Cũng theo Từ điển văn học, tượng trưng là khái niệm vừa mang
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa rộng, tượng trưng là một phạm trù
phổ quát của mỹ học, được xác lập thông qua việc đối chiếu hai phạm trù
kề cận: một phía là hình tượng nghệ thuật, một phía là kí hiệu. Tượng
trưng là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu, và là kí hiệu chứa tính
đa nghĩa của hình tượng. Mọi tượng trưng đều là hình tượng (và hình
tượng đều là tượng trưng ở những mức khác nhau) nếu ở hình tượng ấy
luôn luôn hiện diện một nghĩa nào đó, tuy hòa với hình tượng nhưng
không bị đồng nhất hoàn toàn vào hình tượng. Hình tượng khách thể và
hàm nghĩa chiều sâu là hai cực không tách rời nhau của tượng trưng (bởi
vì tách khỏi hình tượng thì nghĩa sẽ mất tính biểu hiện, mà tách khỏi
nghĩa thì hình tượng sẽ bị phân rã thành các yếu tố) nhưng tượng trưng
được bộc lộ chính là qua cả sự phân li lẫn sự liên kết giữa chúng. Nhập
vào tượng trưng, hình tượng sẽ trở nên “trong suốt”, nghĩa sẽ “soi rọi”
qua nó, trở thành nghĩa hàm, có chiều sâu, có viễn cảnh. Nghĩa của tượng
trưng là cái không thể giải mã bằng nỗ lực lí trí, nó đòi hỏi sự thâm nhập.
Đây chính là sự khác biệt căn bản của tượng trưng so với phúng dụ. ở
tượng trưng không tồn tại một nghĩa nào đó dưới một vài định thức duy lí
để có thể đem đặt và sau đó rút ra khỏi hình tượng.Tượng trưng là hình
tượng mà” phải được hiểu như nó vốn là vậy, và chỉ nhờ thế mới nắm bắt
được cái mà nó biểu đạt” (F.WScheking). Cấu trúc của tượng trưng
thường nhằm làm cho mỗi hiện tượng đơn lẻ được thấm nhuần tính chất
“khởi thủy”, thông qua đó đem lại một hình tượng hoàn chỉnh về thế giới.
Cấu trúc của tượng trưng là đa tầng và có dự tính đến nỗ lực của tâm thức
của người tiếp nhận. Hàm nghĩa của tượng trưng không phải là cái có sẵn
mà như một xu thế động. Hàm nghĩa naỳ không thể nắm được nhờ phân
tích, quy thành một định thức đơn trị, chỉ có thể soi rọi đối sánh nó với
những kết hợp mang tính tượng xa hơn, có sự sáng rõ của lí tính hơn,
nhưng không đạt tới khái niệm thuần khiết. Học thuyết tượng trưng của
phái Platon, mô tả mọi thứ nhìn thấy được như là tượng trưng và thực thể
nhìn thấy được như là tượng trưng của bản chất thượng đế vốn sâu kín, vô
định, không hiển thị vì vậy những tầng nấc thấp của trật tự thứ bậc thế
giới tái tạo theo lối tượng trưng hình ảnh của những tầng nấc tối cao,
khiến trí óc có thể đi lên theo thang bậc hàm nghĩa.
Theo nghĩa hẹp tượng trưng là một dạng chuyển nghĩa (cùng loại
với phúng dụ). Sự tiếp hợp của hai bình diện - nội dung “vật thể” của hình
tượng và nghĩa bóng của nó- có thể hoặc là hiển nhiên (khi hai bình diện
đều có mặt trong văn bản).Khi đó sẽ có một đối sánh tượng trưng, hoặc là
ẩn kín. Khi đó sự ám chỉ sẽ nằm ở mạch ngầm văn bản và toàn bộ tác
phẩm sẽ mang ý nghĩa tượng trưng. Ơ mức giới hạn, mỗi yếu tố của hệ
thống nghệ thuật ( ẩn dụ, tỉ dụ, tả cảnh ) đều có thể trở thành tượng
trưng được hay không là do một loạt dấu hiệu :
a. Độ cô đúc của khái quát nghệ thuật
b. Dụng ý của tác giả muốn lộ ra ý nghĩa tượng trưng của các điều
mình muốn miêu tả.
c. Văn cảnh tác phẩm, khi ý nghĩa tượng trưng của một vài yếu tố
hình tượng lộ ra, bất chấp ý định của tác giả, điều này được xác nhận
thêm khi xem xét toàn bộ hệ thống sáng tác của nhà văn. Đôi khi ý nghĩa
tượng trưng của một yếu tố cụ thể lại là tín hiệu về một “lời giải”,được
nhấn mạnh khi đó có thể coi yếu tố này như một mô tip hoặc chủ đạo.
d. Văn cảnh văn học của thời đại và văn hóa
Trong văn xuôi, ta thấy tượng trưng dược thể hiện ở chi tiết truyện,
qua tình tiết truyện, có thể cả tình huống truyện nữa. Thử dừng lại ở tình
huống -tượng trưng trong truyện ngắn. Tình huống tượng trưng là kiểu
tình huống trong đó cái ý nghĩa của hình tượng sự bộc lộ chủ đề rất kín
đáo, thậm chí có khi bị phủ một lớp sương mù huyền hoặc. theo nghĩa
rộng thì tượng trưng là hình tượng được biểu hiện ở bình diện kí hiệu, là
kí hiệu chứa tính đa nghĩa của hình tượng, vừa không đồng nhất hoàn toàn
với hình tượng. Ví dụ trong truyện ngắn “Phiên chợ Giat” của Nguyễn
Minh Châu, có cái nét nhòe mơ hồ, cái không xác định của hình tượng và
là một thế giới quyện nhòe của hư và thực, đó là những kí hiệu riêng của
nhà văn. Trong truyện ngắn này “giấc mơ” như là hình tượng chính “thức
giấc vì một giấc mơ”, “trong cơn mơ ngủ”, “thức giấc vì một giấc mơ”.
như thế giấc mơ đã trở thành một tình huống tượng trưng trong thiên
truyện này.
Như vậy, tượng trưng trong văn học rất đa dạng nó như một
phương tiện để tác giả truyền tải ý đồ nghệ thuật của mình. Tượng trưng
trong thơ càng phong phú hơn, hầu hết các nhà thơ đều coi thủ pháp nghệ
thuật như một thành công cho tác phẩm, vì đặc trưng của thơ là gợi nhiều
hơn tả nên các nhà thơ sử dụng hình ảnh càng cô đọng càng súc tích thì
tính biểu trưng càng cao. Ví dụ trong thơ Hàn Mặc Tủ hình ảnh “ánh
trăng” dường như tượng trưng cho cả con người cũng như phong cách
sáng tác của nhà thơ.
Trong thơ Tagore ta thấy thủ pháp tượng trưng dường như có trong
mọi bài thơ, mọi hình ảnh thơ.
2.Tượng trưng trong quan điểm sáng tác của Tagore
Tagore cho rằng “mọi ý tưởng trừu tượng đều không có chỗ trong
nghệ thuật thật sự nơi mà muốn được chấp nhận thì phải dưới dạng ngụy
trang nhân cách hóa. Đó là lí do vì sao thơ ca đã cố chọn từ ngữ có các
phẩm chất sống động- những từ ngữ không chỉ để thông tin thuần túy, mà
đã biến nhập trong tim ta, mà hình dáng chưa bị mài mòn vì đã thường
xuyên trên thị trường”(Nghệ thuật là gì?, trích từ tuyển tập văn học Ân
Độ, tr.384). Tagore khuyến khích việc lựa chọn từ ngữ vì việc lựa chọn
từ ngữ sống động sẽ tạo được thông tin tối đa của tác phẩm, ông viết:
“trong thi pháp, trong từ ngữ và ý nghĩ của tôi, tôi buông thả theo lối tự
do phóng túng”(My life).Nhưng về chất liệu trong tác phẩm, ông cho rằng
phải bắt nguồn từ hiện thực, từ cái “có” của thế giới: “nhiệm vụ của người
nghệ sĩ là nhắn nhủ với thế giới rằng chúng ta lớn lên trong hiên thực,
bằng các hiện thực mà chúng ta thể hiện”(Tôn giáo của nhà thơ). BằNG
các tác phẩm của mình Tagore đã chứng minh cho quan điểm trên, các tác
phẩm văn xuôi của Tagore đều xuất phát từ đất nước ấn Độ, đó là những
người phụ nữ, hay là thiên nhiên của Ân Độ “nhiệm vụ của người nghệ sĩ
là tuyên bố lòng tin của mình vào cái có vĩnh cửu để nói: “tôi tin có một lí
tưởng quanh quẩn trên trái đất và thẩm thấu vào trái đất cái lí tưởng của
thiên đường kia không phải chỉ là kết quả tượng tượng mà là thực tiễn
cuối cùng trong đó mọi thứ sống và chuyển động”(Tôn giáo của nhà thơ).
Ông còn nhận thấy vai trò quan trọng của nhịp điiệu “có vần, câu thơ
dừng lai mà không chấm dứt, từ ngữ lặng đi mà âm nhạc kéo dài”.Theo
ông, chúng ta cần phải có một thứ trung gian để biểu đạt tình cảm của
mình: “loài người vốn có những chất thơ trong trái tim mình nên họ cần
thể hiện tình cảm của họ càng hoàn chỉnh càng tốt. Muốn như vậy, họ cần
có một thứ trung gian, mềm mại và sinh động, từ thời đại này đến thời đại
khác, trở thành của riêng họ”. nhưng cái trung gian đó phải là cái do mình
tạo ra chứ không phải sao chép hay vay mượn : “không một nhà thơ nào
lại đi vay mượn thứ trung gian làm sẵn từ một cửa hàng đáng kính nào đó.
Anh ta không những có hạt giống riêng của mình mà còn phải làm mảnh
đất của mình nữa”.
Như vậy, Tagore đã kết hợp cả hiện thực lẫn huyền ảo trong thủ
pháp tượng trưng trong sáng tác của mình, ông có nhưng quan niệm đổi
mới so với các nhà tượng trưng trước đó.
CHƯƠNG II. TƯỢNG TRƯNG TRONG “THƠ DÂNG” CỦA
TAGORE.
1. Tượng trưng trong các thể loại của Tagore.
- Trong kịch.
Có nhiều cách để phân loại kịch của Tagore. Có thể chia theo giai
đoạn sáng tác, chia theo ngôn ngữ sáng tác hoặc chai theo hình ảnh của
các lớp nghĩa được chúng biểu đạt. Nếu chia theo hình ảnh và các lớp
nghĩa biểu đạt, ta thấy những vở kịch mang tính tượng trưng cao như
“Post office” - Bưu điện; Theo Cycle of Spring- vòng tuần hoàn hảo của
mùa xuân; Red Orleanders - Trúc đào đủ. Để có thể đánh giá chính xác về
những vở kịch mang tính tượng trưng của Tagore, chúng ta cần phải phân
biệt giữa những biểu tượng thuần túy và những biểu tượng mang tính điển
hình khác. Một tác phẩm tượng trưng gồm có hai lớp nghĩa: Lớp nghĩa
trên bề mặt và lớp nghĩa khác được ngầm ẩn bên trong. Lớp nghĩa trên bề
mặt tương đối rõ ràng trong khi lớp nghĩa ngầm ẩn thường được gợi ý
gián tiếp. Trong những vở kịch tượng trưng thì hai lớp nghĩa này không
hòa lẫn vào nhau mà biểu lộ song song với nhau.
Trong “The Cycle of Sping - Vong tuần hoàn của mùa Xuân” ý
tưởng chính của vở kịch là sự thay đổi của mùa đông. Trong vở kịch ra vẻ
bề ngoài của mùa xuân. Cái cũ biến đổi dần dần để tạo thành cái mới. Tất
cả những nghi lê, những quy luật thiên nhiên, những bài ca điệu vũ của vở
kịch, chúng ta thấy được kết cục tất yếu rằng mùa đông buộc phải chấm
dứt và mùa xuân nhất định phải ra đời. Vở kịch gồm một loạt các nhân vật
mang tính chất biểu tượng. Nhân vật Minstel mù về thể chất thì mù nhưng
ông lại có thể nhìn thấy mọi điều bằng toàn bộ cơ thể và tâm hồn mình.
Còn Chandra là biểu tượng của tuổi trẻ và cuộc sống. Còn ông già mù
Minstel là nhà tiên tri của cái mới đang tới.
Hầu hết trong các vở kịch của Tagore, ông đều lấy nhân vật với
những hành động và tính cách của họ để biểu tượng cho tư tưởng mà ông
muốn chuyển tải lại cho người đọc.
2. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” Tagore.
2.1. Hình ảnh “người thầy, Thượng đế…”
Xuất hiện trong Thơ Dâng rất nhiều nhà thơ sử dụng hình ảnh này
như một nhân vật để nói chuyện, gửi gắm tâm tình của mình.
Người đã tạo tôi vô tận; đó là ý thích của người
(Thou host made me endles, such is thy pleasure)
(Thơ Dâng, bài 1).
Nhà thơ đã sử dụng những thuật ngữ của tôn giáo để đưa vào thơ
mình.ất nhiều học giả phương Tây đã hiểu nhầm nhà thơ là một con chiên
sùng đạo. Tiến sĩ A. Aronson viết: “Khi những bài thơ của Tagore” lần
đầu tiên xuất hiện tỏng các bản dịch bằng tiếng Anh, nhiều người tin rằng
triết học hay sự huyền bí của Tagore là kết quả của ảnh hưởng của Thiên
chúa giáo đối với ông cũng như đối với phần lớn nước ấn Độ”. Tuy nhiên,
đây là một sự đánh giá sai về thơ của Tagore. Chính Tagore đã viết: “Tôi
không thuộc về tôn giáo nào cả mà cũng khôgn nghiêng về đức tin đặc
biệt nào. Có điều khi Thượng đế sinh ra tôi, thì chính người đã trở thành
tôi rồi”. Ngày nay, người triển khai con người tôi trong cuộc sống và nâng
niu con người tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp khác nhau trong thế giới
này. Chính sự kiện tôi hiện hữu đã mang lại trong nó lòng yêu thương
vĩnh cửu rồi”. “Chúa, người’ trong “Thơ Dâng” được Tagore quan niệm
chính là cuộc đời. Thượng đế ở đây chính là vị “chúa Trời”. Nếu như
trong kinh thánh của Thiên chúa giáo, hình ảnh chúa là siêu hình, là tối
cao thì trong thơ Tagore, hình ảnh “chúa, thượng đế” chính là hình ảnh
của niềm vui (Ananda), hình ảnh của tình yêu (Kama), hình ảnh của sự
lao động, hình ảnh của cuộc đời. Vì vậy, màu sắc tôn giáo trong “Thơ
Dâng” chỉ còn tồn tại ở hình thức, ở phương tiện biểu hiện chứ không
phải ở chốn cao xa vĩnh hằng nữa mà “chúa” chính là cuộc sống đang hiện
hữu quanh mỗi con người, là cuộc sống lao động hàng ngày của con
người:
- Mở mắt ra nhìn, anh sẽ thấy Thượng đế anh thờ không phải ngồi
phía trước!. Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất nước,
nơi công nhân đang xẻ đá làm đường.
Bằng sự lí giải sáng tạo, minh bạch, Tagore đã tước bỏ uy quyền
tuyệt đối của Chúa, kéo Chúa từ cõi vĩnh hằng xuống mặt đất, biến chúa
thành những người lao động bình thường. Ông kêu gọi con người để
chúng ta nhận thức: Chúa Trời nằm trong việc chúng ta biến cuộc đời
mình cho sự phục vụ nhân loại. Vì vậy khi đọc thơ tác giả, chúng ta
không nên đồng nhất “người, chúa” theo quan điểm của tôn giáo siêu hình
nào. Theo quan điểm của Tagore “Chúa, người” chính là một ẩn dụ, tượng
trưng về mặt cõi “chân phúc”, mang hơi thở ấm áp cuộc đời.
2.2. Hình ảnh “Ly rượu” (the Vessel)
Tượng trưng trong thơ của Tagore có ở mỗi bài thơ, mỗi hình ảnh -
Nhà thơ chỉ chớp lấy một hình ảnh, để làm biểu tượng cho cả thơ.
Hình ảnh mang tính tượng trưng cao nhất có lẽ là hình ảnh “chiếc ly
tràn đầy”. Qua khảo sát và đối chiếu với bản gốc của Thơ Dâng, ta thấy
hình ảnh này được lặp lại ở các bài: 1,65,73,90.
- Cái ly mảnh khảnh này Người không ngớt rót vơi đi và không ngớt
lại rót đầy sự sống mới.
(This frail vessel thou emptiest again and again, anh fillest it ever
with fresh life).
(Thơ Dâng, bài 1)
- Trước khi vị khánh đến thăm tôi sẽ đặt cái ly đầy tràn cuộc sống
tôi dâng (Oh, i with set before my guest the full vesel of my life).
(Thơ Dâng, bài 90)
- Thượng đế, rượu thiêng nào Người uống trong cốc này đời tôi tràn
đầy.
(Thơ Dâng, bài 65)
Tagore dùng hình ảnh “chiếc ly” cho việc truyền đạt tư tưởng của
mình. “Chiếc ly” trong đạo thiên chúa tượng trưng cho cái linh thiêng
nhất vì lý do đó là nơi chứa mình và Máu Giêsu. Còn Tagore sử dụng hình
ảnh “chiếc ly” mang đậm màu sắc tôn giáo. Có nhà nghiên cứu đã nhận
xét rằng Tagore đã “đắm mình vào Kinh Tân ước” và “câu chuyện của
chúa Giêsu” (Edward Thompson) [2]ư\. Nhưng Tagore đã khẳng định
rằng “Tôn giáo của ông là tôn giáo con người”. Chính vì vậy hình ảnh
“chiếc ly” ở đây chính là cộng đồng, là cuộc sống thực tâị. Sự sống được
Tagore ví như ly rượu tràn đầy đã được cuộc sống rót đầy ắp cuộc đời. Có
nhiều nhà phê bình đã nhận xét rằng Tagore và Hafiz - nhà thơ thần bí của
đạo Hồi, đều uống từ một cốc rượu đầy của nghệ thuật: họ đều chịu sự lôi
cuốn mạnh mẽ của vũ trụ bao la bên ngoài, cả hai đều bị thôi thúc phải
đáp trả một tiếng gọi từ người yêu Thần thánh - Chúa trời bất diệt, họ đều
sống trong một thế giới tràn ngập tình yêu thần thánh - chúa trời bất diệt,
họ đều sống trong một thế giới tràn ngập tình yêu và niềm vui, nơi họ đã
vươn lên một thế giới của cái vô tận và vĩnh hằng. Cả hai nhà thơ đều
muốn liên tục đổ rượu tình vào cái cốc của cuộc sống thậm chí ngay cả
khi sắp phải từ bò trái đất này. Nhà thơ dùng hình ảnh “chiếc ly” - cái cụ
thể để nói lên cuộc sống, nói đến cuộc đời. Cuộc sống ta chỉ nhận thức
được một chút ít trong cái bể mênh mông ấy.
Vì vậy cuộc sống cứ tràn vào tâm hồn chúng ta còn “người” cứ rót
mãi rót mãi không ngừng nghỉ. Cuộc sống thì rộng lớn còn con người thì
nhỏ bé vô cùng, nhưng khi sống hết mình, sống với cuộc đời thực tại
chúng ta cũng dẽ tạo cho mình một cuộc sống có “thiên đường ngay giữa
trần gian” (Theo Tagore). Tagore đã thấy cuộc đời ông là một minh
chứng, ông đã dành gần như cả cuộc đời cho việc đi khắp thế giới để ủng
hộ hòa bình thế giới, ủng hộ các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Tagore luôn trân trọng từng giờ, từng phút của cuộc sống. Còn trong lao
động nghệ thuật. Tagore. Tagore đã đem cái tài năng, đêm toàn bộ sức lực
của mình để tạo ra những bài thơ hay, những bông hoa đẹp dâng hiến cho
cuộc đời. Để rồi, đến lúc “thần chết” có gõ cửa ông vân mang niềm vui
sống cho Người, đem “cái ly tràn đầy cuộc sống tôi dâng”.
Với hình ảnh này, Tagore đã tạo cho mình một tâm cao mới. Ông đã
dùng hình ảnh của Tôn giáo để biểu đạt tư tưởng của mình, sở dĩ như vậy
vì: ở Ấn Độ do thiên nhiên khắc nghiệt, do văn hóa (nhiều tôn giáo),
chiến tranh, chế độ phân biệt đẳng cấp, nên tôn giáo là cứu cánh duy nhất
của họ, vì vậy Tagore đã dùng hình ảnh của tôn giáo (tiêu biểu là Thiên
chúa giáo) để truyền tải tư tưởng của mình. Qua hình ảnh này, nhà thơ đã
nâng hình ảnh “chiếc ly lên một hình tượng tượng trưng, một triết lý sống:
Con người chỉ là hữa hạn, cuộc sống là cái vô tận.
2.3 “Chiếc sáo sậy” (The Flute of a reed)
Bên cạnh hình tượng “Chiếc ly tràn đầy” ta còn thấy hình ảnh
“chiếc sáo sậy” được nhà thơ sử dụng như một hình tượng. Hình ảnh
“chiếc sáo”- The Flute xuất hiện bốn lần trong tập thơ (bài 1; 7 ; 74; 79)
- Chiếc sáo nhỏ bằng lau sậy này, Người đã đem nó đi qua đồi, qua
lũng và qua lòng sáo, Người đã thổi những điệu khúc mãi mãi mới hoài.
(This little flute of a reed thou hast carrier over hills and dales, and hast
breathd through)
- Chỉ xin để tôi biến đời mình thành bình dị và thẳng ngay như
chiếc sáo sậy để Người phả đầy âm nhạc vào trong.
(Only let me make my life simple and straigh, like a flute of a reed
for thee to fill with music)
Một lần nữa, nhà thơ đã sử dụng hình ảnh “chiếc sáo sậy” để biểu
trưng cho sự sống, cho cuộc đời. Cuộc đời là những bản tình ca, những
giai điệu đẹp. ở đời có cả những bài ca buồn, bài ca vui nhưng Người sẽ
không vì thế mà không làm mới chúng. Tagore đã so sánh thế giới của
chúng ta với một hình ảnh mang tính nghệ thuật cao. Ông đã coi cuộc
sống trên trái đất này như những bài ca và như “một sự biểu lộ cái đẹp”.
Những giai điệu cuộc đời được cuộc sống không ngừng làm mới, vì vậy
nhà thơ đã ao ước mình sẽ là “chiếc sáo sậy để Người phả đầy âm nhạc
vào trong”. Tagore đã rất nâng niu, trân trọng cuộc sống, ông sẵn sàng mở
tâm hồn mình để đón nhận, mọi biến cố của cuộc đời cho dù cuộc sống có
những lúc khó khăn, có những khúc khuỷu và ông vẫn muốn sống cuộc
đời bình dị, thẳng ngay như “chiếc sáo sậy”.
Qua hình tượng này, nhà thơ một lần nữa khẳng định lại tình yêu
say đắm đối với cuộc đời, như Xuân Diệu viết: “thi sĩ có nhạc tâm hồn,
ngân vang như tiêng quản huyền, trang nghiêm như khúc thiều ca, bay
bổng như ống sáo trời” (Xuân Diệu, trích theo luân văn Tiến sĩ của
Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hạnh về “Qua thơ Dâng của Tagore”).
Tagore đã sử dụng thủ pháp ẩn dụ và liên tưởng qua hình ảnh “chiếc
sáo sậy” để nói tời triết lý sống,“chiếc sáo sậy” ở đây chính là cuộc sống
thực trên trần gian này. Cuộc sống tự nó tạo ra vô vàn điều phong phú, tự
nó tạo ra hàng ngàn bài ca khác nhau. Cuộc đời luôn có hạnh phúc xen lẫn
với nỗi buồn, nhưng “Chúa Đời” vẫn mang đi reo rắc khắp nơi (qua đồi,
qua lũng). Triết lý sâu xa của hình ảnh này là: Tình trạng chung của con
người bị cầm tù trong những giới hạn hữu hình và vô hình của chính
mình, của xã hội, chỉ khi con người thoát khỏi ách cầm tù ấy thì nhận thức
của con người mới được mở rộng, giải phóng.
2.4 “ánh sáng” và “bụi đất” ( The light and the dust)
Trong “Thơ Dâng” Tagore đã “tự họa chân dung họa sĩ bằn những
từ ngữ, âm thanh với hai chất liệu tưởng như đối nghịch - “ánh sáng” và
“bụi đất” ( The light and the dust), nhưng chúng được nhà thơ kết hợp rất
hài hòa. Qua hai hình tượng này ta thấy thế giới vừa thực, vừa ảo qua
“trạng thái nội cảm”(Hegel) qua “cái nhìn bên trong” (Vugôxki) của thi
sĩ.
Qua khảo sát ta thấy “ánh sáng” (light) xuất hiện khoảng 3/10 tổng
số bài (14, 15,19,27,30 ) còn “bụi đất” (the dust) chiếm khoảng 1/10
tổng số bài trong “Thơ Dâng”. Tần suất của hai hình ảnh này được lặp lại
nhiều lần cho thấy khuynh hướng của Tagore. Trong Thơ Tagore “các
dáng dấp, các màu sắc huyền diệu kia chỉ là cái vỏ ngoài như cái áo cà sa
khoác trên vai người trần tục” [3], cốt lõi của hiện thực được bao bọc,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét