Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Cho đến nay, nhu cầu và thực tiễn kiểm toán đã phát triển ở mức độ cao trên
thế giới bằng sự xuất hiện nhiều loại hình kiểm toán, nhiều mô hình tổ chức và
bằng sự thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhng ở Việt Nam,
kiểm toán mới chỉ thực sự xuất hiện vào tháng 5-1991 bằng sự ra đời của hai công
ty kiểm toán đầu tiên là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch
vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC). Do vậy, lý luận về kiểm toán
cha thực sự đợc phát triển tơng xứng với yêu cầu thực tế, đặc biệt là trong thời
điểm hiện nay, khi nền kinh tế đất nớc đang từng bớc phát triển theo cơ chế thị tr-
ờng.
Chính thức thành lập vào năm 1991, VACO là công ty kiểm toán đầu tiên ra
đời và đi vào hoạt động đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế đất nớc. Trải
qua hơn 10 năm phát triển và hoàn thiện, mặc dù gặp không ít những khó khăn,
thử thách, đến nay, kiểm toán đã trở thành một bộ phận chủ yếu trong chức năng
hoạt động của Công ty.
Qua quá trình thực tập tại Công ty, tôi nhận thấy rằng có nhiều vấn đề cần
nghiên cứu và học hỏi trong sự so sánh giữa lý thuyết đợc cung cấp ở nhà trờng và
thực tiễn quy trình hoạt động kiểm toán của Công ty, trong đó nổi lên một vấn đề
rất đáng quan tâm xem xét là việc vận dụng đánh giá trọng yếu và rủi ro trong
công tác kiểm toán. Trọng yếu và rủi ro là hai khái niệm quan trọng đối với việc
thực hiện một cuộc kiểm toán, mặc dù nó tơng đối trừu tợng. Đánh giá trọng yếu
và rủi ro là cơ sở để kiểm toán viên xây dựng kế hoạch thu thập bằng chứng, lựa
chọn nội dung và phơng pháp kiểm toán thích hợp, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu
kiểm toán. Việc áp dụng các phơng pháp và xây dựng các mô hình đánh giá trọng
yếu và rủi ro có ý nghĩa và tác dụng to lớn trong toàn bộ quy trình kiểm toán Báo
cáo tài chính (BCTC). Nhận thức đợc điều đó, tôi đã lựa chọn và đi sâu nghiên cứu
và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lợng công tác kiểm toán qua đề tài: "Hoàn
thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán BCTC tại Công ty Kiểm toán Việt Nam".
Bài viết bao gồm ba nội dung chính:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chơng I: Lý luận chung về trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán BCTC.
Chơng II: Vận dụng đánh giá trọng yếu và rủi ro trong thực tế hoạt động
kiểm toán BCTC tại VACO.
Chơng III: Nhận xét và kiến nghị về các giải pháp nâng cao chất lợng
công tác kiểm toán qua vận dụng đánh giá trọng yếu và rủi ro.
Với những hạn chế về thời gian và phạm vi tìm hiểu thông tin, bài viết chỉ
dừng lại ở mức độ nghiên cứu của một sinh viên tốt nghiệp, cha thể đề cập đợc
trọn vẹn tất cả các vấn đề có liên quan. Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc ý kiến nhận
xét của thầy cô giáo và các bạn về bài viết để tự nâng cao kiến thức cho bản thân
và có thể hoàn thiện hơn cho các lần nghiên cứu sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.S Tô Văn Nhật, ngời đã tận tình h-
ớng dẫn tôi viết và hoàn thiện chuyên đề này. Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị
kiểm toán viên VACO, đặc biệt là chị Thái Thanh Hải, đã tạo điều kiện và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực tập tại Công ty.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chơng I: Lý luận chung về trọng yếu và rủi ro
trong kiểm toán Báo cáo tài chính
I khái niệm và tầm quan trọng của trọng yếu và rủi ro
trong kiểm toán Báo cáo tài chính
1.Khái niệm trọng yếu, nội dung và ý nghĩa trong kiểm toán BCTC.
1.1)Khái niệm trọng yếu:
Trọng yếu là khái niệm chỉ rõ tầm cỡ (độ lớn) và tính hệ trọng (bản chất) của
sai phạm thông tin tài chính có ảnh hởng hoặc làm thay đổi tính đúng đắn của
việc nhận thức và đánh giá đối tợng kiểm toán và việc sử dụng ý kiến đánh giá đó
để ra quyết định quản lý. Có thể trích đoạn ý kiến kiểm toán viên trong một mẫu
báo cáo kiểm toán chung nh sau :
Theo ý kiến của chúng tôi, xét trên các khía cạnh trọng yếu, BCTC của
Công ty X đã trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính của công
ty vào thời điểm 31/12/xx và kết quả các mặt hoạt động kinh doanh và các dòng
tiền mặt cho năm tài chính kết thúc cùng ngày phù hợp với các nguyên tắc kế toán
đợc thừa nhận.
Đây là một báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần, có cách diễn đạt
phổ biến trong việc thể hiện ý kiến nhận xét của kiểm toán viên. Chuẩn mực kiểm
toán quốc tế đã quy định: báo cáo kiểm toán phải nêu rõ ý kiến của kiểm toán
viên về các BCTC trên phơng diện phản ánh trung thực (hoặc trình bày trung thực
trên mọi khía cạnh trọng yếu), trên phơng diện tuân thủ Chế độ kế toán đợc xác
định, và nếu cần, cả trên phơng diện tuân thủ các quy định pháp lý hiện hành.
Thuật ngữ phản ánh trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu hoặc trình bày
trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu đợc sử dụng trong đoạn đa ra ý kiến của
kiểm toán viên là tơng đơng nhau và có ý nghĩa để thông báo với ngời sử dụng là
các Báo cáo tài chính trình bày trung thực chứ không phải chính xác tuyệt đối và
việc nêu ý kiến của kiểm toán viên đợc giới hạn ở các thông tin tài chính có tính
trọng yếu.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2)ý nghĩa của trọng yếu trong kiểm toán.
Đánh giá trọng yếu và rủi ro là công việc rất quan trọng trong việc lập kế
hoạch kiểm toán và thiết kế phơng pháp kiểm toán. Kiểm toán viên đánh giá tính
trọng yếu khi họ quyết định xem:
-Khoản mục nào cần kiểm tra.
-Cần tiến hành loại hình kiểm soát nào và đặc biệt cần cân nhắc xem nên lựa
chọn sử dụng phơng pháp chọn mẫu nào.
-Thu thập số lợng bằng chứng kiểm toán và lựa chọn thủ tục kiểm toán nh thế
nào là thích hợp.
Khi phát hiện ra một sai sót hoặc gian lận mà kiểm toán viên không thể tán
thành, trớc tiên kiểm toán viên phải xét đoán nó quan trọng và ảnh hởng thế nào
đến quan điểm của anh ta về các BCTC của doanh nghiệp. Nếu xác định đó là sai
phạm trọng yếu, kiểm toán viên sẽ báo cho khách hàng để họ sửa lại BCTC.
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 700 đã quy định: một ý kiến chấp nhận
toàn phần phải đợc đa ra trong trờng hợp kiểm toán viên cho rằng BCTC phản ánh
trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của doanh nghiệp, phù
hợp với Chế độ kế toán đợc xác định.
ý kiến chấp nhận từng phần đợc đa ra trong trờng hợp kiểm toán viên cho
rằng không thể đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần và những phần bị ngoại trừ, do
bất đồng với Ban quản lý hay do công tác kiểm toán bị giới hạn, là không trọng
yếu hoặc không liên quan đến một số lợng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn
đến ý kiến không chấp nhận. ý kiến chấp nhận từng phần đợc thể hiện bởi thuật
ngữ ngoại trừ ảnh hởng của các vấn đề bị ngoại trừ.
ý kiến không chấp nhận phải đợc đa ra trong trờng hợp việc bất đồng với
Ban quản lý là trọng yếu hoặc do giới hạn về phạm vi kiểm toán tới mức mà kiểm
toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là cha đủ để thể hiện tính chất,
thiếu sót hay sai lạc của BCTC. Mỗi khi kiểm toán viên đa ra ý kiến không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần, kiểm toán viên phải mô tả rõ ràng trong báo cáo tất
cả các lý do chủ yếu dẫn đến ý kiến đó và định lợng (nếu đợc) lên BCTC.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Từ yêu cầu trên, đòi hỏi kiểm toán viên phải có sự hiểu biết thấu đáo về cách
đánh giá và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán để xác định ý kiến nhận xét
trong báo cáo kiểm toán. Nói cách khác, trọng yếu là một trong những khái niệm
cơ bản thuộc nội dung kiểm toán mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn
phải quan tâm trong khi thực hiện chức năng kiểm toán.
Trách nhiệm của kiểm toán viên đợc quy định trong Chuẩn mực kiểm toán
trên là xác định xem các BCTC có bị sai phạm trọng yếu hay không, nghĩa là phải
phát hiện tất cả các sai phạm trọng yếu chứ không phải là toàn bộ sai phạm trong
BCTC. Bởi vì, xét trên góc độ kiểm toán, thực trạng hoạt động tài chính cũng nh
hiệu qủa nghiệp vụ là vấn đề rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán đợc tất
cả các thông tin đã và cha thu đợc của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm
toán. Hơn nữa, ngời sử dụng cũng chỉ quan tâm đến bản chất của thực trạng tài
chính và hiệu quả hoạt động. Mặt khác, với sự hạn chế về chi phí cũng không cho
phép kiểm toán viên đợc thực hiện kiểm toán đối với tất cả các đối tợng cụ thể,
cũng nh khi đã phát hiện ra các sai phạm cụ thể, kiểm toán viên cũng không thể
yêu cầu khách hàng điều chỉnh tất cả các sai phạm đó mà không xem xét đến mức
độ ảnh hởng của nó trong toàn bộ nội dung kiểm toán. Điều đó dẫn đến một yêu
cầu tất yếu là phải lựa chọn nội dung kiểm toán tối u, vừa đánh giá đúng bản chất
của đối tợng kiểm toán vừa đáp ứng nhu cầu kịp thời của ngời quan tâm với giá
phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện tốt chức năng kiểm toán.
Vấn đề này chỉ có thể giải quyết trên cơ sở lựa chọn đúng và đủ những điều
cốt yếu, cơ bản, phản ánh đúng bản chất của đối tợng kiểm toán, tức là các nội
dung kiểm toán trọng yếu. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc có thể lợc bỏ, cho
qua những vấn đề không cơ bản, không phản ánh đúng bản chất, những sai phạm
không trọng yếu và từ đó không ảnh hởng tới việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn
đối tợng kiểm toán. Ngợc lại, nếu bỏ qua những điểm cốt yếu trong khi hớng chú
ý nhiều vào những điều không có vị trí xứng đáng và không thuộc bản chất của
đối tợng thì sẽ có những nhận thức sai và từ đó có quyết định không phù hợp trong
quản lý, trong khi khối lợng công việc kiểm toán vẫn lớn.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vì vậy, trọng yếu là khái niệm có ý nghĩa rất lớn trong kiểm toán, nắm vững
nội dung và cách vận dụng tính trọng yếu là một yêu cầu quan trọng đối với kiểm
toán viên trong công tác kiểm toán.
1.3)Nội dung của trọng yếu:
Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội dung và kết quả kiểm toán nh đã trình
bày trên, khái niệm trọng yếu đã bao hàm hai mặt: quy mô và bản chất của khoản
mục.
*Về quy mô, trong kiểm toán khó có thể ấn định con số tuyệt đối, cụ thể về
giá trị cho những điểm cốt yếu của nội dung kiểm toán, đặc biệt là khi có các yếu
tố tiềm ẩn. Vì vậy, ranh giới của quy mô đợc xét chủ yếu trong quan hệ với mức
độ ảnh hởng của các khoản mục, nghiệp vụ đến kết luận kiểm toán, từ đó tới việc
ra quyết định của ngời sử dụng thông tin đã đợc kiểm toán. Theo nội dung này,
trọng yếu thờng đợc đánh giá theo quy mô tơng đối hơn là quy mô tuyệt đối.
Có ba mức độ khác nhau để đánh giá tính trọng yếu theo quy mô: quy mô
nhỏ-không trọng yếu, quy mô lớn nhng cha đủ quyết định nhận thức về đối tợng-
có thể không trọng yếu, quy mô lớn-đã đủ quyết định nhận thức về đối tợng kiểm
toán-trọng yếu. Việc đánh giá này sẽ đợc trình bày rõ hơn ở mục sau của phần
này.
*Về bản chất, tính trọng yếu đợc quyết định bởi vị trí hay tính hệ trọng của
phần nội dung cơ bản trong đối tợng kiểm toán. Trong mối quan hệ đó, tất cả các
khoản mục, nghiệp vụ đợc xem là trọng yếu xét về bản chất thờng bao gồm các
khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận, xem xét trên
tính chất và đặc điểm của việc thực hiện và ghi chép các khoản mục, nghiệp vụ
đó; các khoản mục, nghiệp vụ bao hàm sai sót (không cố ý) hệ trọng xét về tính
chất vi phạm hoặc ảnh hởng của nó đến các khoản mục trọng yếu khác.
Trong kiểm toán, tính trọng yếu đợc xem xét áp dụng cho tất cả các báo cáo:
Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo Kết quả kinh doanh, Khi lập ra một báo cáo,
tính trọng yếu đợc áp dụng trong việc điều chỉnh, phân loại và trình bày tất cả các
khoản mục, nghiệp vụ có liên quan.
Tất cả các khoản mục, nghiệp vụ thuộc bản chất đối tợng kiểm toán đều liên
quan trực tiếp đến việc nhận thức đúng và đa ra ý kiến kiểm toán. Vì vậy, khái
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
niệm trọng yếu đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán với nguyên tắc
không bỏ qua các khoản mục, nghiệp vụ có quy mô lớn và có tính hệ trọng, phản
ánh bản chất đối tợng. Vi phạm nguyên tắc này có nghĩa là không nắm vững nội
dung của trọng yếu thì kiểm toán viên đã tạo ra rủi ro cho cuộc kiểm toán. Do đó,
khi đánh giá tính trọng yếu của một nội dung hay một phát hiện kiểm toán cụ thể,
kiểm toán viên phải xem xét trên cả hai mặt là quy mô và bản chất của vấn đề, từ
đó mới đa ra quyết định hợp lý về tính trọng yếu, đảm bảo mục tiêu và chất lợng
cuộc kiểm toán.
2.Rủi ro kiểm toán.
Rủi ro kiểm toán là khả năng tồn tại sai sót trọng yếu sau khi kiểm toán viên
thực hiện tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết và đa ra ý kiến chấp nhận.
Khi lập kế hoạch kiểm toán cho từng hợp đồng cụ thể, kiểm toán viên phải
dự kiến các trờng hợp rủi ro và những thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện ra những
sai lầm trọng yếu trong các BCTC mà nguồn gốc của nó là gian lận và sai sót.
Kiểm toán viên lập kế hoạch và thực thi công việc kiểm toán với một thái độ hoài
nghi nghề nghiệp để rủi ro kiểm toán nếu có xảy ra thì cũng ở mức độ chấp nhận
đợc.
Nh đã biết, đối tợng kiểm toán là những thông tin đợc kiểm toán qua nhiều
giai đoạn bằng những bộ máy quản lý và các phơng thức, thủ tục kiểm soát khác
nhau nên rủi ro kiểm toán cũng đợc xác định tơng ứng đối với từng loại đối tợng
kiểm toán. Rủi ro bao gồm ba loại:
2.1)Rủi ro tiềm tàng:
Rủi ro tiềm tàng là các khả năng trong BCTC có những sai sót trọng yếu trớc
khi xem xét tính hiệu lực của hệ thống KSNB của doanh nghiệp đợc kiểm toán.
Chẳng hạn với một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao thì khả năng
hàng tồn kho của doanh nghiệp bị giảm giá do sự tiến bộ khoa học cao, do đó, rủi
ro tiềm tàng đối với khoản mục này là cao.
Việc đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng thờng đợc thực hiện trên cơ sở những
hiểu biết của kiểm toán viên về công việc kinh doanh và bản chất kinh doanh của
khách hàng. Điều này có thể chứa đựng bất cứ thông tin nào từ kiến thức về kế
hoạch chiến lợc đến những thông tin cụ thể về từng hoạt động của khách hàng. Nó
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cũng bao gồm những hiểu biết về ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh,
khả năng phát triển trong tơng lai. Nếu kiểm toán viên không lý giải đợc những
vấn đề về bản chất kinh doanh của khách hàng thì có thể sẽ không nhận biết và
không xác định đợc những khu vực rủi ro quan trọng trong nội dung của đối tợng
kiểm toán.
Do vậy, việc đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hay thấp là cơ sở để lựa chọn các
phơng pháp kiểm toán, xác định khối lợng công việc, thời gian, nhân viên và chi
phí cần có cho một cuộc kiểm toán.
2.2)Rủi ro kiểm soát:
Rủi ro kiểm soát đợc hiểu là khả năng hệ thống KSNB của doanh nghiệp
không phát hiện và ngăn chặn đợc các gian lận và sai sót. Chẳng hạn, kho bãi của
doanh nghiệp không có ngời bảo vệ thì khả năng bị mất mát hàng tồn kho cao.
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát đợc thực hiện thông qua việc tìm hiểu về thiết
kế và hoạt động của hệ thống KSNB của khách hàng. Công việc này đợc tiến hành
ở hai cấp độ:
*Môi trờng kiểm soát: là tất cả các chính sách, thủ tục và hoạt động tạo
thành cơ sở để nâng cao hiệu lực của các thủ tục kiểm soát riêng biệt.
*Các thủ tục kiểm soát riêng biệt: gồm các thủ tục kiểm soát chi tiết liên
quan trực tiếp đến nghiệp vụ và tài sản của doanh nghiệp.
Kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và hệ thống
KSNB, đánh giá chính xác mức độ rủi ro kiểm soát để vạch kế hoạch kiểm toán và
xây dựng phơng pháp kiểm toán thích hợp. Sự hiểu biết về hệ thống KSNB, hệ
thống kế toán, sự đánh giá xác đáng rủi ro kiểm soát cùng với sự đánh giá về rủi
ro tiềm tàng cũng nh mọi cân nhắc khác sẽ giúp cho kiểm toán viên:
-Xác định đợc các loại thông tin sai sót nghiêm trọng có thể xảy ra trong
BCTC.
-Xem xét nhân tố tác động đến khả năng để xảy ra sai sót nghiêm trọng.
-Thiết kế phơng pháp kiểm toán cơ bản thích hợp.
2.3)Rủi ro phát hiện:
Rủi ro phát hiện là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện ra các
sai sót trọng yếu hiện có trong quá trình kiểm toán BCTC. Chẳng hạn, kiểm toán
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
viên không phát hiện ra một khoản gian lận tiền mặt của kế toán thanh toán sau
khi đã tiến hành các thủ tục kiểm toán cần thiết.
Việc đánh giá rủi ro phát hiện là tuỳ thuộc và xét đoán chủ quan của kiểm
toán viên. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cần xác định rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát, dựa vào đó, dự kiến một khả năng rủi ro phát hiện hợp lý, đảm
bảo sự tin cậy cho việc đa ra ý kiến, để sai sót nếu có xảy ra cũng chỉ có thể ở một
mức độ chấp nhận đợc.
Mục đích của hệ thống KSNB trong doanh nghiệp là nhằm phát hiện, ngăn
chặn các sai sót và gian lận. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nh đã nói ở phần trên, có
những gian lận và sai sót mà bản thân hệ thống KSNB của doanh nghiệp cũng
không phát hiện ra, do đó cũng không ngăn chặn đợc. Nhiệm vụ của các kiểm
toán viên là phát hiện những gian lận và sai sót này khi thực hiện các thủ tục kiểm
toán. Rủi ro phát hiện có thể xảy ra khi kiểm toán viên áp dụng thủ tục kiểm toán
không thích hợp, áp dụng sai phơng pháp hoặc giải thích sai các phát hiện kiểm
toán, hoặc phạm vi kiểm toán có thể bị giới hạn bởi một lý do nào đó. Rủi ro này
tồn tại độc lập với các thông tin tài chính, nằm ngoài mong muốn và sự kiểm soát
của kiểm toán viên. Việc đánh giá rủi ro phát hiện để giúp kiểm toán viên xác
định số lợng bằng chứng cần thiết để thu thập nhằm bảo đảm một mức rủi ro kiểm
toán thấp nhất.
3.Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro với bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán là các thông tin mà kiểm toán viên thu thập, đảm bảo
tính đầy đủ và thích hợp, để chứng minh cho ý kiến của kiểm toán viên.
Giữa bằng chứng kiểm toán và trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau: trọng yếu và rủi ro là nhân tố quan trọng xác định số lợng và loại bằng
chứng. Nếu mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đợc đánh giá càng cao thì
kiểm toán viên càng phải thu thập nhiều bằng chứng từ việc thực hiện kiểm tra chi
tiết số liệu. Trong trờng hợp mức độ đánh giá là cao, kiểm toán viên phải quyết
định xem các biện pháp kiểm tra chi tiết có cung cấp đủ bằng chứng để giảm rủi
ro phát hiện và qua đó giảm rủi ro kiểm toán xuống một mức có thể chấp nhận đ-
ợc hay không. Trong trờng hợp kiểm toán viên nhận thấy rằng không thể giảm rủi
ro phát hiện liên quan đến một số cơ sở dẫn liệu (CSDL) để đánh giá các số d tài
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khoản trọng yếu trong BCTC xuống một mức độ chấp nhận đợc, thì kiểm toán
viên phải đa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc không chấp nhận. Mối quan hệ
đó thể hiện rõ hơn khi xem xét hai yêu cầu về quy mô và tính chất của bằng
chứng kiểm toán:
a)Tính đầy đủ (số lợng) của bằng chứng kiểm toán liên quan đến những thủ
tục kiểm toán mà kiểm toán viên tiến hành: kiểm toán viên quyết định phơng pháp
và mức độ cần thiết đối với việc áp dụng các thủ tục kiểm toán dựa trên đánh giá
về trọng yếu và rủi ro bằng cách xem xét tính chất của số d tài khoản hay loại
hình nghiệp vụ, bao gồm cả bản chất và quy mô của những khoản mục trong
BCTC, hay nói cách khác là mức trọng yếu đợc đánh giá đối với từng khoản mục,
nghiệp vụ. Những khoản mục hay nghiệp vụ đợc đánh giá là trọng yếu, xét trên cả
quy mô và tính chất, thì số lợng bằng chứng đòi hỏi là lớn hơn so với các khoản
mục hay nghiệp vụ đợc đánh giá là không trọng yếu. Do vậy, kiểm toán viên cần
phải tiến hành các thủ tục kiểm toán ở mức độ cao và trên phạm vi rộng để đảm
bảo thu thập đợc số lợng bằng chứng cần thiết để chứng minh cho sự tồn tại hay
không tồn tại sai sót trọng yếu trong các khoản mục trên BCTC. Cụ thể hơn, trọng
yếu cũng có ảnh hởng trực tiếp đến số lợng bằng chứng cần thu thập trong bớc
phân bổ ớc lợng ban đầu cho các bộ phận trên BCTC, bộ phận nào đợc phân bổ
mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu với số tiền nhỏ hơn sẽ phải thu thập nhiều
bằng chứng hơn so với bộ phận nào đợc phân bổ với số tiền lớn hơn. Nói cách
khác, mức phân bổ này có quan hệ tỷ lệ nghịch với số lợng bằng chứng cần thu
thập của mỗi bộ phận trong nội dung kiểm toán.
Kiểm toán viên thờng dựa vào kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát, rồi dự kiến rủi ro phát hiện để xây dựng rủi ro kiểm toán chấp nhận đ-
ợc, lập kế hoạch thu thập số lợng bằng chứng thích hợp cho mỗi mục tiêu kiểm
toán cụ thể. Có thể tổng hợp trên bảng sau:
Bảng 1: Mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng kiểm toán
Trờng
hợp
Rủi ro
kiểm toán
Rủi ro
tiềm tàng
Rủi ro
kiểm soát
Rủi ro
phát hiện
Số lợng
bằng chứng
1 Cao Thấp Thấp Cao Thấp
2 Thấp Thấp Thấp TB TB
3 Thấp Cao Cao Thấp Cao
4 TB TB TB TB TB
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét