Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Các biện pháp phi thuế & lộ trình cắt giảm của VN trong quá trình hội nhập tổ chức TM thế giới & khu vực

Các doanh nghiệp sản xuất cha chú trọng đến tiếp cận thông tin và cha có ý thức
xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào nhà nớc tự quy định.
Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thờng phải tốn kém chi phí vận động hành lang để
cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng NTM nhất định có lợi cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế ngoài ý
muốn của các nhà hoạch định chính sách nh bộ máy quản lý thơng mại quan liêu, năng
lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không đợc công bố công
khai,
Nhà nớc không hoặc ít thu đợc lợi ích tài chính
Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất
trong nớc hầu nh không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nớc mà thờng
chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất định đợc bảo hộ hoặc đợc hởng u
đãi, đặc quyền, nh đợc phân bổ hạn ngạch, đợc chỉ định làm đầu mối nhập khẩu. Điều
này còn dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế.
c.Sự kết hợp giữa hai biện pháp để bảo hộ sản xuất trong n ớc.
Các biện pháp thuế quan và NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối
với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, yếu đặc thù nên chúng thờng đợc
sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc. Mặc dù về lý thuyết, WTO
và các định chế thơng mại khu vực thờng chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ
hợp pháp duy nhất nhng thực tế đã chứng minh rằng các nớc không ngừng sử dụng các
NTM mới, vừa đáp ứng mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc tế.
Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc vào tính
linh hoạt có chọn lọc, có định hớng của chính phủ các nớc trong việc áp dụng NTMs bổ
trợ cho biện pháp thuế quan. Nếu biết kết hợp hài hòa và tinh tế hai công cụ này, sản
xuất trong nớc sẽ đợc bảo hộ, hỗ trợ có thời hạn để nâng cao sức cạnh tranh nhằm từng
bớc thích nghi với các định chế và nguyên tắc chung của môi trờng thơng mại quốc tế.
2.Các NTM đ ợc sử dụng để bảo hộ.
Các NTM đợc sử dụng để bảo hộ rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể thấy rõ là tới nay
hầu nh không còn n ớc nào còn cơ hội để áp dụng những biện pháp hạn chế định l ợng
nhằm mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nớc đợc nữa. Những biện pháp hạn chế định lợng
nh cấm nhập khẩu hay hạn ngạch nhập khẩu chỉ còn đợc áp dụng trong những trờng
hợp cần thiết để bảo đảm và duy trì an ninh quốc gia, giữ gìn đạo đức văn hóa, môi tr-
ờng hay trong một vài trờng hợp ngoại lệ đặc biệt.
Tuy nhiên, việc sử dụng biện pháp hạn ngạch vẫn đ ợc thừa nhận và đ ợc nhiều n -
ớc áp dụng để bảo hộ ngành dệt may. Theo Hiệp định về dệt may của WTO thì tới năm
2005 các nớc thành viên WTO phải loại bỏ biện pháp này.
Một biện pháp ngoại lệ mang tính chất hạn chế định lợng khác cũng đợc WTO
thừa nhận và đợc áp dụng rộng rãi trên thực tế là biện pháp hạn ngạch thuế quan trong
nông nghiệp. Biện pháp này đã đợc cả các nớc phát triển, các nớc đang phát triển và các
nớc đang chuyển đổi áp dụng để bảo hộ những lĩnh vực nông nghiệp nhạy cảm của
mình. Mức hạn ngạch, thuế suất trong hạn ngạch, thuế suất ngoài hạn ngạch khác nhau
tuỳ từng nớc. Một thực tế chung là thuế suất ngoài hạn ngạch thờng rất cao, có nhiều tr-
ờng hợp trên 100%.
Các nớc phát triển thờng áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá và thuế đối
kháng chống trợ cấp để bảo hộ các ngành công nghiệp, đồng thời áp dụng các biện
pháp hỗ trợ trong n ớc ở mức cao để bảo hộ nông nghiệp. Trong khi đó, các nớc đang
5
phát triển và các nớc đang chuyển đổi vẫn áp dụng biện pháp cấp phép không tự động
để bảo hộ cả công nghiệp và nông nghiệp.
3.Thời gian bảo hộ.
Do những nhân nhợng có đi có lại trong đàm phán thơng mại quốc tế, đặc biệt là
các kết quả của Vòng đàm phán Uruguay với sự ra đời của WTO, các nớc thành viên
của WTO cũng nh những nớc đang đàm phán gia nhập tổ chức này không thể tùy ý kéo
dài thời gian bảo hộ.
Thông thờng thời gian đ ợc quyền áp dụng mỗi loại biện pháp bảo hộ đ ợc qui
định cụ thể trong từng hiệp định của WTO. Ví dụ thời gian áp dụng các biện pháp bảo
hộ thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài vi phạm Hiệp định về các biện pháp đầu t liên
quan đến thơng mại (Hiệp định TRIMs) không đợc kéo dài quá hai năm đối với các nớc
phát triển và quá năm năm đối với các nớc đang phát triển (kể từ năm 1995).
4.Các ngành đ ợc bảo hộ.
Tuỳ theo tình hình kinh tế - xã hội của mình mà mỗi nớc chọn ra những ngành cụ
thể cần phải bảo hộ. Xu hớng chung đối với các nớc phát triển là những ngành sử dụng
nhiều lao động với kỹ năng không cao đợc u tiên bảo hộ cao nhất, chẳng hạn nh các
ngành dệt may, nông nghiệp. Đối với các nớc đang phát triển hoặc đang chuyển đổi thì
các ngành đợc u tiên bảo hộ thờng là những ngành công nghiệp non trẻ (ô tô, điện tử, đ-
ờng) hay những ngành mà các doanh nghiệp nhà nớc đang gặp khó khăn (sắt thép, xi
măng, cơ khí).
5.Xu h ớng của việc sử dụng các NTM để bảo hộ.
Xu hớng chung trong việc sử dụng các NTM để bảo hộ sản xuất trong nớc là
chuyển từ các biện pháp mang tính chất hạn chế định lợng trực tiếp sang các biện pháp
tinh vi hơn nh thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, tiêu chuẩn kỹ thuật, các qui định
về nhãn mác
Kể từ khi WTO ra đời cho tới nay, có thể thấy rõ hầu hết các nớc thành viên đã
thấy rõ những lợi ích của việc tuân thủ các qui định của tổ chức này. Một xu hớng nổi
bật là các biện pháp bảo hộ hoặc hạn chế thơng mại mang tính đơn phơng đang ngày
càng bị phản đối mạnh mẽ.
Ngoài ra, xu hớng sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu gắn với yêu cầu
tuân thủ các tiêu chuẩn môi trờng và lao động đang nổi lên và đợc nhiều nớc phát triển
hậu thuẫn mạnh mẽ.
B.kinh nghiệm của một số nớc trong quá Trình áp dụng các NTM để bảo hộ
sản xuất trong nớc.
I.Thực tiễn áp dụng các NTM của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là một cờng quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong những thành
viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay). Mặc dù có tiềm năng to lớn trong hầu hết
mọi lĩnh vực sản xuất, nhng theo qui luật về lợi thế cạnh tranh tơng đối, trong những
năm qua, Hoa Kỳ đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ cho
những ngành sản xuất đã suy giảm sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới.
1.Thực tiễn áp dụng các NTM của Hoa Kỳ có thể đợc minh họa khá rõ nét khi
nghiên cứu các biện pháp đợc áp dụng để bảo hộ các ngành dệt may, nông nghiệp và sắt
thép.
Dệt may
6
Dệt may là một ngành sử dụng nhiều lao động không đòi hỏi kỹ năng cao. Hoạt
động sản xuất của ngành sẽ có tác động rất lớn tới thu nhập, việc làm và ổn định xã hội
của Hoa Kỳ. Do đó, ngành này luôn đợc các nhà hoạch định chính sách thơng mại của
Hoa Kỳ tìm mọi cách để bảo hộ, trong đó công cụ bảo hộ chính là hạn ngạch. Theo
Hiệp định Dệt may của WTO, Hoa Kỳ phải loại bỏ hạn ngạch đối với các sản phẩm dệt
và may vào năm 2005 theo một lộ trình gồm ba giai đoạn. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã tìm
nhiều cách để lẩn tránh các nghĩa vụ, chẳng hạn nh rất nhiều sản phẩm chỉ đợc loại bỏ
hạn ngạch vào giai đoạn cuối cùng của Hiệp định này.
Một NTM khác là qui tắc xuất xứ đã đợc Hoa Kỳ sử dụng khá tinh vi để hạn chế
nhập khẩu sản phẩm dệt may từ Trung Quốc và ấn Độ.
Nông nghiệp
Điều kiện thiên nhiên thuận lợi cộng thêm với trình độ khoa học công nghệ cao
đã giúp nền nông nghiệp của Hoa Kỳ có năng suất lao động đứng đầu thế giới, có sức
cạnh tranh rất lớn cả về chất lợng cũng nh giá cả sản phẩm. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn
phải áp dụng nhiều NTM nhằm bảo hộ cho một số ngành nông nghiệp, đặc biệt là
ngành sữa và đờng.
Hai biện pháp nổi bật đợc áp dụng để bảo hộ ngành sữa và đờng là biện pháp hạn
ngạch thuế quan và hỗ trợ giá. Chỉ tính riêng khoản hỗ trợ trong nớc của Hoa Kỳ vi
phạm Hiệp định Nông nghiệp của WTO và thuộc diện phải cam kết cắt giảm trong năm
1996 đối với ngành sữa đã lên tới 4,7 tỷ USD và đối với ngành đờng là 0,9 tỷ USD.
Sắt thép
Chỉ mới vài thập kỷ trớc đây, Hoa Kỳ là nớc sản xuất hàng đầu thế giới về sắt
thép. Nhng những năm gần đây ngành công nghiệp này của Hoa Kỳ phải đối mặt với sự
cạnh tranh khốc liệt của các nớc khác nh Trung Quốc, Nga, Hàn quốc, Nhật Bản.
Để bảo hộ ngành công nghiệp sắt thép, Hoa Kỳ đã tăng cờng và thờng xuyên sử
dụng biện pháp thuế chống bán phá giá. Ngoài ra, với những nớc cha phải là thành viên
WTO, Hoa Kỳ còn tìm cách gây sức ép buộc những nớc đó hạn chế xuất khẩu sản
phẩm sắt thép sang Hoa Kỳ. Ví dụ, năm 1999 Nga đã buộc phải ký với Hoa Kỳ thoả
thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện một số loại sắt thép sang Hoa Kỳ trong vài năm tiếp
theo.
2.Gần đây Hoa Kỳ đang cố gắng tìm mọi cách để có thể sử dụng các biện pháp
gắn với môi tr ờng và tiêu chuẩn lao động để hạn chế nhập khẩu.
Hai trờng hợp điển hình về việc Hoa Kỳ đơn phơng áp dụng các qui định về môi
trờng của mình để hạn chế nhập khẩu là trờng hợp cá hồi và tôm. Trong trờng hợp thứ
nhất, Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá hồi từ những nớc mà Hoa Kỳ cho rằng phơng pháp
đánh bắt của họ làm ảnh hởng xấu đến cá heo. Trong trờng hợp thứ hai, việc nhập khẩu
tôm từ những nớc sử dụng lới quét có hại cho rùa biển cũng bị cấm.
3.Một đặc điểm nổi bật là Hoa Kỳ đã ban hành luật và áp dụng trên thực tiễn
nhiều biện pháp đơn phơng có tác dụng hạn chế thơng mại rất lớn. Có thể kể ra một số
biện pháp đáng chú ý nhất nh sau:
An ninh quốc gia: với lý do bảo đảm an ninh quốc gia, Hoa Kỳ đã hạn chế nhập
khẩu từ các nớc bị coi là có thể đe doạ đến an ninh của Hoa Kỳ, chẳng hạn nh Cu ba,
Angola, Ruanda
Các hành động th ơng mại đơn ph ơng : Điều 301 của Luật Thơng mại Hoa Kỳ
(1974), Super 301, Special 301 cho phép Hoa Kỳ có thể áp dụng các biện pháp đơn ph-
ơng hạn chế thơng mại với các nớc mà Hoa Kỳ cho là có phơng hại tới lợi ích của mình.
7
Luật Helm-Burton hạn chế không chỉ các công ty Hoa Kỳ mà thậm chí cả các công ty
và thể nhân của các nớc khác tiến hành đầu t buôn bán với Cu ba. Hoa Kỳ cũng ban
hành và thực thi biện pháp hạn chế thơng mại với Iran.
II.Thực tiễn áp dụng các NTM của Thái Lan.
1.Hạn ngạch nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu áp dụng đối với máy móc, giấy, hóa chất, máy nông
nghiệp, bình chứa gas để nấu nớng, máy ca đĩa. Thái Lan đã chuyển biện pháp cấp phép
đối với 23 nhóm nông sản sang hạn ngạch thuế quan và thuế hóa các NTM đối với các
nông sản này. Hầu hết chúng là nông sản nguyên liệu thô (nông sản cha chế biến) bao
gồm sữa cha cô đặc, khoai tây, hành, tỏi, cà phê, chè, hạt tiêu, ngô, gạo, đậu tơng, lá
thuốc lá. Thuế suất trong hạn ngạch ban đầu đối với các nông sản này thay đổi từ 20%
đến 60%. Thuế suất ngoài hạn ngạch thay đổi từ 40% đến 242%.
2.Cấp phép nhập khẩu.
Thái Lan đã giảm số nhóm hàng nhập khẩu cần có giấy phép từ 42 (năm
1995-96) xuống còn 23 (năm 1997). Các mặt hàng phải có giấy phép mới đợc nhập
khẩu bao gồm nguyên vật liệu, dợc phẩm, xăng dầu, hàng công nghiệp, hàng dệt, nông
sản và tất cả các loại lơng thực thực phẩm phục vụ tiêu dùng của con ngời.
Giấy phép nhập khẩu không tự động cũng đợc áp dụng đối với động cơ, bộ phận,
phụ tùng đã qua sử dụng của xe máy có dung tích không quá 50cc, và bánh xe có bán
kính không quá 10 inches. Giấy phép nhập khẩu chỉ cấp cho các doanh nghiệp nhà nớc.
Bên cạnh yêu cầu về cấp phép nhập khẩu thuộc thẩm quyền của Bộ Thơng mại,
nhập khẩu các sản phẩm lơng thực thực phẩm, thuốc men, mỹ phẩm, chất độc hại, chất
gây nghiện, chất kích thích, các dụng cụ và trang thiết bị y tế còn phải đợc sự chấp
thuận của Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm của Thái Lan. Nhìn chung, các quy
định nhập khẩu lơng thực, thực phẩm, thuốc men của Thái Lan là một rào cản đối với
nhập khẩu do thời gian chậm trễ kéo dài trớc khi đợc chấp thuận đa vào thị trờng và hệ
thống giấy phép nhập khẩu độc quyền.
3.Xác định Trị giá tính thuế hải quan.
Trong giai đoạn 1996-1999, Cục Hải quan Thái Lan thờng sử dụng giá hóa đơn
cao nhất của sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ bất kỳ nớc nào trong thời gian trớc đó để
xác định trị giá tính thuế. Các nhân viên hải quan Thái Lan sử dụng công thức giá CIF
để tính giá trị chịu thuế, hoặc công thức giá FOB + 10% cớc vận tải + 5% phí bảo hiểm.
Nh vậy có thể nhận thấy rằng thủ tục và phơng pháp xác định trị giá tính thuế hải
quan của Thái Lan khá tuỳ tiện, phụ thuộc vào cách áp dụng của các nhân viên hải
quan. Tuy nhiên từ tháng 5/2000, Thái Lan đã sử dụng phơng pháp xác định trị giá tính
thuế nhập khẩu theo trị giá giao dịch nh quy định trong Hiệp định về xác định trị giá
thuế quan của WTO .
4.Ch ơng trình nội địa hóa.
Thái Lan đa ra yêu cầu về hàm lợng nội địa đối với sản xuất ô tô con (54%), xe
tải nhẹ (65-80%), xe tải và xe buýt (40-50%), xe máy (70%) và sản phẩm sữa (phải
mua tối thiểu 50 tấn sữa nguyên liệu địa phơng/ngày trong năm hoạt động đầu tiên).
Tuy nhiên, Thái Lan đã cam kết loại bỏ toàn bộ các yêu cầu về nội địa hóa vào cuối
năm 1999 theo quy định của Hiệp định TRIMs của WTO. Thái Lan đã tiến hành sửa
đổi các văn bản pháp luật trong nớc để loại bỏ dần yêu cầu về hàm lợng nội địa hoá
trong năm 1999, phù hợp với thời hạn quá độ cho phép trong Hiệp định TRIMs.
5.Khuyến khích đầu t .
8
Uỷ ban đầu t (Board of Investment-BOI) của Thái Lan đa ra những u đãi và
khuyến khích đầu t đối với các công ty nớc ngoài đạt những mục tiêu cụ thể về tỷ lệ
xuất khẩu hoặc chấp nhận các yêu cầu về cân bằng thơng mại. Hình thức khuyến khích
có thể là miễn, giảm thuế, phí, thuế nhập khẩu, quỹ khuyến khích xuất khẩu và các hình
thức u đãi thuế khác. Nhằm khuyến khích đầu t nớc ngoài, khắc phục hậu quả khủng
hoảng kinh tế khu vực vừa qua, BOI đã tạm thời nới lỏng nhiều điều kiện về miễn thuế
và phí.
Chơng trình khuyến khích xuất khẩu đa ra các hình thức u đãi chủ yếu sau: miễn
thuế nhập khẩu đối với các nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, khấu
trừ 5% phần thu nhập tăng lên của năm trớc do xuất khẩu khỏi phần thu nhập chịu thuế,
v.v Tuy nhiên, Luật khuyến khích đầu t không quy định tiêu chuẩn cụ thể để đợc h-
ởng những u đãi, khuyến khích này.
6.Trợ cấp.
Ngân hàng Trung ơng Thái Lan đợc giao nhiệm vụ hỗ trợ tài chính đối với các dự
án u tiên thông qua chơng trình tái tài trợ tín dụng công nghiệp. Mỗi công ty, với tổng
tài sản cố định không vợt quá 200 triệu baht đều đợc phân bổ định mức tín dụng để phát
hành lệnh phiếu. Tổng giá trị tái tài trợ là 50% mệnh giá lệnh phiếu. Uỷ ban quốc gia về
Xúc tiến đầu t và xuất khẩu chịu trách nhiệm quản lý chơng trình này. Chơng trình này
hớng mục tiêu vào hỗ trợ tài chính cho các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông
thôn. Tuy nhiên, theo điều tra của một số nớc khác, chơng trình này cũng hỗ trợ một số
ngành xuất khẩu.
Thái Lan không duy trì trợ cấp xuất khẩu cho nông sản trừ Chơng trình tín dụng
cả gói. Thái Lan cho rằng chơng trình này phù hợp với các qui định của WTO. Hỗ trợ
trong nớc của Thái Lan tập trung vào gạo, sữa tơi, đờng.
III.Thực tiễn áp dụng các NTM của Trung Quốc.
1.Cấp phép nhập khẩu.
Trung Quốc áp dụng giấy phép nhập khẩu cho 53 nhóm hàng tiêu dùng, nguyên
liệu thô và một số thiết bị sản xuất, ví dụ nh ô tô, xe máy và phụ tùng, xe tải, lốp, hàng
dệt, ngũ cốc, đờng, sữa bột, bông. Các mặt hàng này chiếm 50% kim ngạch nhập khẩu
của Trung Quốc. Cơ quan quản lý việc cấp phép nhập khẩu là Bộ Ngoại thơng và Hợp
tác Kinh tế (MOFTEC).
2.Hạn ngạch nhập khẩu.
Trung Quốc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cho hơn 400 mặt hàng. Qui định pháp
lý về việc cấp hạn ngạch không rõ ràng và các điều kiện để xác định hạn ngạch cho một
số mặt hàng không đợc công bố. Các mặt hàng Trung Quốc áp dụng hạn ngạch gồm có:
ô tô, xe máy, sản phẩm bông cha chế biến, sản phẩm bông, sợi tổng hợp. Trung Quốc
dự kiến loại bỏ hạn ngạch vào năm 2005 trong đàm phán gia nhập WTO.
Theo thoả thuận song phơng với Hoa Kỳ trong đàm phán gia nhập WTO, Trung
Quốc duy trì đợc biện pháp cấp phép nhập khẩu và hạn ngạch với rất nhiều mặt hàng
công nghiệp, nhiều hơn cả số mặt hàng đang áp dụng giấy phép nhập khẩu và hạn
ngạch của Việt Nam hiện tại. Trung Quốc cam kết tăng dần hạn ngạch 15% hàng năm,
thời hạn loại bỏ các NTB ngắn nhất là năm 2000 (radio, radio catxet, phim cha tráng
các loại), thời hạn dài nhất là 2005 (ô tô các loại).
3.Doanh nghiệp th ơng mại nhà n ớc.
Các công ty ngoại thơng nhà nớc đợc u tiên quyền kinh doanh xuất nhập khẩu.
Ví dụ: máy bay chỉ đợc nhập khẩu qua cơ quan mua sắm hàng không dân dụng; việc
9
xuất khẩu hàng dệt may thuộc quyền quản lý và kiểm soát của các cơ quan nhà nớc
nắm độc quyền ngoại thơng: các cơ quan này kiểm soát nhập khẩu và phân phối hàng
dệt may trong nớc.
Doanh nghiệp có vốn nớc ngoài chỉ đợc phép nhập khẩu nguyên liệu đầu vào
phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp nớc ngoài không đợc phép thành lập chi nhánh để phân
phối hàng hóa ở Trung Quốc. Các doanh nghiệp t nhân không đợc kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp. Trớc đây, các công ty ngoại thơng nhà nớc đều thuộc quyền quản
lý trực tiếp của MOFTEC, nhng nay MOFTEC không can thiệp vào công việc hàng
ngày của các công ty này nữa. Số doanh nghiệp đợc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
tăng dần từ 14 doanh nghiệp năm 1979 lên tới trên 8.800 hiện nay.
Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các doanh nghiệp sở hữu nhà nớc hoặc doanh
nghiệp do nhà nớc đầu t sẽ chỉ tiến hành các hoạt động mua, bán căn cứ theo tiêu chí
thơng mại và đảm bảo cho doanh nghiệp của các nớc thành viên WTO đợc dành đãi ngộ
quốc gia so với doanh nghiệp nhà nớc có đủ cơ hội tham gia vào các hoạt động mua,
bán với các doanh nghiệp trên của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc sẽ không can
thiệp vào quyết định thơng mại của các doanh nghiệp trên.
Tháng 7/1995 Trung Quốc thông báo sẽ dần dần loại bỏ độc quyền ngoại thơng
trong vòng 8 năm sau khi gia nhập WTO.
4.Các biện pháp liên quan đến đầu t .
Trung Quốc qui định yêu cầu về hàm lợng nội địa, thành tích xuất khẩu và yêu
cầu cân đối thơng mại đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và doanh nghiệp do
nớc ngoài sở hữu hoàn toàn. Ngoài ra, còn có những yêu cầu mua hàng gián tiếp khi ký
hợp đồng mua sắm với các công ty nớc ngoài (ví dụ: để ký đợc hợp đồng bán máy bay
thì các nhà cung cấp nớc ngoài có thể phải mua một số hàng hóa khác của Trung
Quốc).
Trung Quốc cam kết sẽ tuân thủ Hiệp định TRIMs ngay khi gia nhập WTO,
nghĩa là loại bỏ các yêu cầu cân đối ngoại tệ, yêu cầu về hàm lợng nội địa, yêu cầu về
xuất khẩu. Ngoài ra, Trung Quốc còn đảm bảo việc cấp phép nhập khẩu, cấp hạn ngạch,
hạn ngạch thuế quan sẽ không căn cứ vào các yêu cầu về hàm lợng nội địa, chuyển giao
công nghệ, tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Trung Quốc.
5.Xác định trị giá tính thuế hải quan.
Cơ quan hải quan Trung Quốc xác định trị giá hàng hóa theo hóa đơn bán hàng.
Tuy nhiên, bảng giá tham khảo không chính thức vẫn đợc cập nhật thờng xuyên. Hải
quan Trung Quốc còn có thể định giá lại hàng hóa bằng cách sử dụng giá ớc tính của
Phòng Thơng mại. Các qui định áp dụng trong việc xác định trị giá hàng hóa không đợc
công bố. Trên thực tế, cùng một sản phẩm có thể chịu thuế suất khác nhau tùy thuộc
vào cửa khẩu.
Qui định về xác định trị giá tính thuế quan không rõ ràng là một biện pháp hạn
chế nhập khẩu của Trung Quốc.
6.Trợ cấp.
Trung Quốc sử dụng nhiều hình thức trợ cấp xuất khẩu nh cho nhà sản xuất hởng
giá điện thấp; cho doanh nghiệp nhà nớc và công ty thơng mại nhà nớc đợc vay ngân
hàng với những điều kiện u đãi, trong đó rất nhiều khoản vay không phải hoàn trả; các
doanh nghiệp đáp ứng mục tiêu xuất khẩu nhất định thì đợc vay u đãi và đợc cung cấp
các phơng tiện nghiên cứu và phát triển; các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các
doanh nghiệp hoạt động trong các đặc khu kinh tế và vùng ven biển đợc u đãi về thuế.
10
Trung Quốc đang tiến hành trợ cấp tài chính cho các chơng trình phát triển sản phẩm
xuất khẩu cuối cùng.
7.Các cam kết về phi thuế quan trong th ơng mại nông sản.
-Trừ 10 nhóm nông sản (lúa mì, ngô, gạo, dầu đậu tơng, dầu cọ, dầu hạt cải, đ-
ờng, len, len lông cừu, bông) đợc nhập khẩu theo cơ chế hạn ngạch thuế quan, mọi sản
phẩm khác do doanh nghiệp thơng mại nhà nớc hay không phải doanh nghiệp thơng
mại nhà nớc nhập khẩu đều đợc đãi ngộ bình đẳng nh nhau (về thuế áp dụng, quy định
kiểm dịch, v.v.) và đợc hởng đãi ngộ quốc gia.
- Trừ những sản phẩm đợc quy định là chỉ đợc nhập khẩu thông qua doanh
nghiệp thơng mại nhà nớc (gạo, ngô, lúa mì, dầu đậu tơng, dầu cọ, dầu hạt cải, đờng,
rợu), các sản phẩm còn lại có thể đợc nhập khẩu thông qua bất kỳ doanh nghiệp nào có
quyền kinh doanh.
- Cơ chế phân bổ và tái phân bổ hạn ngạch thuế quan của Trung Quốc tuân theo
các thủ tục và tiêu chí khách quan, minh bạch.
- Mọi chủ thể đợc phân bổ hạn ngạch thuế quan đều đợc quyền ủy thác nhập
khẩu thông qua doanh nghiệp thơng mại nhà nớc và/hoặc thông qua các chủ thể có
quyền kinh doanh khác, kể cả việc tự mình trực tiếp nhập khẩu theo quy định tại văn
bản cấp hạn ngạch phù hợp với các tiêu chí đặt ra.
- Thời gian mở rộng hạn ngạch thuế quan đối với hầu hết các nông sản là năm
2004 (trừ dầu đậu tơng đợc mở rộng hạn ngạch vào năm 2005 và đợc tự do kinh doanh
từ 1/1/2006).
- Rợu: từ 1/1/2000 loại bỏ giấy phép nhập khẩu và giảm thuế quan từ 65% xuống
54%.
- Xì gà, thuốc lá điếu: từ 1/1/2000 loại bỏ giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch và
giảm thuế quan từ 40% xuống 34%.
Dới đây là danh mục cụ thể các nông sản Trung Quốc áp dụng hạn ngạch thuế
quan và thời hạn mở rộng hạn ngạch:
Bảng 1: Danh mục các nông sản Trung Quốc áp dụng hạn ngạch thuế quan
(HNTQ) và thời hạn mở rộng hạn ngạch
STT Mặt hàng Lộ trình mở rộng HNTQ của Trung Quốc
1 Lúa mỳ 2000-2004
2 Ngô 2000-2004
3 Gạo 2000-2004
4 Dầu đậu tơng 2000-2005
5 Dầu cọ 2000-2004
6 Dầu hạt cải dầu 2000-2004
7 Đờng 2000-2004
8 Len 2000-2004
9 Len lông cừu (wool
top)
2000-2004
10 Bông 2000-2004
Bảng 2: Danh mục các mặt hàng Trung Quốc duy trì giấy phép nhập khẩu (GP),
hạn ngạch (HN) và lộ trình loại bỏ
11
STT Mặt hàng Biện
pháp
Lộ trình
loại bỏ
1 Xăng dầu GP, HN 2004
2 Phân bón GP, HN 2002
3 Một số hóa chất GP 2002
4 Phim cha tráng GP 2000
5 Cao su tự nhiên GP, HN 2004
6 Lốp cao su GP, HN 2004
7 Vải, nguyên liệu vải GP, HN 2000, 2001
8 Động cơ, máy kéo GP, HN 2003
9 Máy điều hòa, tủ lạnh GP, HN 2001
10 Máy giặt gia đình GP, HN 2001
11 Máy chạy đĩa compact, máy ghi băng từ và tái
tạo âm thanh, máy thu và phát video và phụ
tùng
GP, HN 2001, 2002
12 Máy thu kết hợp với thiết bị thu phát âm thanh GP, HN 2000
13 Máy thu hình, màn hình TV GP, HN 2001, 2002
14 Ô tô các loại GP, HN 2004, 2005
15 Xe máy các loại và phụ tùng GP, HN 2004
16 Camera GP, HN 2003
17 Đồng hồ đeo tay các loại GP, HN 2003
Nguồn: Hiệp định Thơng mại tiếp cận thị trờng song phơng Hoa Kỳ-Trung
Quốc.
Chơng II
các biện pháp phi thuế của việt nam
trong thời kỳ 1996-2000
A.Thực trạng Kinh tế -thơng mại và tổng quan khả năng cạnh tranh của
Việt Nam.
I.Tổng quan thực trạng Kinh tế-Thơng mại Việt Nam
thời kỳ 1996-2000
1.Tổng quan thực trạng kinh tế Việt Nam.
Trong các năm 1996 - 2000, mặc dù tốc độ tăng trởng Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) bình quân hàng năm đạt đợc ở mức độ tơng đối cao (7%), nền kinh tế Việt Nam
đã trải qua một giai đoạn khó khăn với sự suy giảm liên tục từ mức rất cao 9,3% năm
1996, đã giảm dần xuống chỉ còn 4,8% năm 1999 và năm 2000 dự kiến 6,6% - 6,7%.
Sự suy giảm tốc độ tăng trởng GDP nói trên là do sự suy giảm đáng kể trong sản
xuất công nghiệp và cả trong các ngành dịch vụ mặc dù tốc độ tăng trởng trong sản
xuất nông nghiệp đã có sự gia tăng trong cả giai đoạn: Tốc độ tăng trởng nông nghiệp
đã tăng từ 4,4% năm 1996 lên 5,2% năm 1999 và năm 2000 (mặc dù liên tục bị lũ, lụt)
dự kiến tăng 4,3%. Trong khi đó tốc độ tăng trởng của sản xuất công nghiệp đã giảm từ
13,9% năm 1996 xuống còn 9,3% năm 1999 và năm 2000 dự kiến 15% - 15,5%. Tốc
độ tăng trởng của các ngành dịch vụ còn suy giảm một cách nghiêm trọng hơn, từ 9,9%
năm 1996 xuống còn 2,3% năm 1999 và năm 2000 dự kiến 6,2%.
12
Trong sự suy giảm tốc độ tăng trởng GDP đó có sự đóng góp của tất cả các thành
phần kinh tế, từ khu vực Nhà nớc cho đến khu vực t nhân và khu vực đầu t nớc ngoài.
Khu vực kinh tế Nhà nớc góp một phần đáng kể, từ chỗ tăng trởng 11,3% năm 1996,
xuống còn 4,3% năm 1999. Khu vực kinh tế t nhân cũng suy giảm liên tục trong giai
đoạn này, từ chỗ tăng trởng 14,4% năm 1996 chỉ còn 6,2% năm 1999.
Mức tăng trởng chậm lại của khu vực công nghiệp là do sự giảm sút của ngành
công nghiệp chế biến và ngành sản xuất điện, khí đốt và nớc. Tốc độ tăng trởng của
ngành công nghiệp chế biến đã giảm từ 12,8% năm 1996 xuống còn 7,5% năm 1999.
Ngành sản xuất điện, khí đốt và nớc còn gặp sự suy giảm mạnh hơn, từ 14,7% năm
1996 xuống chỉ còn 7% năm 1999.
Sự suy giảm trong ngành dịch vụ thể hiện bằng tình trạng suy giảm của tất cả các
phân ngành, nhng chủ yếu là do sự suy giảm trong ngành xây dựng. Tốc độ tăng trởng
của ngành xây dựng đã giảm từ 16,1% năm 1996 xuống còn 2,4% năm 1999, đặc biệt
năm 1998, tốc độ tăng trởng của ngành này ở mức âm (-0,5%).
Kết quả khả quan của ngành sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này là nhờ
mức tăng trởng cao trong sản xuất lúa gạo, thủy sản và chăn nuôi. Sản lợng thóc đã tăng
không ngừng từ 27 triệu tấn năm 1997 lên 29 triệu tấn năm 1998 và 31 triệu tấn năm
1999 và năm 2000 dự kiến 32 triệu tấn. Do đó, xuất khẩu gạo đã đạt mức kỷ lục 4,2
triệu tấn vào năm 1999 và năm 2000 dự kiến 3,6 triệu tấn. Sản lợng chăn nuôi cũng duy
trì mức tăng trởng tơng đối nhanh; Sản lợng thuỷ, hải sản cũng có sự phục hồi và phát
triển mạnh mẽ (một phần là do nhu cầu xuất khẩu tăng).
Bảng 3: Tình hình tăng trởng kinh tế giai đoạn 1996-1999
1996 1997 1998 1999
Tốc độ tăng trởng GDP 9,3% 8,2% 5,8% 4,8%
Theo thành phần kinh tế
Nhà nớc 11,3% 9,7% 5,6% 4,3%
Tập thể 3,6% 2,6% 3,5% 3,6%
T nhân 14,4% 9,8% 7,9% 6,2%
Cá thể 6,6% 5,6% 3,4% 3,9%
Hỗn hợp 8,1% 3,5% 4,1% -1,3%
Đầu t nớc ngoài 19,4% 20,8% 19,1% 13,4%
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp 4,4% 4,3% 3,5% 5,2%
Công nghiệp 13,9% 13,1% 11,3% 9,3%
Dịch vụ 9,9% 7,8% 4,2% 2,3%
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 1999, Nhà xuất bản Thống kê.
13
Ghi chú: - Nông nghiệp bao gồm cả sản xuất lâm nghiệp và thuỷ sản
- Công nghiệp bao gồm khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và sản xuất,
phân phối điện, khí đốt và nớc
- Dịch vụ bao gồm cả xây dựng và các hoạt động Đảng, đoàn thể và xã
hội.
Nguyên nhân chính của tình trạng suy giảm kinh tế nói trên là do đầu t sụt giảm
trong hầu hết các lĩnh vực. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng đầu t theo
GDP đã giảm mạnh từ 29% năm 1997 xuống 21% năm 1999, đặc biệt là do sự suy
giảm trong đầu t trực tiếp nớc ngoài trong các năm 1998 và 1999. Sau thời kỳ mỗi năm
đạt bình quân 2 tỷ USD trong giai đoạn 3 năm 1995 - 1997, đầu t nớc ngoài đã giảm
xuống còn 800 triệu USD năm 1998 và năm 1999 chỉ còn 600 triệu USD. Sự sụt giảm
nhiều nhất là từ các nhà đầu t Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nớc Đông Nam á,
là những nớc bị ảnh hởng nhiều nhất của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra từ giữa
năm 1997 đến đầu năm 1999.
Đầu t từ các nguồn trong nớc cũng suy giảm. Đầu t của các doanh nghiệp t nhân
và của các hộ gia đình trong nớc năm 1999 đã giảm khoảng gần 2%. Đầu t của các
doanh nghiệp Nhà nớc và đầu t từ nguồn tài trợ ODA cũng giảm sút.
2.Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu.
Trái với tình hình suy thoái của nền kinh tế nói chung nh nêu ở trên, trong giai
đoạn 1996 - 2000 ngoại thơng Việt Nam đã đạt đợc sự phát triển rất đáng khích lệ cả về
quy mô, tốc độ tăng trởng và diện mặt hàng, đóng góp tích cực vào GDP, thúc đẩy sự
phát triển kinh tế trong nớc, phục vụ tốt cho các ngành sản xuất trong nớc, và góp phần
tạo thêm nhiều việc làm cho ngời lao động.
2.1.Xuất khẩu.
Xuất khẩu trong thời kỳ 1996 - 2000 đã đạt đợc tốc độ tăng trởng tơng đối cao,
bình quân 20,8% một năm (trong đó năm 2000 dự kiến tăng 21,3%). Tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả giai đoạn đã đạt 51,34 tỷ USD (trong đó năm 2000 dự kiến đạt 14 tỷ
USD), đa mức xuất khẩu bình quân đầu ngời tăng lên 151,2 USD/ngời vào năm 1999 và
dự kiến 180 USD/ngời vào năm 2000.
Sự phát triển nhanh chóng của xuất khẩu đạt đợc là do sự mở rộng không ngừng
diện mặt hàng xuất khẩu, sự tăng trởng cũng nh sự phát triển về quy mô của từng nhóm
mặt hàng.
Năm 1991 Việt Nam mới có 4 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch
từ 100 triệu USD/năm trở lên, nhng đến năm 2000 số nhóm mặt hàng này đã tăng lên
15 nhóm. Có nhiều mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD đến 2 tỷ USD nh
dầu thô, dệt may, giầy dép, thủy sản, gạo.
Trong 5 năm 1996 - 2000 tốc độ tăng trởng của các mặt hàng chủ lực khá cao,
bình quân 19,7%/năm; trong đó có những mặt hàng tốc độ tăng trởng nhảy vọt nh giầy
dép tăng 6,7 lần; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 3,2 lần; hàng dệt may tăng 1,76 lần; và
thủy, hải sản tăng 1,5 lần. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ, hải sản tăng 64%, trong đó gạo,
cao su, cà phê, đều tăng từ 65% đến 103%. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng
sản tăng 109%, trong đó chủ yếu là dầu thô và than đá.
Đáng lu ý trong số các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhóm điện tử và linh
kiện máy tính có tốc độ phát triển khá nhanh: mặc dù năm 1996 mới bắt đầu xuất khẩu
đạt kim ngạch 89 triệu USD, từ năm 1997 đã liên tục tăng trởng nhanh, đến năm 1999
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét