra sức lao động mới tức là nuôi dỡng các thế hệ kế tiếp.
Ba là: tăng cờng chất lợng của sức lao động là hoàn thiện kỹ năng lao
động và nâng cao trình độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn, và tích luỹ kinh
nghiệm.
Cũng nh các loại hàng hoá thông thờng khác, sức lao động có giá trị và
giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng sức lao động đợc đo bằng thời gian lao động cần thiết để
sản xuất ra sức lao động đã đa vào sử dụng. Để tái sản xuất sức lao động, trớc
hết con ngời phải tiêu dùng một lợng của cải vật chất nhất định để sản sinh và
nuôi dỡng con ngời từ khi còn trong bụng mẹ để sau này hình thành nên một
sức lao động tiềm tàng. C.Mác gọi đây là chi phí để sản xuất sức lao động mới:
Những ngời sở hữu sức lao động đều có thể chết đi. Muốn luôn luôn có ngời
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
lao động trên thị trờng nh sự chuyển hoá không ngừng của t bản đòi hỏi thì phải
làm cho họ sống vĩnh viễn nh cá nhân sống bằng cách sinh con đẻ cái.
Sức lao động là tổng thể năng lực hoạt động của con ngời bao gồm cả thể
lực và trí lực, C.Mác viết: Những lao động có ích hay những lao động sản
xuất, dù có muôn hình muôn vẻ đến đâu đi nữa thì sự thật về mặt sinh lý vẫn là:
chức năng cơ thể của con ngời và bất cứ chức năng nào giống nh vậy, dù có nội
dung và hình thức thế nào đi nữa thì chủ yếu vẫn là một sự tiêu phí của bộ óc,
của thần kinh, của bắp thịt, vì thế để bảo tồn và khôi phục lại sức lao động đã
hao phí đó, con ngời phải ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, phải tiêu dùng lợng t liệu
sinh hoạt và dịch vụ cần thiết . Nhng đó mới chỉ đơn thuần là sự bù đắp về mặt
thể chất, tái sản xuất sức lao động còn nhằm tăng cờng chất lợng của sức lao
động tức là giúp ngời lao động hoàn thiện kỹ năng lao động và nâng cao trình
độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn, và tích luỹ kinh nghiệm. C.Mác viết: Để
cho sức lao động phát triển theo hớng nhất định phải có sự giáo dục nào đó, mà
chính sự giáo dục này lại tốn một lợng hàng hoá ngang giá . Đây chính là nhu
cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho ngời lao động.
Tóm lại, giá trị sức lao động đợc đo bằng giá trị t liệu sinh hoạt và dịch
vụ cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất. Tiền l-
ơng chính là một hình thái biểu hiện của giá trị sức lao động, là sản phẩm tất
yếu thông qua trao đổi trên thị trờng hàng hoá sức lao động tạo điều kiện làm
chức năng khôi phục (tức tái sản xuất) sức lao động đã hao phí.
2.3. Vai trò kích thích lao động
Tiền lơng là bộ phận thu nhập chính của ngời lao động nhằm thoả mãn
phần lớn các nhu cầu về vật chất và văn hoá của ngời lao động. Do vậy, các mức
tiền lơng là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hớng sự quan tâm và
động cơ trong lao động của ngời lao động. Chức năng này đảm bảo khi ngời lao
động làm việc có năng suất cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì ngời sử dụng lao
động cần quan tâm đến việc tăng lơng cao hơn so với giá trị sức lao động để
kích thích ngời lao động. Ngoài việc tăng lơng ngời sử dụng lao động cần áp
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
dụng biện pháp thởng. Số tiền này bổ sung cho tiền lơng, mang tính chất nhất
thời, không ổn định nhng lại có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lợng và
hiệu quả lao động.
Khi độ lớn của tiền lơng phụ thuộc năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và của cá nhân ngời lao động nói riêng thì
họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lợng công
việc.
2.4. Vai trò tích luỹ
Tiền lơng trả cho ngời lao động phải bảo đảm duy trì đợc cuộc sống hàng
ngày trong thời gian làm việc, và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết
khả năng lao động hoặc gặp rủi ro.
2.5. Vai trò hoàn thiện các mối quan hệ xã hội
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền
lơng là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động.
Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lơng cao và tăng không ngừng
chỉ đợc thực hiện trên cơ sở hài hoà các mối quan hệ lao động. Việc gắn tiền l-
ơng với hiệu quả của ngời lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan
hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp
nhằm đạt đợc mức tiền lơng cao hơn. Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển
toàn diện của con ngời và thúc đẩy xã hội phát triển theo hớng dân chủ và văn
minh.
Nh vậy chúng ta có thể kết luận: ngày nay tiền lơng là một phạm trù
kinh tế- xã hội tổng hợp, là đòn bẩy kinh tế rất quan trọng trong sản xuất, đời
sống và các mặt khác của nền kinh tế- xã hội. Tiền lơng đợc trả đúng có tác
dụng đảm bảo tái sản xuất sức lao động; không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của ngời lao động; tạo điều kiện hoàn thiện các mối quan hệ
lao động; thúc đẩy ngời lao động và xã hội cùng phát triển.
3. Các mối quan hệ của tiền lơng
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
3.1. Tiền lơng và giá cả
Mối quan hệ tiền lơng và giá cả đợc biểu hiện thông qua mối liên hệ giữa
tiền lơng thực tế và tiền lơng danh nghĩa. Tiền lơng danh nghĩa đợc hiểu là số
tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động. Số tiền này nhiều hay ít
phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc v.v ngay trong quá trình lao
động.
Tiền lơng thực tế đợc hiểu là số lợng các loại hàng hoá tiêu dùng và các
loại dịch vụ cần thiết mà ngời lao động hởng lơng có thể mua đợc bằng tiền l-
ơng danh nghĩa của mình.
Nh vậy, tiền lơng thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lơng danh nghĩa
mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ
mà họ muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế
thông qua công thức sau:
I
TLTT
= I
TLDN
/ CPI
Trong đó:
I
TLTT
: là chỉ số tiền lơng thực tế.
I
TLDN
: là chỉ số tiền lơng danh nghĩa.
CPI: (Consumption Price Index) là chỉ số giá cả sinh hoạt.
Công thức trên cho ta thấy, chỉ số tiền lơng thực tế tỷ lệ thuận với chỉ số
tiền lơng danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả sinh hoạt.
Mối quan hệ giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế có ý nghĩa vô
cùng quan trọng khi giá cả sinh hoạt có biến động, cơ cấu tiêu dùng thay đổi.
Trong thực tế, ngời sử dụng và ngời cung ứng sức lao động cũng đã so sánh
mức lơng danh nghĩa với giá cả hiện hành để thống nhất một mức lơng thực tế
thích hợp, song không phải không xảy ra sự thiếu ăn khớp hoặc thậm chí sự
giãn cách khá lớn giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế, mà hậu quả là
giảm mức thoả mãn của ngời lao động.
Sự giảm sút tiền lơng thực tế khi giá cả hàng hoá tăng, đồng tiền mất giá
trong khi những thoả thuận về mức lơng danh nghĩa lại không điều chỉnh kịp
thời. Sự trì trệ này của tiền lơng là hiện tợng phổ biến trong nền kinh tế. Trong
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
nhiều trờng hợp, Chính phủ phải trực tiếp can thiệp bằng các chính sách cụ thể
để bảo hộ mức lơng thực tế cho ngời lao động bằng các biện pháp nh: yêu cầu
các doanh nghiệp có biện pháp trợ cấp lơng cho công nhân khi giá tiêu dùng
tăng, qui định lại mức lơng tối thiểu để làm căn cứ gốc cho chính sách trả lơng.
Theo quan điểm tái sản xuất sức lao động, cần phải bảo đảm tiền lơng
thực tế cho ngời lao động. Vì vậy, tiền lơng thực tế là mục đích trực tiếp của
ngời lao động hởng lơng. Đó cũng là đối tợng quản lý trực tiếp trong các chính
sách về thu nhập, tiền lơng và đời sống.
3.2. Tiền lơng và lạm phát.
ở mục trớc, mối quan hệ tiền lơng và lạm phát đợc đề cập đến trong quan
hệ giữa tiền lơng thực tế và tiền lơng danh nghĩa, qua giá cả và sự biến động của
giá cả các t liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết. Sự gia tăng về giá cả dẫn đến lạm
phát.
Lạm phát là tình trạng mất cân bằng về lợng tiền và khối lợng hàng hoá
trong lu thông.
Về cơ bản lạm phát làm cho tình trạng giá cả của hàng hoá tăng lên dẫn
đến tiền lơng thực tế giảm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát đợc đa ra
theo những quan điểm khác nhau. Chẳng hạn việc gia tăng chi tiêu của Chính
phủ (đầu t, mở rộng khu vực kinh tế nhà nớc ) làm tăng nhu cầu hàng hoá
trên thị trờng, do đó đẩy giá lên. Một nguyên nhân khác cũng có thể đợc kể đến
là do tăng lơng tạo ra. Vì tiền lơng làm tăng tổng cầu trong xã hội, do đó dễ kéo
giá lên. Mặt khác, tiền lơng cũng có thể làm tăng chi phí sản xuất sản phẩm của
các doanh nghiệp, làm cho giá thành tăng, đẩy chi phí tăng lên và dẫn đến lạm
phát.
Tiền lơng tăng lên cũng có nhiều nguyên nhân. Việc tăng lơng do nâng
cao trình độ và khả năng làm việc, tăng năng suất lao động (thờng không gây ra
lạm phát từ nguyên nhân này). Nhng nếu xét trên khía cạnh khác, lạm phát xảy
ra làm cho tiền lơng thực tế giảm, điều này sẽ dẫn đến đòi hỏi làm tăng tiền l-
ơng trong xã hội. Tiền lơng tăng do lạm phát xảy ra không gắn với tăng năng
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
suất lao động, nhng lại làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh. Đây là trờng hợp
lạm phát kéo theo tăng lơng.
Nh vậy, tiền lơng- lạm phát luôn là một trong những quan tâm hàng đầu
trong xã hội, trong các chính sách về thu nhập. Để tránh lạm phát và giảm sút
tiền lơng thực tế, cần phải bảo đảm việc tăng tiền lơng phải gắn với việc tăng
năng suất lao động. Ngợc lại, trong trờng hợp nền kinh tế bị thiểu phát (giá cả
và các chi phí nói chung hạ xuống) thì có thể dùng biện pháp tăng tiền lơng
không gắn với việc tăng năng suất lao động để kích cầu, nâng tỷ lệ lạm phát lên
trong phạm vi có thể kiểm soát đợc. Có ba loại chính sách về thu nhập có thể đ-
ợc áp dụng đó là:
- Các chính sách hớng dẫn giá cả- tiền lơng.
- Các chính sách kiểm soát giá cả và tiền lơng bắt buộc.
- Các chính sách khuyến khích bắt buộc.
3.3. Tiền lơng, năng suất và hiệu quả lao động.
Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế mà C. Mác gọi là sức sản
xuất của lao động cụ thể có ích. Nó là kết quả hoạt động sản xuất có mục đích
của con ngời trong một đơn vị thời gian nhất định.
Năng suất lao động đợc đo bằng số lợng sản phẩm sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian; hoặc bằng lợng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm.
Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất, nói chung ta
hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời
gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một loại hàng hoá, sao cho số lợng
lao động ít hơn mà lại có đợc sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn.
Lao động là quá trình kết hợp giữa lao động sống và lao động quá khứ,
lao động sống là sức lực con ngời bỏ ra ngay trong quá trình sản xuất, lao động
quá khứ là sản phẩm của lao động sống đã đợc vật hoá trong các giai đoạn sản
xuất trớc kia. Quan hệ giữa phần lao động sống và phần lao động quá khứ để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm thờng xuyên có sự thay đổi, khi năng suất lao
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
động tăng. C. Mác viết: Năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ, phần lao
động sống giảm bớt, còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhng tăng lên nh
thế nào để cho tổng số lao động chứa đựng trong hàng hoá ấy lại giảm đi; nói
một cách khác lao động sống giảm nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên. Nh
vậy ta thấy lao động sống càng có năng suất cao hơn thì càng đòi hỏi có sự kết
hợp với nhiều lao động quá khứ hơn. Từ quan điểm trên của C. Mác ta thấy, hạ
thấp chi phí lao động sống nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động cá nhân, hạ
thấp chi phí cả lao động sống và lao động quá khứ nêu rõ đặc điểm tăng năng
suất lao động xã hội. Do vậy tăng năng suất lao động xã hội là kết quả tổng hợp
của các yếu tố đầu vào.
Hiệu quả lao động nói lên sự tiết kiệm về thời gian, tiết kiệm sức lao động
của xã hội, phản ánh trong việc giảm bớt lợng lao động chi phí trong sản xuất
một đơn vị sản phẩm.
Tăng năng suất lao động là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
lao động. Hiệu quả đó thể hiện ở việc nâng cao sản lợng trong một đơn vị thời
gian hoặc giảm lợng lao động chi phí trong một đơn vị sản phẩm. Vì vậy, tốc độ
tăng năng suất lao động càng cao thì hiệu quả lao động sẽ càng lớn.
Các biểu hiện của tăng tiền lơng gắn với tăng hiệu quả lao động:
Một biểu hiện rõ rệt và quan trọng nhất trong mối quan hệ giữa tiền lơng
với hiệu quả lao động là tốc độ tăng năng suất lao động phải luôn luôn lớn hơn
tốc độ tăng của tiền lơng bình quân. Qui định tăng năng suất lao động nhanh
hơn tăng tiền lơng bình quân đồng thời là một trong những nguyên tắc quan
trọng khi tổ chức tiền lơng, đợc biểu hiện cụ thể nh sau:
Thứ nhất: tiền lơng cần tăng khi năng suất lao động tăng do sự đóng góp
của các nhân tố chủ quan của ngời lao động (nâng cao trình độ lành nghề, kinh
nghiệm làm việc ). Bên cạnh đó năng suất lao động cá nhân và xã hội tăng lên
do các nhân tố khách quan khác (đổi mới công nghệ, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên ). Nh vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có khả năng
khách quan tăng lớn hơn tốc độ tăng của tiền lơng bình quân. Không những thế,
đây còn là biểu hiện mối quan hệ lớn nhất trong xã hội đó là quan hệ giữa sản
Kinh tế lao động 41A
Luận văn tốt nghiệp Phan Thị Bích Ngọc
xuất và tiêu dùng, giữa tốc độ phát triển của khu vực I (khu vực sản xuất ra t
liệu sản xuất) và khu vực II (khu vực sản xuất ra t liệu tiêu dùng). Qui luật tái
sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực II, bởi vì
không phải toàn bộ sản phẩm của khu vực II đợc dùng cho tiêu dùng nhằm nâng
cao tiền lơng mà một phần trong đó đợc dùng để tích luỹ. Do vậy tốc độ tăng
sản phẩm xã hội tính bình quân trên đầu ngời (cơ sở của năng suất lao động
bình quân) phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm bình quân tính theo đầu
ngời của khu vực II (cơ sở của tiền lơng thực tế). Điều này chỉ ra rằng muốn
tăng tiền lơng thì phải tăng năng suất lao động với tốc độ cao hơn, vi phạm
nguyên tắc này sẽ gây ra những khó khăn trong việc phát triển sản xuất, nâng
cao đời sống cho ngời lao động.
Thứ hai: mối quan hệ giữa tiền lơng và hiệu quả lao động là mức chi phí
tiền lơng cho đơn vị sản phẩm (đơn giá giá trị sản lợng, thu nhập, lợi nhuận)
giảm hay giá trị hàng hoá sản xuất ra trên một đồng chi phí tiền lơng (thu nhập
hoặc lợi nhuận) tăng.
Trong nền kinh tế thị trờng, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả khi bảo
đảm chất lợng sản phẩm đợc nâng cao, và hạ giá thành sản phẩm. Việc giảm chi
phí tiền lơng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm giá thành sản
phẩm từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Thứ ba: mối quan hệ của tiền lơng với hiệu quả lao động, tiền lơng phải
tạo động lực cho ngời lao động không ngừng nâng cao trình độ lành nghề, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngời lao động. Các điều kiện tiên quyết
để tiền lơng thực sự trở thành động lực của ngời lao động và phát triển kinh tế là
tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa tiền lơng với kết quả sản xuất kinh doanh, và
năng suất lao động cá nhân. Tiền lơng phải phản ánh trình độ tay nghề, hiệu quả
lao động cá nhân. Nói một cách khác phải thực hiện triệt để nguyên tắc phân
phối theo lao động, phù hợp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp và mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội nói chung.
Tuy nhiên cần nhận thức rằng, quan điểm tiền lơng thấp hợp lý đã dẫn
đến vòng luẩn quẩn. Việc duy trì các mức tiền lơng thấp sẽ không tạo ra các
Kinh tế lao động 41A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét