Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Phân tích tài chính và một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty vận tải quốc tế Nhật Việt Vijaco

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
5
- Đối với các nhà đầu tư: Họ cần có nhưng thông tin trung thực, khách quan
về thực trạng tài chính của doanh nghiệp để có những quyết định đầu tư đúng đắn.
Do vậy, phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá khả năng
sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng hoàn trả của công ty.
- Đối với người cho vay: Đây là những người cho công ty vay vốn để đảm
bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Khi cho vay họ phải biết chắc được khả năng
hoàn trả nợ vay. Do đó, mối quan tâm hàng đầu của họ tới doanh nghiệp là khả
năng thanh toán nợ, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Ngoài ra, họ còn quan tâm
tới khả năng sinh lời, tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai. Điều này sẽ cho
phép họ mạo hiểm hơn trong quyết định cho vay.
- Đối với cơ quan nhà nước: giúp nhà nước nắm được tình hình tài chính của
doanh nghiệp để từ đó đề ra các chính sách vĩ mô đúng đắn ( chính sách thuế, lãi
suất đầu tư ) nhằm tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.
- Đối với những người hưởng lương trong công ty: Đây là những người có
nguồn thu nhập duy nhất là tiền lương được trả. Tuy nhiên, cũng có những công ty
người được hưởng lương có một phần cổ phiếu nhất định trong công ty thì họ có
thu nhập từ lương và tiền lời được chia.Cả hai khoản tiền này đều phụ thuộc vào
kết quả sản xuất kinh doanh. Do đó, phân tích tài chính giúp họ định hướng việc
làm ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty tuỳ thuộc vào công việc được phân, đảm nhiệm.
- Đối với công ty kiểm toán: Công ty kiểm toán sẽ sử dụng báo cáo tài chính
doanh nghiệp và các bằng chứng khác mà kiểm toán thu được để xác định tính hợp
lý, trung thực của các số liệu và phát hiện những gian lận hoặc sai sót của doanh
nghiệp.
Từ đó ta thấy, phân tích tài chính là công cụ hữu ích được dùng để xác định
giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh yếu của một công ty, tìm ra nguyên nhân
khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết
định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
6
1.1.2. Phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình
tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính trong tương lai. Từ đó
giúp các đối tượng đưa ra quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn của
từng đối tượng. Để đáp ứng mục tiêu của phân tích tài chính có nhiều phương pháp
tiến hành như phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp phân tích
nhân tố, phương pháp dự đoán Nhưng thông thường người ta hay sử dụng hai
phương pháp sau:
* Phương pháp so sánh
- Điều kiện so sánh:
Khi so sánh theo thời gian, các chỉ tiêu cần thống nhất về nội dung kinh tế,
phương pháp phân tích , đơn vị đo lường. Khi so sánh về không gian, người ta
thường so sánh trong một ngành nhất định. Nên ta cần phải quy đổi về cùng một
quy mô với cùng một điều kiện kinh doanh tương tự.
- Tiêu chuẩn so sánh:
Là chỉ tiêu dùng để làm mốc khi so sánh, tiêu chuẩn so sánh được lựa chọn
tuỳ theo mục tiêu so sánh. Mục tiêu so sánh sẽ quy định các kỹ thuật, phương pháp
để đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Mục tiêu so sánh: để đáp ứng các mục tiêu sử dụng của những chỉ tiêu so sánh,
quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu được thể hiện dưới 3 hình thái:
+ Số tuyệt đối: là kết quả so sánh giữa các kỳ phân tích, được thực hiện bằng
phép trừ (-) giữa các mức độ của chỉ tiêu đang xem xét ở các kỳ khác nhau. So
sánh bằng số tuyệt đối phản ánh biến động về mặt quy mô hoặc khối lượng của chỉ
tiêu phân tích.
+ Số tương đối: là kết quả so sánh giữa các kỳ phân tích, được thực hiện
bằng phép chia (:) giữa các mức độ của chỉ tiêu đang xem xét ở các kỳ khác nhau.
So sánh bằng số tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng chỉ tiêu
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
7
trong tổng thể; hoặc biến động về mặt tốc của chỉ tiêu đang xem xét giữa các thời
gian khác nhau.
+ Số bình quân: là chỉ số biểu hiện tính phổ biến của chỉ tiêu phân tích.
- Phân tích theo chiều dọc và phân tích theo chiều ngang
+ Quá trình so sánh, xác định tỷ lệ, quan hệ tương quan giữa các dữ kiện trên
báo cáo tài chính của kỳ hiện hành được gọi là quá trình phân tích theo chiều dọc.
+ Quá trình so sánh, xác định tỷ lệ và chiều hướng tăng giảm của các dữ kiện
trên báo cáo tài chính của nhiều kỳ khác nhau, được gọi là quá trình phân tích theo
chiều ngang. Tuy nhiên, phân tích theo chiều ngang cần chú ý trong điều kiện xảy
ra lạm phát, kết quả tính được chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã loại trừ ảnh hưởng của
biến động giá.
* Phương pháp phân tích tỷ lệ:
Nguồn thông tin kinh tế tài chính đã và đang được cải tiến cung cấp đầy đủ
hơn, đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá tỷ lệ
tài chính trong doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ
liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán. Phương pháp phân tích này giúp cho việc
khai thác, sử dụng các số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích một cách
có hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc gián đoạn.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ và đại cương tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này đòi hỏi phải
xác định được các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình
tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính của doanh
nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân
tích của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung có bốn nhóm chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán;
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
8
+ Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư;
+ Nhóm chỉ tiêu về hoạt động;
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời.
1.1.3. Tài liệu sử dụng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Sử dụng đúng, đầy đủ tài liệu trong quá trình phân tích tài chính không những
cho phép chủ doanh nghiệp đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của mình mà còn
giúp cho chủ doanh nghiệp đưa ra được những quyết định sáng suốt cho sự phát triển
của doanh nghiệp trong tương lai. Khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp,
người ta chủ yếu sử dụng báo cáo tài chính làm tài liệu phân tích.
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài chính, kết quả sản
xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có hai loại là báo cáo
bắt buộc và báo cáo không bắt buộc.
Báo cáo tài chính bắt buộc là những báo cáo mà mọi doanh nghiệp đều phải
lập, gửi đi theo quy định, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô. Báo cáo tài
chính bắt buộc gồm có: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh,
Thuyết minh báo cáo tài chính .
Báo cáo tài chính không bắt buộc là báo cáo không nhất thiết phải lập. các
doanh nghiệp tuỳ vào điều kiện, đặc điẻm riêng của mình có thể lập hoặc không lập
loại báo cáo này. Báo cáo tài chính không bắt buộc như: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo tài chính gồm bốn loại sau:
- Bảng cân đối kế toán: mẫu B01- DN;
- Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh: mẫu B02- DN;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: mẫu B03- DN;
- Thuyết minh báo cáo tài chính : mẫu B09- DN.
1.2. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP:
1.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp:
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
9
1.2.1.1. Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
Khái niệm:
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại
mật thời điểm nhất định.
Mục tiêu phản ánh:
Bảng cân đối kế toán nhằm phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài
sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có thể phân tích tình hình sử dụng
vốn, khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết cấu và nội dung phản ánh:
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý.
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần:
- Phần tài sản;
- Phần nguồn vốn.
PHẦN TÀI SẢN
Các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản được phân chia thành các mục như sau:
A. Tài sản ngắn hạn
Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây là những tài
sản có thời gian luân chuyển ngắn ( thường là trong vòng một chu kỳ kinh doanh
hay trong vòng một năm ).
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
10
B. Tài sản dài hạn
Phản ánh giá trị thực của toàn bộ tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Đây là
những tài sản có thời gian luân chuyển dài (Trên 1 năm hay 1 chu kỳ kinh doanh ).
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, toàn bộ TSCĐ và ĐTDH được chia làm các
loại sau:
- TSCĐ;
- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn;
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang;
- Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn;
- Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh quy mô kết cấu
các loại tài sản dưới hình thái vật chất;
- Xét về mặt pháp lý, số liệu ở phần tài sản phản ánh số tài sản thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo kế toán.
PHẦN NGUỒN VỐN
Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có
của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Các chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm
pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp.
Nguồn vốn được phân chia thành:
A. Nợ phải trả
Là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm lập báo
cáo. Chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với các chủ nợ như ngân
hàng, người cung cấp vật tư hàng hoá, người lao động
Nợ phải trả gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
B. Nguồn vốn chủ sở hữu
Là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp mà doanh nghiệp
không phải cam kết thanh toán. Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
11
nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ quá trình kinh doanh, do đó, nguồn vốn chủ
sở hữu không phải là một khoản nợ.
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Nguồn vốn quỹ và nguồn kinh phí.
- Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn phản ánh quy mô, kết
cấu các nguồn vốn đã được doanh nghiệp đầu tư và huy động vào sản xuất kinh
doanh.
- Xét về mặt pháp lý, các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm
pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh
nghiệp ( cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp )
Phân tích Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán phản ánh vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp ở tại
một thời điểm nhất định, vào cuối kỳ kế toán. Do đó, ta có thể đánh giá tình hình
biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản giữa các kỳ kế toán để thấy được
tình hình biến động quy mô, cơ cấu vốn, mối quan hệ giữa năng lực sản xuất kinh
doanh với trình độ sử dụng vốn và triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Chính vì việc phân tích Bảng cân đối kế toán là rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng nên khi tiến hành cần đạt được những yêu cầu sau:
- Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp, xem xét việc bố
trí tài sản và nguồn vốn trong kỳ kinh doanh xem đã phù hợp chưa;
- Phân tích đánh giá sự biến động của tài sản và nguồn vốn giữa số liệu đầu
kỳ và số liệu cuối kỳ.
Từ sự phân tích trên đánh giá tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp
trong kỳ kinh doanh.
Thông qua Bảng cân đối kế toán, có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá
khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể phân tích tình
hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, người ta có thể đánh giá doanh nghiệp đó giàu lên hay
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
12
nghèo đi, sản xuất kinh doanh phát triển hay chuẩn bị phá sản thông qua việc phân
tích Bảng cân đối kế toán.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều cần phải có tài sản, bao gồm tài sản cố
định và tài sản di động . Việc đảm bảo và phân bổ tài sản cho đầy đủ và hợp lý là
điều cốt yếu tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
một cách liên tục và có hiệu quả .Dovậy , doanh nghiệp phaỉ tiến hành phát triển cơ
cấu tài sản bằng cách so sánh tổng số tài sản cuối kì so với đầu kỳ và tính ra tỷ
trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để
thấy được mức độ hợp lí của việc phân bổ .
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản, cần lập bảng phân tích như sau:
Bảng 1.1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản

CHỈ TIÊU
ĐẦU
NĂM
CUỐI
NĂM
CUỐI NĂM SO
VỚI ĐẦU NĂM
THEO QUY
MÔ CHUNG
SỐ TIỀN %
ĐẦU
NĂM
(%)
CUỐI NĂM
(%)
A. TS NGẮN HẠN

I. Tiền
II. Đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu
IV. Hàng tồn kho
V. TS Ngắn hạn khác
B. TS DÀI HẠN

I. TSCĐ
II. Đầu tư tài chính dài hạn
III. Chi phí XDCBDD
IV. ký quỹ, ký cược dài hạn
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
13
TỔNG TÀI SẢN

Từ bảng phân tích cơ cấu tài sản, ta có thể nhận thấy sự biến động tăng hay
giảm của TS Ngắn hạn; TS Dài hạn cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối. Đối với
TSNH ta có thể nhận xét một cách tổng quát nhất về tình hình biến động của khoản
tiền mặt tại quỹ, phương thức thanh toán tiền hàng, nguồn cung cấp và dự trữ vật tư
của doanh nghiệp và các khoản vốn ngắn hạn khác Đối với TSDH, thông qua
bảng phân tích này có thể đánh giá về hiệu quả sử dụng TSCĐ của công ty và tình
hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật như máy móc thiết bị cho doanh nghiệp.
Bảng phân tích cơ cấu tài sản còn cho biết tỷ lệ từng khoản vốn chiếm trong
tổng số tài sản và việc bố trí cơ cấu tài sản của doanh nghiệp nhu thê nào.
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong
tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu NVCSH chiếm tỷ trọng cao
trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài
chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao. Ngược lại
nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn ( cả về số tuyệt đối và
tương đối) thì khả năng bảo đảm về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp.
Để phân tích cơ cấu nguồn vốn, ta lập bảng phân tích như sau:
Bảng 1.2:Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn

Chỉ tiêu
Đầu
năm
Cuối
năm
cuối năm so
với đầu năm
Theo quy mô chung
Số tiền %
đầu năm
(%)
cuối năm
(%)
A. Nợ phải trả
I. Nợ ngắn hạn
II. Nợ dài hạn
III. Nợ khác
B. Nguồn vốn chủ sở hữu
I. Nguồn vốn quỹ
II. Nguồn vốn - kinh phí
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên : Nguyễn Bá Quang - Lớp QT1003N
14
TỔNG NGUỒN VỐN

1.2.1.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Khái niệm:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán của doanh nghiệp. Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được chi tiết theo hoạt động sản
xuất kinh doanh chính, phụ và các hoạt động kinh doanh khác, tình hình thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách nhà nước về các khoản thuế và các khoản khác phải nộp
Mục tiêu phản ánh:
Báo cáo kết quả kinh doanh nhằm mục tiêu phản ánh tóm lược các khoản
doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho một thời kỳ nhất
định. Ngoài ra, báo cáo kết quả kinh doanh còn kết hợp phản ánh tình hình thực
hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước về thuế và các khoản khác.
. Tất cả các chỉ tiêu của báo cáo lãi lỗ được trình bày tuần tự như sau:
+ Doanh thu thuần;
+ Giá vốn hàng bán;
+ Lợi tức gộp;
+Chi phí bán hàng;
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp;
+ Lợi tức thuần từ hoạt động kinh doanh;
+ Lợi tức hoạt động tài chính;
+ Lợi tức hoạt động khác;
+ tổng lợi tức trước thuế;
+ Thuế lợi tức phải nộp;
+ Lợi tức sau thuế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét