Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Kevin P. Coyne và Somu Subramanian nhìn chiến lược theo hai phần. Phần
một chiến lược là một nhóm các quyết định định hình các hoạt động sau đó
của công ty, rất quan trọng để công ty có thể đạt được các mục tiêu chiến
lược của mình. Phần hai định nghĩa một nhóm các quyết định nghĩa là gì
nhưng lại không nói làm thế nào để thay đổi định nghĩa này khi công ty
không có lợi thế cạnh tranh, điều mà nhiều công ty thường không có.
Theo Deependra Moitra : “Chiến lược chính là sự độc đáo và việc
làm khác biệt khả năng cạnh tranh để đạt được lợi thế đòn bẩy trong thị
trường.” Khái niệm của ông đã nêu lên tính hấp dẫn của chiến lược. Ông
nói rằng “đa số các khái niệm về chiến lược cao bằng chiến lược với hoạch
định. Điều này hoàn toàn không đúng. Mặc dù hoạch định là cầm thiết để
thực hiện bất kỳ dự án nào nhưng bạn cần biết chiến lược chỉ khi bạn có
các đối thủ cạnh tranh và cần có các công cụ làm khác biệt khả năng cạnh
tranh. Chiến lược cũng thuộc về tính độc đáo nhất là khi bạn muốn xác
định vị trí và làm cho chiến lược mang tính độc đáo trong môi trường cạnh
tranh. Đây là cũng là định nghĩa duy nhất nói về lợi thế đòn bẩy mà Moitra
nhấn mạnh là thiết yếu vì:
“Lợi thế cạnh tranh không kéo dài trong tương lai”
Theo Cornelis A. de Kluyver : “Chiến lược là định vị một tổ chức để
được lợi thế cạnh tranh bền vững. Nó liên quan đến những lựa chọn những
nghành công nghệ để tham gia, những sản phẩm - dịch vụ nào cần được
cung cấp và làm thế nào để phân bổ những nguồn tài nguyên của công ty
để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. Mục tiêu chủ yếu là tạo ra giá trị
cổ đông và những người giữ cổ phần khác bằng cách cung cấp giá trị cho
khách hàng.”
“Giá trị - nếu không được duy trì, nuôi dưỡng, cải tiến không
ngừng - sẽ hao mòn theo thời gian”
Theo khái niệm của Cornelis A. de Kluyver thì:
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
5
5
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Định vị tổ chức để có được lợi thế cạnh tranh bền vững,
cho dù ngày nay muốn giữ vững được lợi thế cạnh tranh là
một điều khó hơn bao giờ hết.
- Hãy quyết định tham gia vào ngành để cạnh tranh chứ
đừng chấp nhận ngành được ban phát.
- Lưu ý quá trình tạo ra giá trị qua việc cung cấp giá trị cho
khách hàng và thừa nhận giá trị đó, cũng giống như lợi thế
cạnh tranh có thể hao mòn.
Ngày nay có thể coi chiến lược chính là vũ khí then chốt của các
công ty để đánh bại đối thủ cạnh tranh. Như vậy một chiến lược được coi là
hiệu quả là một chiến lược thu hút được nhiều khách hàng mua sản phẩm
hoặc dịch vụ hơn.Có thể nói chiến lược của Cornelis A. de Kluyver được
đáng chú ý hơn cả bởi nó chủ định rõ nét hoặc thậm chí còn mang tính hiện
thực. Hay nói một cách khác chiến lược trong định nghĩa của ông đã mô tả
những gì mà tổ chức phải làm hoặc phải lên kế hoạch. Để biết được một
công ty đang sử dụng chiến lược nào thì cần phải xem công ty đã làm gì, họ
sử dụng vốn và lao động như thế nào. Tất cả đều thông qua hành vi của họ.
Tất cả các công ty đều có chiến lược cho dù chiến lược ấy có hiệu quả hay
không hiệu quả hay có đạt được kết quả mong muốn hay không. Chỉ khi
nào xem xét một công ty không có tính cạnh tranh thì mới xem như công ty
đó không có chiến lược mà thôi.
Chiến lược là một lĩnh vực rất đa dạng nên cần phải xem xét chiến
lược trên các lĩnh vực sau:
- Chiến lược công ty: sức mạnh của công ty do 3 yếu tố kiểm
soát chiến lược đó là nhân sự, hoạt động kinh doanh, tổ
chức bộ máy. Lợi thế của một công ty phụ thuộc vào chất
lượng và hiệu quả của sự kết hợp các yếu tố chiến lược
kiểm soát này với nhau
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
6
6
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Chiến lược cạnh tranh: Để hoạt động kinh doanh có hiệu
quả tạo ra nhiều giá trị cho nhân viên và cổ đông thì công
ty cần phải có lợi thế cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh.
Làm thế nào để tạo ra lợi thế cạnh tranh và duy trì lợi thế
cạnh tranh mà mình có.
- Chiến lược theo vị trí: Tuỳ theo vị trí của mình trên thị
trường. Công ty cần có chiến lược thích hợp để bảo vệ, duy
trì thách thức ở một vị trí cao hơn.
- Chiến lược theo định hướng: Trong một số các ngành hàng
mà công ty đang kinh doanh, từng thời điểm từng nguồn
hàng mà công ty có những định hướng khác nhau: Nắm
thời cơ để phát triển, tạm thời bảo vệ vị trí hay rút lui?
Công ty cần một chiến lược cho từng định hướng.
Chiến lược không phải là bất di bất dịch theo thời gian những thách
thức mới hình thành hoặc do môi trường thay đổi thì công ty phải điều
chỉnh chiến lược để đối phó và thích hợp. Một khi đã quyết định chiến lược
cần được công ty triển khai một cách nhất quán để đảm bảo chiến lược
được triển khai một cách hiệu quả.
1.2 Quyết định chiến lược
Quyết định chiến lược là quyết định ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của công ty, vị thế của nó trong ngành và sự tồn tại lâu dài của công
ty. Quyết định chiến lược khác với các loại chiến lược khác, chủ yếu ở
những hậu quả của nó, những hậu quả này còn quan trọng hơn đối với tổ
chức. Vì điều này, những quyết định chiến lược có khuynh hướng chỉ được
đưa ra sau khi phân tích, thảo luận bàn bạc kỹ lưỡng và thường liên quan
đến nhièu người trong quyết định này. Các quyết định chiến lược thường
được đưa ra trong quá trình hoạch định chiến lược, trong khi các quyết định
điều hành thì không-chỉ được đưa ra sau.
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
7
7
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Những ví dụ về các quyết định chiến lược như: có nên thành lập 1
liên minh chiến lược không và với công ty nào, có nên xáp nhập với công
ty nào không, làm thế nào để có được lợi thế cạnh tranh và giữ vững lợi thế
cạnh tranh đó, có nên tham gia vào một ngành hay một phân khúc khác hay
không.
Các quyết định điều hành như: có nên nâng cấp hệ thống kế toán, có
nên thay đổi chiến dịch quảng cáo, đưa ra một đợt bán giảm giá hoặc
những đợt khuyến mại khác v v
Mặc dù trong tất cả các trường hợp, những điều này rất quan trọng trong
một tổ chức nhưng chúng cũng chỉ là một quyết định điều hành. Những
quyết định chiến lược, bản thân chúng không quan trọng hơn những quyết
định điều hành mà chỉ đơn giản là hậu quả của chúng rộng lớn và kéo dài
hơn.
1.3 Phân tích chiến lược
Phân tích chiến lược là một người hoặc một nhóm người cố xây
dựng một chiến lược, xác định các mục tiêu và thiết kế các chương trình
trọng điểm của công ty.
Điểm khác biệt chính giữa phân tích chiến lược và hoạch định chiến
lược là: không có sự cam kết của tổ chức với những quyết định được rút ra
từ phân tích chiến lược.
( Ví dụ: Các sinh viên cao học quản trị kinh doanh thì không thể thực
hiện phân tích chiến lược thay cho vị chủ tịch của một công ty hoặc ngay
cả khi đã chứng minh họ có đủ khả năng để phân tích. Tuy nhiên một khi
công ty hoạch định chiến lược và làm nghiêm túc thì mọi người liên quan
đến quá trình này nên chuẩn bị cam kết với những quyết định mà họ cùng
nhau đạt được. )
Phân tích chiến lược được thực hiện khi có phần nào đó của hoạch
định chiến lược cần phân tích. Ví dụ như so sánh công ty của mình với đối
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
8
8
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
thủ cạnh tranh, đánh giá tính hấp dẫn của ngành, rút ra kết luận về thành
tích tài chính vừa qua của công ty và tình hình tài chính hiện tại xem công
ty có kỹ năng chủ yếu hay không, hoặc quyết định nên chọn giải pháp
chiến lược nào.
Mô hình phân tích chiến lược:
Hình 1. Mô hình phân tích chiến lược
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
Giai đoạn 1 : Phân tích hiện
trạng
Môi trường bên ngoài
Phân tích ngành
Phân tích thị trường
Phân tích các xu hướng
môi trường
Môi trường bên trong
Phân tích tài chính
Phân tích công ty
Giai đoạn 2 : Các phương án
lựa chọn
Các vấn đề chiến lược
Các phương án chiến
lược
Lựa chọn chiến lược
Phân tích các phương án
dựa theo tiêu chuẩn,
đánh giá để lựa chọn
phương án tối ưu
Giai đoạn 3 : Kiến nghị
Kiến nghị ngắn hạn
(dưới 1 năm)
Kiến nghị dài hạn
(từ 1- 5 năm)
Tuyến bố về tầm
nhìn và nhiệm vụ
9
9
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
2. Quản trị chiến lược lược mở rộng thị trường
2.1 Khái niệm
Quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược,
tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo,
kỹ thuật và các phương pháp xử lý.
Sự kết hợp có hiệu quả những nhân tố này sẽ giúp cho phương
hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo. Đây là hoạt động liên tục
để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh
của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những
tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh
doanh. Như một phần trong ý tưởng chiến lược về phát triển hoạt động
kinh, bạn ( và đối tác của bạn ) phải vạch ra một phương hướng cụ thể, tuy
nhiên, những tác động đó về mặt chính sách hoặc tác động về mặt kinh
doanh sẽ làm phương hướng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi theo
chiều khác. Điều này cũng hàm ý cả trách nhiệm về giải trình của bạn khi
quyết định xem nên có những hoạt động điều chỉnh để đi đúng hướng đã
định hay đi theo một hướng mới. Tương tự như vậy, cũng liên quan đến
cách điều hành doanh nghiệp, nếu mối quan hệ với các đối tác thay đổi.
Chọn một chiến lược đúng đã khó, quản trị chiến lược để đạt được
kết quả lại càng khó hơn. Bởi vì, những thay đổi về môi trường, về cạnh
tranh, về thị trường xảy ra liên tục không ngừng trong quá trình thực hiện.
Do đó thường đòi hỏi những điều chỉnh nhỏ hoặc lớn đối với những chiến
lược khi thực hiện. Nếu chiến lược đòi hỏi công ty phải thực hiện những gì
mà nó chưa bao giờ làm trước đây, như là làm ra một loại sản phẩm mới,
chuyển qua công nghệ mới, bán cho nhóm khách hàng mới, mở rộng ra một
thị trường mới…v.v thì công ty phải học cách làm những điều này, phát
triển hệ thống mới và những kế hoạch huấn luyện mới, kể cả thay đổi mô
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
10
10
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
hình kinh doanh. Tất cả những điều này làm cho việc thực hiện chiến lược
khó khăn và rủi ro hơn.
2.2 Tầm quan trọng của quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Tổ chức
của bạn cần phải ứng phó có hiệu quả trước những thách thức nảy sinh,
gồm cả những khó khăn và cơ hội. Ví dụ: công chúng gia tăng kỳ vọng vào
tiêu chuẩn và tính sẵn có của dịch vụ. Đổi lại các tổ chức đang hướng tới
cách thức cung cấp dịch vụ chú trọng vẻ bề ngoài-một sự chuyển đổi cơ
bản từ trọng điểm theo truyền thống là tập trung vào các vấn đề bên trong.
Cùng lúc đó các cơ hội lớn để cải cách có thể xuất hiện từ những tiến bộ về
công nghệ thông tin liên lạc và các nguồn tài chính hỗ trợ sẵn có. Trong rất
nhiều trường hợp, sự ứng phó đối với những khó khăn và cơ hội sẽ:
- Cần có sự quan tâm liên tục của quản trị cao cấp
-
- Ảnh hưởng đến hầu hết hoặc toàn bộ tổ chức
- Có tác động trong dài hạn
- Cần có nguồn lực lớn
- Được gắn liền với các vấn đề và sự việc tiếp diễn khác
Đặc điểm của quản trị chiến lược có hiệu quả:
- Một chiến lược kinh doanh với tầm nhìn chiến lược rõ ràng
trong tương lai
- Một cơ chế có trách nhiệm giải trình ( với các khách hàng
cho việc đáp ứng kì vọng của họ, cũng như trọng tâm trong
việc đáp ứng các mục tiêu chính sách )
- Một khuôn khổ chung cho người quản lý ở một vài cấp độ (
từ quản lý bao quát cho đến việc sắp xếp những báo cáo
nội bộ ) để đảm bảo rằng bạn có thể cùng phối hợp mọi thứ
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
11
11
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
với nhau, thậm chí cả khi có sự cạnh tranh giữa thứ tự
những công việc ưu tiên và các mục tiêu khác nhau
- Khả năng khai thác cơ hội và ứng phó trước những thay đổi
từ bên ngoài bằng cách thực hiện tiếp các quyết định chiến
lược
- Một khuôn khổ chặt chẽ cho quản trị rủi ro-liệu có thể cân
bằng giữa những rủi ro và phần thưởng của một phương
hướng kinh doanh, đương đầu với những thay đổi rủi ro
định sẵn hay đảm bảo tính liên tục trong kinh doanh hay
không
Những người liên quan đến quản trị chiến lược:
Vai trò chủ chốt bao gồm:
- Các nhà quản trị kinh doanh và giám đốc điều hành cấp cao
trong các tổ chức thuộc lĩnh vực cộng đồng, họ cần phải
tìm ra các cơ hội cho cách làm việc mới để có thể giúp tổ
chức đó nhận ra những vấn đề thay đổi trong lĩnh vực phục
vụ công cộng, họ cũng cần phải nhận thức được sự cần
thiết phải sắp xếp lại tổ chức khi phương hướng chiến lược
thay đổi
- Các nhà quản trị cao cấp chiu trách nhiệm xem xét và đánh
giá lại yêu cầu về cung cấp các dịch vụ cơ bản và những
nhà quản trị chịu trách nhiệm tìm kiếm các phương thức để
cung cấp các dịch vụ đó
- Các nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện và đánh giá
chiến lược kinh doanh trong tổ chức; họ cần tôn trọng
những đối tác và những người góp vốn kinh doanh chịu
ảnh hưởng của chiến lược đó trong bối cảnh kinh doanh mở
rộng hơn.
Các nguyên tắc thực hiện quản trị chiến lược:
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
12
12
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Vấn đề chiến lược mà tổ chức đang phải đối mặt và những
ứng phó trước các vấn đề này sẽ yêu cầu các kỹ năng trong
quản trị chiến lược-đó là khả năng nhận thức và giải quyết
thành công các vấn đề chiến lược của tổ chức. Trong lĩnh vực
phục vụ công cộng, những vấn đề này bao gồm:
- Giải quyết nhu cầu khách hàng chứ không phải lợi ích của
tổ chức
- Sử dụng tiền có hiệu quả và giá trị lớn hơn
- Cung cấp các dịch vụ đã cải thiện và đổi mới cho công
chúng
- Quá trình xây dựng chính sách do nhiều người cùng thực
hiện
- Gia tăng đối thoại với khách hàng và đối tác
- Phối hợp tốt giữa chính quyền từ trung ương đến địa
phương
- Tình hình thực hiện thoả thuận cung cấp dịch vụ công cộng
được cải thiện
- Thực hiện chiến lược xây dựng chính phủ điện tử ( một
khuôn khổ chung về những nguyên tắc chủ yếu như: khả
năng hoạt động tương hỗ và các tiêu chuẩn kỹ thuật hỗ trợ).
Mặc dù quá trình thực hiện chiến lược có thể kết hợp với
các công việc đã lên lịch sẵn cho phù hợp với quá trình quản
trị mở rộng-như vòng quay kế hoạch tài chính trong lĩnh vực
công
cộng-thì quản trị chiến lược vẫn là một quá trình liên tục.
Các nhà quản lý mọi cấp độ trong tổ chức có thể cần phải ra
quyết định về các vấn đề kinh doanh vào bất kì lúc nào và một
số quyết định có thể được coi như chiến lược-mặc dù lúc đó
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
13
13
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
không được coi là chiến lược. Bất kì một chiến lược tập trung
vào kinh doanh cần phải đủ linh hoạt để đáp ứng những nhu
cầu liên tục thay đổi
3. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chiến lược mở rộng thị
trường
3.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc
trong mối liên hệ với các yếu tố khác. Khi xem xét đến các nhân tố vĩ mô
chúng ta cần quan tâm đến những vấn đề sau: yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội,
yếu tố chính phủ và chính trị, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên, yếu tố công
nghệ.
Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng lớn tới tổ chức, hoạt
động của tổ chức. Thông qua một số các yếu tố như: lãi suất ngân hàng,
giai đoạn chu kỳ của kinh tế, chính sách tài chính & tiền tệ… Mỗi nhân tố
trên có thể là nguy cơ cũng có thể là cơ hội đối với doanh nghiệp. Doanh
nghiệp nên khéo léo trong cách lãnh đạo công ty trong từng thời điểm.
Yếu tố chính phủ và chính trị: các yếu tố chính phủ và chính trị có
ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động
của doanh nghiệp đều phải theo khuôn khổ của pháp luật. Có những chính
sách mà chính phủ ban hành sẽ tạo điều kiện cho những doanh nghiệp
trong nước phát triển (chính sách tăng thuế nhập khẩu), nhưng khi chúng ta
ra nhập WTO thì lại là thách thức với các doanh nghiệp khi chính phủ thực
hiện chính sách mậu dịch tự do.
Yếu tố tự nhiên: Các yếu tố tự nhiên trong chục năm trở lại đây đã
được quan tâm hơn, tuy nhiên vẫn còn tình trạng thải chất thải làm ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng tới cuộc sống của mọi người xung quanh đó. Các
vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên… khiến
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét