CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG
ĐẠI ĐOÀN KẾT HỒ CHÍ MINH
1.1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một hệ thống những
luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức lực lượng cách
mạng nhằm phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì
độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là
tư tưởng xây dựng, củng cố và mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xây dựng xã
hội mới.
1.1.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của
cách mạng
Với Hồ Chí Minh “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và nhân dân ta” [15; 510]. Đoàn kết tạo ra sức mạnh trong mọi cuộc đấu tranh,
Người cho rằng: muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động
phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng
vô sản.
Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước
của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ
có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm
gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng: vua tôi đồng lòng, anh em hòa
thuận, cả nước góp sức và khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng
sách giữ nước. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc
trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí
Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư
tưởng của mình.
5
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho thời kỳ
cai trị và áp bức của chúng đối với dân tộc ta trong suốt gần 80 năm trời ròng rã.
Nhưng cũng chính trong vòng gần 80 năm đó, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống
đoàn kết của dân tộc lại sôi nổi hơn bao giờ hết. Nó kết thành một làn sóng vô
cùng to lớn, mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn thông qua các xu
hướng khác nhau để cứu nước dù cuối cùng tất cả các xu hướng đó đều bị thất bại.
Hồ Chí Minh đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương
tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi
hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này. Đây cũng chính là lý do, là
điểm xuất phát để Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh cho
rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bị
thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước đã không đoàn kết thành một khối
thống nhất. Người thấy rằng, muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực
lượng cách mạng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công xã hội
mới. Muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đại đoàn kết, quy tụ mọi lực
lượng cách mạng thành một khối vững chắc. Do đó, đoàn kết trở thành vấn đề
chiến lược lâu dài của cách mạng, là nhân tố bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng.
Người đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng
vô sản vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng lý luận cách mạng thuộc địa, trong đó
Người quan tâm nhiều đến vấn đề lực lượng cách mạng và phương pháp cách
mạng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải
điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những
đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn được Người nhận thức là
vấn đề sống còn của cách mạng. Ví dụ như: tại sao Pháp - một đất nước
có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranh hiện đại lại phải thua một
Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâm lược?. Đó là vì đồng bào
Việt Nam đã đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Toàn dân Việt Nam chỉ có
một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước.
Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho
Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc
6
xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm
bức tường đó, chúng cũng phải thất bại.
Để thấy rõ hơn vị trí của sức mạnh lực lượng toàn dân đoàn kết trong
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra: vì sao
có cuộc thắng lợi đó?. Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất
là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa
phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc
lập cho Tổ quốc. Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai
thắng được lực lượng đó. Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: Sử
dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước
ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài
xâm lấn. Và Người khuyên dân ta rằng: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình,
đồng sức, đồng lòng, đồng minh” [8; 206]. Đây chính là con đường đưa dân ta
tới độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều luận điểm về vấn đề đại đoàn kết dân tộc,
đoàn kết quốc tế: đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công, Đoàn kết
là điểm mẹ: “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu cũng tốt” [13; 392];
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
[14; 607].
1.1.2. Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng
Đối với Hồ Chí Minh, yêu nước phải thể hiện thành thương dân, không
thương dân thì không có tinh thần yêu nước. Dân ở đây là số đông, phải làm
cho số đông đó ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống tự
do, hạnh phúc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, chúng ta không chỉ
thấy rõ việc Người nhấn mạnh vai trò to lớn của dân mà còn coi đại đoàn kết
dân tộc là mục tiêu cách mạng. Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được
quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Trong lời kết
thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3/3/1951, Hồ Chí Minh đã
7
thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc mục đích của Đảng Lao động
Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc.
Xem dân là gốc, là lực lượng tự giải phóng nên Hồ Chí Minh coi vấn đề
đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân để tạo ra sức mạnh là vấn đề cơ bản của
cách mạng. Hồ Chí Minh còn cho rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục
tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của
cả dân tộc. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là sự nghiệp của quần chúng, do
quần chúng, vì quần chúng. Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan
của quần chúng nhân dân, trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, Đảng có nhiệm vụ
thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng đấu tranh một cách tự giác, có tổ chức
thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho
nhân dân, hạnh phúc cho con người.
Như vậy, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp lực lượng
cách mạng, mà đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Vì vấn đề cơ
bản của cách mạng suy cho cùng là phải có bộ tham mưu đưa ra đường lối tập
hợp sức mạnh toàn dân đánh giặc. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc phải xuất phát từ
đòi hỏi khách quan của cách mạng do quần chúng tiến hành. Đại đoàn kết dân
tộc là chính sách chứ không phải là một thủ đoạn chính trị. Đảng có sứ mệnh
thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của
quần chúng thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của cuộc đấu
tranh vì độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.
1.2. Nội dung của đại đoàn kết dân tộc
1.2.1. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm Dân có nội hàm rất rộng.
Người dùng các khái niệm này để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “con Rồng
cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người tín
ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu,
nghèo. Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được mọi
người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nêu
rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài… Ta đoàn
8
kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết
để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và
phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ” [12; 438]. Với tinh thần đoàn kết
rộng rãi, Người đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho
việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng, bao
gồm mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo.
Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu
nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ
lượng với con người. Người đã nhiều lần nhắc nhở: “Bất kỳ ai mà thật thà tán
thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù người đó trước đây chống
chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [12; 438]. Để thực
hiện được đoàn kết, Người còn căn dặn: cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải
thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng, đó
là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là khối liên minh công - nông - tri thức do
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kết
dân tộc và những lực lượng nào tạo nên cái nền tảng đó. Người đã chỉ rõ: “Đại
đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân
dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là
nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã
có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [12; 438].
Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh
công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất. Về sau, Người nêu thêm
lấy liên minh công - nông - lao động trí óc làm nền tảng cho đại đoàn kết toàn
dân. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc
càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại
đoàn kết dân tộc.
1.2.2. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ
chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
9
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, làm
cách mạng để xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân
tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở
thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng,
toàn dân ta. Nó biến thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là
Mặt trận dân tộc thống nhất.
Cả dân tộc hay toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức
mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức lại
thành một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn,
nếu không quần chúng nhân dân dù có hàng triệu, hàng triệu con người cũng chỉ
là một số đông không có sức mạnh. Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, xét
trên một khía cạnh nào đó, chính là đi tìm sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải
phóng nhân dân lao động. Và sức mạnh mà Người đã tìm được là đại đoàn kết
dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Từ khi tìm thấy con đường và sức mạnh để cứu nước, Hồ Chí Minh đã rất
chú ý đến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp
với từng giai cấp, tầng lớp, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn
giáo… đó là các già làng, trưởng bản, các hội ái hữu, tương trợ, công hội, nông
hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên nhi đồng, hội phụ lão, hội Phật
giáo cứu quốc, Công giáo yêu nước, các nghiệp đoàn bao trùm nhất là Mặt
trận dân tộc thống nhất. Mặt trận chính là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu
nước, tập hợp mọi người dân nước Việt, không chỉ ở trong nước mà còn cả
những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu
tấm lòng vẫn hướng về quê hương, về Tổ quốc Việt Nam.
Tùy theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã xây dựng được Mặt trận dân tộc thống nhất có cương lĩnh, điều lệ phù hợp
với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng. Các tổ chức
Mặt trận ở nước ta đều là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi, tập hợp đông đảo
các giai cấp tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu
10
nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập, thống nhất
của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Để Mặt trận dân tộc thống nhất trở thành một tổ chức cách mạng to lớn,
theo Hồ Chí Minh, nó cần được xây dựng theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, đoàn kết phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân, trên cở sở
yêu nước, thương dân, chống áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu.
Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc phải được xây dựng trên nền tảng liên minh
công - nông - lao động trí óc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ ba, hoạt động của Mặt trận theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy
việc thống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân là cơ sở để củng cố và không
ngừng mở rộng.
Thứ tư, khối đoàn kết trong Mặt trận là lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự,
chân thành, thân ái giúp đỡ cùng nhau tiến bộ. Phương châm đoàn kết các giai
cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” - lấy cái chung,
đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.
Đoàn kết trong Mặt trận là lâu dài, chân thành, thẳng thắng, giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ. Hồ Chí Minh xác định chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải
tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết
phải tự cải tạo bản thân chúng ta. Người nêu rõ: đoàn kết phải gắn liền với đấu
tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết, nâng cao tinh thần tự phê bình và phê
bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt trong nội bộ. Đoàn
kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê
bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái vì nước vì dân.
1.3. Nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh
1.3.1. Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi
ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và các quyền thiêng
liêng của con người
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh. Hạt nhân của nguyên tắc này là giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích
phức tạp, chồng chéo giữa cá nhân - tập thể, gia đình - xã hội, bộ phận - toàn thể,
11
giai cấp - dân tộc, quốc gia - quốc tế theo phương châm chỉ đạo là: Dân tộc trên
hết, Tổ quốc trên hết và tất cả do con người. Ví dụ như trong: Chính sách giảm tô
25 % trong kháng chiến chống thực dân Pháp Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Chủ
ruộng giảm tô cho đúng”, đồng thời cũng nhắc nhở: “Tá diền nộp tô cho đều” [10;
591]. Chính sách này đã giải quyết thỏa đáng lợi ích ruộng đất giữa địa chủ và
nông dân nghèo trong điều kiện phải đoàn kết để kháng chiến thắng lợi. Địa chủ
có ruộng cho thuê và nông dân nghèo thuê ruộng đều phải hi sinh một phần lợi
ích của mình để đoàn kết nhau lại, thực hiện khẩu hiệu: “Tổ quốc trên hết”, “Tất
cả cho kháng chiến thắng lợi”.
Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ
đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt
Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh để Người tìm
ra những phương pháp để thực hiện nguyên tắc đó trong chiến lược đại đoàn kết
dân tộc mình.
` Tóm lại, muốn đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân phải giải quyết đúng đắn các
mối quan hệ lợi ích dân tộc. Song, khi giải quyết các mối quan hệ lợi ích này phải đặt
quyền lợi dân tộc, quyền lợi Tổ quốc, quyền lợi toàn dân lên trên hết, lên trước hết.
1.3.2.Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân
Tin vào dân, dựa vào dân là một nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh dân là gốc rễ, là nền tảng của
đại đoàn kết, dân là chủ thể của đại đoàn kết, dân là nguồn sức mạnh vô tận, và
vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng.
Nguyên tắc tin vào dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh dựa trên cơ sở:
Một là, theo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin thì cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam là người
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, song nếu chỉ có một mình Đảng thôi, không có người
ngoài Đảng tin theo, ủng hộ thì cách mạng Việt Nam không thể thắng lợi được.
12
Hai là, truyền thống tư duy chính trị của dân tộc Việt Nam. Tư duy chính
trị này thể hiện rõ trong các câu ca dao, tục ngữ được Hồ Chí Minh sử dụng rất
nhiều lần, chẳng hạn “Nước lấy dân làm gốc”, “Chở thuyền là dân, lật thuyền
cũng là dân”. Hồ Chí Minh cũng từng nói: “Dễ mười lần không dân cũng chịu,
khó trăm lần dân liệu cũng xong” [10; 293]. Với Hồ Chí Minh, “Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn
kết của nhân dân” [13; 276].
Tin vào dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là
tin vào, là dựa vào tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập tự do, xây dựng
một đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh;
là tin vào, là dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân; là tin vào, là dựa vào
sáng kiến của nhân dân. Trong đó Hồ Chí Minh đặc biệt tin vào lòng yêu
nước của nhân dân, với niềm tin đó Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đoàn kết,
Lương - Giáo đoàn kết, các dân tộc, các thành phần dân tộc đoàn kết… Thực
tiễn cách mạng Việt Nam đến nay đã khẳng định tư tưởng của Người là hoàn
toàn đúng, chẳng những phù hợp với đặc điểm người Việt Nam mà còn đúng
với đặc điểm của giai cấp công nhân.
1.3.3. Đoàn kết tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi,
lâu dài, đoàn kết chặt chẽ theo lập trường giai cấp công nhân
Trong quá trình thực hiện đại đoàn kết, xây dựng và phát triển lực lượng
cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhất quán một nhận thức khoa học đó là: đoàn kết
không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất thời mà là một tập hợp bền
vững của các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ chức, có lãnh đạo.
Đầu 1955, nói chuyện tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu
dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị.
Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, ta còn phải
đoàn kết để xây dựng nước nhà” [12; 438]. Như vậy theo Hồ Chí Minh, đoàn kết
toàn dân trong các tổ chức của Mặt trận dân tộc thống nhất phải rộng rãi và lâu
13
dài, đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị, mà là một chính sách dân tộc,
một chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Qua câu nói trên của Hồ Chí Minh, ta thấy rõ tư tưởng của Người: toàn
dân ta phải đoàn kết cả trong cách mạng giải phóng dân tộc, cả trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa hay đoàn kết trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Theo
Người, Đảng cộng sản Việt Nam phải đoàn kết lâu dài với các đảng phái và các đoàn
thể yêu nước khác trong Mặt trận dân tộc thống nhất, không phải đoàn kết nhất thời.
Điều này được Hồ Chí Minh chỉ rõ khi Người nói chuyện tại buổi lễ kết thúc ra mắt
của Đảng Lao động Việt Nam ngày 03/03/1951 như sau: “…đối với các đảng phái,
các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc, thì Đảng Lao động Việt Nam chủ trương:
Đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài, cùng nhau tiến bộ” [11; 184].
Về đoàn kết rộng rãi hay đại đoàn kết, theo tư tưởng đại đoàn kết Hồ
Chí Minh là đoàn kết cho hết các lực lượng, các cá nhân yêu nước trong dân
tộc, không để sót một lực lượng, một cá nhân nào đứng ngoài các tổ chức của
Mặt trận dân tộc thống nhất, nhưng đoàn kết phải được tổ chức theo lập
trường giai cấp công nhân và hoàn cảnh của dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: đại
đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân
dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Rồi
Người nhấn mạnh: đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của
nhà, cái gốc của cây, nhưng: “Đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các
tầng lớp nhân dân khác” [12; 438].
Tóm lại theo Hồ Chí Minh, đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất
phải thật rộng rãi. Cụ thể là đoàn kết tất cả những người yêu nước, những người
thật thà tán thành một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ,
giàu mạnh, dù họ ở phe phái nào, dù trước đây đi ngược lại lợi ích dân tộc,
quyền lợi toàn dân. Song “nền gốc” hay “cơ sở chủ yếu” hoặc “nền tảng” của
đại đoàn kết phải là khối liên minh công nông và các tầng lớp nhân dân lao động
khác, trong đó trước hết là tri thức.
Hồ Chí Minh cho rằng: đoàn kết rộng rãi, đoàn kết lâu dài, nhưng đoàn
kết phải có tổ chức, có kỷ luật, có lãnh đạo hay đoàn kết phải chặt chẽ. Cụ thể:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét