uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản
và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến ngời vay. Việc thu thập các
thông tin liên quan đợc tiến hành theo nhiều cách khác nhau chủ yếu bao gồm:
phỏng vấn, tìm kiếm các thông tin trung gian, thông tin có đợc từ các báo cáo
của ngời vay Từ các thông tin này, ngân hàng tiến hành các kỹ thuật phân
tích để đa ra đợc những đánh giá của mình.
Tình hình tài sản của khách hàng: cho thấy khả năng thu hồi nợ. Hay nói
cách khác tài sản của khách hàng đợc coi nh một vật bảo đảm cho khoản vay
khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
Đánh giá các khoản nợ giúp ngân hàng thấy vị trí của mình trong các chủ
nợ của khách hàng. Qua đó ngân hàng thấy đợc khả năng thu hồi nợ từ khách
hàng nếu mình cho vay.
Đánh giá về luồng tiền của khách hàng: nhiều đơn vị khách hàng tạo ra đợc
nhiều lợi nhuận trong quá khứ cũng nh trong tơng lai. Tuy nhiên việc trả nợ lại
liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ của ngời vay. Do vậy những đánh giá dự đoán
về luồng tiền của khách hàng là rất quan trọng.
Phân tích một số các tỷ lệ nh: nhóm tỷ lệ thanh khoản; nhóm tỷ lệ sinh lời;
nhóm tỷ lệ rủi ro. Qua các tỷ lệ này ngân hàng có thể có đợc nhìn nhận tổng
quan về tình hình khách hàng và có những dự đoán đánh giá đúng đắn hơn khi
đa ra quyết định có đồng ý với yêu cầu vay vốn hay không.
Bớc 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa ngời nhận tài trợ
và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng
một khoản tín dụng trong một khoản thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng
tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai
bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của các
luật, các quy định. Do vậy, cả ngân hàng lẫn khách hàng đều cần cân nhắc kỹ
lỡng trớc khi ký kết hợp đồng tín dụng.
5
Bớc 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi hợp đồng tín dụng đã đợc ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm
cấp tiền cho khách hàng nh thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng
kiểm soát khách hàng trong việc sử dụng số tiền đợc vay có đúng tiến độ mục
đích hay không? Quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì,
có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ? quá trình này cho phép ngân hàng
thu thập thêm thông tin về khách hàng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hớng
tốt, cho thấy chất lợng tín dụng đang đợc đảm bảo. Ngợc lại, khi chất lợng
khoản cho vay bị đe dọa ngân hàng cần có các biện pháp xử lý kịp thời. Ngân
hàng đợc quyền thu hồi nợ trớc hạn, ngừng giải ngân nếu bên vay vi phạm hợp
đồng tín dụng. Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp,
giảm số tiền vay khi thấy cần thiết để đảm bảo an toàn tín dụng. Đối với
ngân hàng đây là bớc đi nguy hiểm. Do vậy, cho tài trợ gắn liền với kiểm soát
khách hàng giúp ngân hàng ngăn chặn các ý đồ sử dụng tiền vay không đúng
mục đích của khách hàng. Đây cũng là quá trình ngân hàng thu thập thêm các
thông tin bổ sung cho các thông tin ở bớc 1 và ra các quyết định cụ thể nhằm
ngăn chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu.
Bớc 4: Thu nợ hoặc đa ra các phán quyết tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các khoản
tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn.
Một số trờng hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả
đủ đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các
trục trặc trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét, tìm nguyên nhân là
rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đa ra các quyết định mới liên quan
đến tính an toàn của khoản tín dụng.
Từ một số vấn đề trình bày trên ta thấy hoạt động tín dụng là hoạt động tài
trợ và cho vay của các ngân hang thơng mại nhằm kiếm lợi nhuận. Đây là hoạt
động cơ bản của một ngân hàng và cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất có
6
thể ảnh hởng đến khả năng tiếp tục hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng
là cả hệ thống ngân hàng ở một quốc gia. Chính vì vậy, quy trình phân tích xét
duyệt tín dụng khoa học và hiệu quả là một vấn đề cần nghiên cứu và giải
quyết của ngân hàng trong giai đoạn tới. Đây là một bài toán khó nhng với sự
phát triển của khoa học công nghệ hiện nay trong một tơng lai không xa quy
trình phê duyệt tín dụng sẽ đợc thực hiện có hiệu quả và giảm thiểu rủi ro của
hệ thống ngân hàng nói chung và của hoạt động tín dụng nói riêng.
II- Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng
1 Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính (kiểm toán tài chính) là quá trình xác minh và
bày tỏ ý kiến của những ngời có đủ năng lực chuyên môn về báo cáo tài chính
của khách thể kiểm toán. Kiểm toán tài chính có đặc trng riêng so với các loại
hình kiểm toán khác xuất phát từ đối tợng kiểm toán và quan hệ chủ thể -
khách thể kiểm toán
Đối tợng của kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính. Bộ phận quan
trọng nhất của Bảng khai tài chính là Báo cáo tài chính. Trên Báo cáo tài chính
thể hiện toàn bộ hoạt động kinh tế, tình hình tài chính của một doanh nghiệp
bởi một hệ thống các chỉ tiêu liên quan chặt chẽ đến nhau. Nói nh vậy đối tợng
trực tiếp của kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính, nhng để đa ra đợc ý
kiến xác minh và bày tỏ thì kiểm toán không thể tách rời các thông tin có đợc
từ các tài liệu kế toán và các thông tin phi tài chính quan trọng khác.
Cùng với các quan hệ nội tại, báo cáo tài chính còn chứa đựng nhiều mối
quan hệ về tài chính và về quản lý và từ đó về quan hệ chủ thể - khách thể
kiểm toán. Việc lập các Báo cáo tài chính đợc tiến hành theo một quy trình
chặt chẽ khép kín từ lập chứng từ tới lập báo cáo kế toán. Vì vậy, cần xác định
rõ khách thể kiểm toán nói chung và trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Chủ
thể của kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng có
những phân loại khác nhau. Hiện nay có ba loại hình chủ thể kiểm toán là
7
kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nớc và kiểm toán độc lập. Kiểm toán nội bộ
là kiểm toán các đơn vị thành viên theo yêu cầu của ngời lãnh đạo cao nhất.
Kiểm toán nhà nớc là kiểm toán các đơn vị, cá nhân hoạt động trên cơ sở ngân
sách nhà nớc. Kiểm toán độc lập là kiểm toán các doanh nghiệp dân doanh có
quy mô lớn theo quy định bắt buộc hoặc kiểm toán theo th mời kiểm toán. Từ
đó có thể thấy mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể của kiểm toán tài chính
là mối quan hệ ngoại kiểm và tính ngoại kiểm này còn tuỳ thuộc vào mức độ
độc lập của chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán.
Nh vậy sự khác biệt của kiểm toán tài chính với các loại hình kiểm toán
khác chính là sự khác biệt trong đối tợng kiểm toán và mối quan hệ giữa chủ
thể và khách thể kiểm toán của mỗi loại hình kiểm toán.
Là một bộ phận của kiểm toán nói chung, để thực hiện chức năng xác minh
và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính sử dụng hệ thống phơng pháp chung của
kiểm toán là phơng pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu
trực tiếp, đối chiếu lôgíc) và phơng pháp kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê,
thực nghiệm, điều tra). Tuy nhiên do sự khác biệt về chức năng, khách thể,
đối tợng kiểm toán mà sự kết hợp các phơng pháp này có những đặc thù. Đối
tợng cụ thể của kiểm toán tài chính là báo cáo tài chính và bảng tổng hợp tài
chính đặc biệt khác. Các bảng tổng hợp này chứa đựng những mối quan hệ
kinh tế tổng quát, vừa phản ánh từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn với
những biểu hiện kinh tế, pháp lý và đợc lập ra theo những trình tự xác định với
những chuẩn mực cụ thể. Do vậy, kiểm toán tài chính phải hình thành những
trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phơng pháp kiểm toán cơ bản để đa
ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp này. Kiểm toán tài chính bao gồm ba
loại trắc nghiệm đó là trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số d và trắc
nghiệm phân tích. Trắc nghiệm công việc chính là cách thức và trình tự ra soát
các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của
hệ thống kiểm soát nội bộ trớc hết là hệ thống kế toán. Trắc nghiệm trực tiếp
8
số d là cách thức kết hợp các phơng pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp
với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số d cuối kỳ
(hoặc tổng số phát sinh) ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối tài sản hoặc vào Báo
cáo kế quả kinh doanh. Đây là cách thức chủ đạo của kiểm toán tài chính, nhờ
đó phần lớn bằng chứng thu thập đợc từ một nguồn độc lập với khách thể kiểm
toán nên bằng chứng thờng có chất lợng cao. Tuy nhiên, chi phí cho trắc
nghiệm trực tiếp số d thờng lớn nên kiểm toán viên phải cân đối với các trắc
nghiệm khác, và một trắc nghiệm không kém phần quan trọng đó là trắc
nghiệm phân tích. Trắc nghiệm phân tích là cách thức xem xét các mối quan
hệ kinh tế và xu hớng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết
hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgíc, cân đối, giữa các trị số của các
chỉ tiêu hoặc của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Trắc nghiệm phân tích đợc sử
dụng trong toàn bộ quá trình kiểm toán. Đây là toàn bộ các trắc nghiệm đợc sử
dụng trong cuộc kiểm toán tài chính. Một cuộc kiểm toán tài chính là một hệ
thống đợc tổ chức chặt chẽ từ khâu chuẩn bị, thực hiện và kết thúc nhằm giúp
kiểm toán viên kiểm soát đợc cuộc kiểm toán theo đúng quy định và đạt đợc
hiệu quả cao nhất. Nói chung, một cuộc kiểm toán bao gồm ba giai đoạn cụ
thể đó là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán và kết thúc
kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán: từ th mời kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành tìm
hiểu khách hàng để lập hợp đồng kiểm toán và thu thập các thông tin liên
quan. Từ các thông tin tài chính và phi tài chính có quan hệ với khách hàng,
kiểm toán viên tiến hành xây dựng kế hoạch và chơng trình kiểm toán cụ thể,
đồng thời chuẩn bị về mặt nhân sự cho việc thực hiện kế hoạch kiểm toán đã
đề ra.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán: Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm
vào việc xác minh các thông tin hình thành và phản ánh trên Bảng khai tài
9
chính. Trình tự kết hợp các loại trắc nghiệm tuỳ thuộc vào những đánh giá ở
giai đoạn trớc.
Kết thúc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm đợc tổng hợp đánh giá về
tính hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự việc bất thờng,
những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập Bảng khai tài chính. Chỉ trên cơ sở đó
mới đa ra đợc kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán.
1- Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng
Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng là một phần hành trong kiểm toán báo cáo
tài chính của ngân hàng. Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng nhằm đánh giá tính
thích đáng trong việc xác định giá trị khoản vay, tình trạng rủi ro của toàn bộ
nghiệp vụ tín dụng, đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắn trong khi thực hiện
cấp tín dụng để đảm bảo rằng những rủi ro của nghiệp vụ này đã đợc kiểm
soát, tránh những thất thoát có thể đe doạ tới sự tồn tại của ngân hàng và trích
lập một khoản dự phòng rủi ro thích đáng.
Chính vì vậy, đối tợng kiểm toán nghiệp vụ tín dụng là tổng thể nghiệp vụ
cho vay, bao gồm các nghiệp vụ trong và ngoài bảng cân đối, cơ cấu rủi ro
tiềm ẩn, toàn bộ các giai đoạn trong quá trình xét duyệt cấp tín dụng - giám
sát tín dụng và uy tín tài chính của khách hàng vay vốn cũng nh tài sản đảm
bảo của họ.
Để đảm bảo mục tiêu kiểm toán đề ra đối với các nghiệp vụ tín dụng, cũng
giống nh các loại hình doanh nghiệp khác công việc kiểm toán không có sự
khác biệt đáng kể về quy trình chung. Quy trình kiểm toán cũng đợc tiến hành
theo ba bớc cụ thể: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán và
kết thúc kiểm toán.
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán:
Trong giai đoạn này kiểm toán viên phải có đợc một số vấn đề sau: hiểu
biết về nội dung các nghiệp vụ tín dụng của khách hàng; hiểu đợc môi trờng
kiểm soát; hiểu đợc hệ thống kế toán; thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ;
10
quyết định mức độ trọng yếu; lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo
chơng trình kiểm toán.
Hiểu biết về nội dung các nghiệp vụ tín dụng của khách hàng là một vấn
đề quan trọng. Kiểm toán viên phải có đợc những thông tin để thấy đợc cách
thức tiến hành của các nghiệp vụ này cụ thể nh các hình thức cho vay, kế
hoạch đầu t, ngời đi vay ( thị phần của ngân hàng) Bên cạnh đó kiểm toán
viên cũng cần phân tích những rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng để từ
đó phục vụ cho việc xác định đợc rủi ro kiểm toán liên quan. Rủi ro tín dụng
phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu đợc đầy đủ cả gốc và lãi của
khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín
dụng có thể phân tích theo nhóm đối tợng và theo sự thất thoát tài sản. Rủi ro
tín dụng phân theo nhóm đối tợng có thể bao gồm rủi ro thất thoát các khoản
cho vay do khả năng tài chính của khách hàng yếu kém, trong đó có những rủi
ro từ các giao dịch trong bảng cân đối và những rủi ro từ các giao dịch ngoài
bảng cân đối, và rủi ro do giá trị quyền sở hữu tài sản giảm do những biến
động của ngân hàng nh thay đổi Ban lãnh đạo dẫn đến chất lợng hoạt động yếu
kém, hoặc sự phát triển ngân hàng quá nhanh mà trình độ quản lý không theo
kịp. Rủi ro thất thoát giá trị tài sản chính là nguy cơ giảm giá trị tài sản mà
ngân hàng nắm giữ nh các tài sản thế chấp, các chứng khoán mà ngân hàng
nhận cầm cố Việc phân tích rủi ro sẽ giúp kiểm toán viên lập kế hoạch thích
hợp, không bỏ sót những điểm trọng yếu cần kiểm toán.
Hiểu biết về môi trờng kiểm soát của ngân hàng. Hệ thống thông tin quản
lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, việc quản lý rủi ro và vai trò của kiểm toán nội
bộ thờng đợc chú trọng trong môi trờng kiểm soát của ngân hàng và chính
điều này cũng ảnh hởng đến việc thực hiện kiểm toán của kiểm toán viên độc
lập. Trong các ngân hàng thơng mại, hai nguyên tắc đợc tôn trọng khi thiết kế
hệ thống kiểm soát nội bộ. Thứ nhất, mọi lĩnh vực hoạt động đều phải đợc
kiểm soát. Điều này có nghĩa là cơ cấu tổ chức của ngân hàng bao gồm nhiều
11
bộ phận khác nhau. Các bộ phận này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Rủi ro xảy ra ở bộ phận này sẽ dẫn đến thiệt hại ở những bộ phận khác. Chính
vì vậy cần phải thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ cho toàn bộ mọi lĩnh vực
hoạt động, dù đó không phải là lĩnh vực chính của ngân hàng. Thứ hai, thực
hiện đợc nguyên tắc "bốn mắt". Để phòng ngừa rủi ro ngân hàng cần phải thiết
kế hệ thống kiểm soát sao cho mọi công việc đều đọc kiểm tra qua ít nhất hai
ngời ( "bốn mắt" ). Việc kiểm tra này có thể là kiểm tra trực tiếp (thí dụ nh
mọi nghiệp vụ giao dịch trong ngày do kế toán giao dịch thực hiện đều phải đ-
ợc kiểm soát viên kiểm tra), cũng có thể là kiểm tra gián tiếp thông qua sự phê
chuẩn trớc đó của cấp trên. Do đó, kiểm toán viên cần xem xét môi trờng kiểm
soát của khách hàng trên góc độ sự quan tâm của Ban giám đốc trong việc
thiết lập các quy định, cơ chế để thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ hiệu quả
và nâng cao độ tin cậy của kiểm toán nội bộ.
Hiểu biết hệ thống kế toán: Kiểm toán viên cần đạt đợc sự hiểu biết về hệ
thống kế toán của đơn vị khách hàng để xác định đợc rủi ro liên quan và xây
dựng kế hoạch kiểm toán. Trong ngân hàng số lợng các nghiệp vụ tín dụng
xảy ra rất lớn và phức tạp. Do đó, hầu hết các ngân hàng sử dụng hệ thống xử
lý số liệu trên máy tính. Chính vì vậy trong quá trình kiểm toán nếu cần thiết
kiểm toán viên phải cần đến sự trợ giúp của các chuyên gia về máy tính để có
thể thu thập đợc những bằng chứng hữu hiệu.
Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ: Trong giai đoạn này, sau khi thu thập
đợc thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm
toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đối với thông tin đã thu
thập đợc để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các
thủ tục kiểm toán sẽ đợc sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán. Việc tiến
hành phân tích tín dụng cũng đợc tiến hành bởi nhiều phơng pháp kỹ thuật của
kiểm toán viên nhằm đa ra đợc những nhận định đúng đắn về đối tợng mà
mình tiến hành kiểm toán.
12
Quyết định mức trọng yếu sơ bộ: mức trọng yếu sơ bộ đối với hoạt động
ngân hàng cũng đợc xác định nh các loại hình doanh nghiệp khác. Vấn đề
quan trọng đó là việc xác định mức độ trọng yếu phải đáp ứng đợc mục tiêu
của kiểm toán viên là xác định đợc những sai phạm trọng yếu bằng nhiều cách
có thể. Việc xác định mức độ trọng yếu sẽ giúp cho kiểm toán viên thuận tiện
trong việc xác định số mẫu để kiểm tra chi tiết.
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chơng trình kiểm toán:
Do ngân hàng có khối lợng lớn về nghiệp vụ giao dịch, rất nhiều tài khoản,
báo cáo tài chính đợc nhiều đối tợng quan tâm, việc áp dụng hệ thống máy
tính trong việc xử lý các nghiệp vụ đã dẫn tới đòi hỏi cần phải có những thủ
tục của kiểm toán viên để đảm bảo rằng hệ thống này có hoạt động hiệu quả
hay không. Từ việc xác định này sẽ ảnh hởng tới việc đánh giá rủi ro và quyết
định số lợng mẫu cần chọn để kiểm tra. Nếu nh, những thủ tục kiểm soát của
kiểm toán viên cho thấy có thể tin tởng đợc vào hệ thống kiểm soát nội bộ của
đơn vị thì số lợng các thủ tục kiểm toán chi tiết sẽ giảm và ngợc lại. Nhng nếu
nh kiểm toán viên cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng quá
yếu, đồng nghĩa với việc rủi ro kiểm soát quá cao thì kiểm toán viên có thể từ
chối kiểm toán cho khách hàng này. Do vậy trong giai đoạn này kiểm toán
viên phải xây dựng đợc chơng trình kiểm toán cụ thể phù hợp nhằm kiểm soát
đợc rủi ro của cuộc kiểm toán.
Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán:
Từ chơng trình kiểm toán đã đợc xây dựng, kiểm toán viên tiến hành thực
hiện theo một trình tự thống nhất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nếu có
những vấn đề trọng yếu nảy sinh nếu cần thiết kiểm toán viên có thể điều
chỉnh lại kế hoạch kiểm toán. Thông thờng trong giai đoạn này, kiểm toán
viên thực hiện hai thủ tục đó là thủ tục kiểm soát và thủ tục cơ bản.
Thực hiện các thủ tục kiểm soát:
13
Để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần xem xét tổng
quát về tổ chức cơ cấu của bộ phận tín dụng và tổ chức quy trình làm việc của
bộ phận này, bởi vì sơ đồ tổ chức cho chúng ta nhận biết cách thức mà một
ngân hàng áp dụng để theo dõi hoạn động tín dụng cũng nh theo dõi diễn biến
rủi ro trong kinh doanh. Mỗi ngân hàng sẽ có một cách tổ chức cơ cấu bộ phận
tín dụng khác nhau và vì vậy sẽ có cách thức tổ chức kiểm soát nội bộ nghiệp
vụ tín dụng khác nhau. Cũng cần xem xét kết quả của kiểm toán nội bộ để từ
đó kiểm toán viên có thể sử dụng kết quả này phục vụ cho quá trình kiểm toán
của mình. Các công cụ giúp cho kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hệ thống
kiểm soát nội bộ là: các tài liệu hiện có ở ngân hàng quy định về việc thực
hiện các giao dịch tín dụng, đánh giá qua việc phỏng vấn cán bộ tín dụng, qua
kết quả trả lời bảng danh mục câu hỏi, đồ thị quy trình nghiệp vụ tín dụng
Tuy nhiên việc sử dụng danh mục câu hỏi có thể gặp trở ngại nếu ngời đợc hỏi
không muốn trả lời đúng sự thật. Kiểm toán viên cần tiến hành kiểm toán hệ
thống để xác định xem hệ thống kiểm soát nội bộ hiện có có phù hợp với tình
trạng lý tởng cần đạt đợc, ghi nhận lại hệ thống hiện có và phân tích đánh giá
những điểm khác biệt, những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống Khi muốn
tìm hiểu bất kỳ một quy trình nghiệp vụ nào, ví dụ quy trình cấp tín dụng, quy
trình quản lý hạn mức tín dụng kiểm toán viên luôn phải tìm xem trong quy
trình đó chốt kiểm tra đợc cài đặt ở điểm nào? Quy trình còn thiếu chốt kiểm
tra nào? ở mỗi chỗ kiểm tra nh vậy có quy định rõ bằng văn bản ai là ngời
chịu trách nhiệm thực hiện kiểm tra, cách thức tiến kiểm tra không Để đ a ra
đợc những nhận xét về một quy trình đòi hỏi kiểm toán viên phải đọc đợc quy
trình và hình dung xem nếu mình là ngời phải thực hiện quy trình thì có làm đ-
ợc không, trao đổi với cán bộ tín dụng để xem họ có nắm đợc quy trình nghiệp
vụ hay không
Để đa ra đợc những đánh giá chính xác về hệ thống kiểm soát nội bộ của
ngân hàng, kiểm toán viên thông thờng chọn mẫu kiểm tra trên các khía cạnh:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét