cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại
những mặt hạn chế nh cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu
nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm ăn
vi phạm pháp luật nh trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép
những mặt hàng mà Nhà nớc và pháp luật nghiêm cấm.
2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trờng thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và
đứng vững. Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến
lợc cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lợc ở cả tầm vi mô và vĩ
mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để
giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh
nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu ngời tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh
chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng nh dịch vụ kèm theo với mức giá phù
hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển. Do vậy cạnh
tranh là rất quan trọng và cần thiết.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác maketing
bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trờng để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất
nh thế nào? và sản xuất cho ai?. Nghiên cứu thị trờng để doanh nghiệp xác
định đợc nhu cầu thị trờng và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trờng cần chứ
không sản xuất những gì mà doanh nghiệp có. Cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp phải đa ra các sản phẩm có chất lợng cao hơn, tiện dụng với ngời
tiêu dùng hơn. Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cờng công tác
quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để
nâng cao trình độ chuyên môn. Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh
nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trờng tăng thêm uy tín cho doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản
xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế.
2.3. Đối với ngành
Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành dệt may nói
riêng cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng
cao chất lợng sản phẩm. Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bớc đà
vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển. Nhất là đối vơí ngành dêth may-
là một ngành có vai trò chủ lực trong sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Cạnh tranh sẽ tạo bớc đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở
khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút đợc một nguồn lao
động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó.
Nh vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô
hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ
mô hay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh
.
2.4 Đối với sản phẩm.
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng đợc nâng cao
về chất lợng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho lợi ích
của ngời tiêu dùng và của doanh nghiệp thu đợc ngày càng nhiều hơn. Ngày
nay các sản phẩm đợc sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nớc
mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nớc ngoài. Qua những ý nghĩa trên ta thấy
rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh
tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và
đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng
xã hội. Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của
nhà nớc để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực nh
cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn
thị trờng.
Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh đợc phân loại theo các hình thức khác nhau:
3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh đợc chia thàn ba loại:
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh diễn
ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của
mình. Ngời bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn ngời
mua muốn mua với giá thấp nhng chất lợng vẫn đợc đảm bảo và mức giá
cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa ngời mua và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh trên
cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trờng mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc
này hàng hóa trên thị trờng sẽ khan hiếm, ngời mua để đạt đợc nhu cầu
mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức
độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những ngời mua, kết quả là giá cả
hàng hoá sẽ tăng lên, những ngời bán sẽ thu đợc lợi nhuận lớn trong khi
những ngời mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lợng, nhng trờng hợp này
chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra
hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó.
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: Đây là cuộc cạnh
tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trờng sức cung
lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng đợc coi là thợng đế của ngời bán, là
nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để
giành những u thế và lợi thế cho mình.
3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh
Theo tiêu thức này cạnh tranh đợc chia thành bốn loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức
đơn giản của cấu trúc thị trờng trong đó ngời mua và ngời bán đều không
đủ lớn để tác động đên giá cả thị trờng. Nhóm ngời mua tham gia trên thị
trờng này chỉ có cách thích ứng với mức giá đa ra vì cung cầu trên thị trờng
đợc tự do hình thành, giá cả do thị trờng quyết định.
- Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh
tranh phổ biến trên thị trờng mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có
thể chi phối đợc giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo,
khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Cạnh tranh không hoàn
hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau,
mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về
chất lợng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhng mức
giá mặc định cao hơn rất nhiều. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại:
+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số
chủ thể có ảnh hởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua
sản phẩm của mình với giá rất cao và những ngời này có thể làm thay đổi
giá cả thị trờng. Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và
độc quyền mua. Độc quyền bán tức là trên thị trờng có ít ngời bán và nhiều
ngời mua, lúc này ngời bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ
muốn lợi nhuận thu đợc là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trờng
có ít ngời mua và nhiều ngời bán khi đó khách hàng đợc coi là thợng đế, đ-
ợc chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những ngời bán sẽ không lôi
kéo đợc khách hàng về phìa mình. Trong thực tế có tình trạng độc quyền
xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền
hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát
triển sản xuất và làm tổn hại đến ngời tiêu dùng. Vì vậy phải có một đạo
luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà
kinh doanh.
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một
số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít ngời sản xuất. Lúc này cạnh
tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lợng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy mọi
doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ
phụ thuộc vào số lợng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ
cạnh tranh khác trên thị trờng. Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp
cũng sẽ gây ra những ảnh hởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của
doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp tham gia thị trờng này là những
ngời có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu t lớn. Do vậy việc thâm nhập vào thị
trờng của các đối thủ cạnh tranh thờng là rất khó.
3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại
sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu đợc lợi nhuận nh cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm
thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát
triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có
thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh
tế khác nhau nhằm đạt đợc lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác.
Nh vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác
khác nhau nh môi trờng kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu
có tính chất khác nhau nên cùng một lợng vốn đầu t vào ngành này có thể
mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Điều đó dẫn đến tình
trạng nhiều ngời sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận
thấp có xu hớng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các
ngành. Kết quả là những ngành trớc kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút
các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Do đó cung vợt quá cầu làm cho giá
cả hàng hoá có xu hớng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận. Ngợc lại
những ngành trớc đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu t
rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này
giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng
tỷ suất lợi nhuận.
4. Các công cụ cạnh tranh.
Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố,
các kế hoạch, các chiến lợc, các chính sách, các hành động mà doanh
nghiệp sử dụng nhằm vợt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách
hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Từ đó tiêu thụ đợc nhiều
sản phẩm, thu đợc lợi nhuận cao. Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho
phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình
hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trờng của doanh nghiệp. Từ đó
phát huy đợc hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh
có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuân mẫu cứng nhắc
nào. Dới đâylà một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các
doanh nghiệp thơng mại thờng phải dùng đến chúng.
4.1. Cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản
phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng
xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu nh trớc kia giá
cả đợc coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhờng
chỗ cho tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm. Khi có cùng một loại sản phẩm,
chất lợng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn đợc nhu cầu của ngời
tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn. Nhất là trong nền kinh
tế thị trờng cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của ngời lao động
ngày càng đợc nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình,
cái mà họ cần là chất lợng và lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói rằng giá cả
là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá
cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho
phù hợp với mức thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và
của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo đợc hài hoà giữa chất l-
ợng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở
hiện tại và trong tơng lai thì nâng cao chất lợng sản phẩm là điều cần thiết.
Nâng cao chất lợng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay
đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu
dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất lợng sản phẩm
là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn.
Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu đợc ngày càng
tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp. Làm tăng lòng
tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm đợc coi là một vấn đề sống còn đối với doanh
nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đơng đầu đối
với các đối thủ cạnh tranh từ nớc ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lợng
hàng hoá dịch vụ không đợc bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với
doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị tr-
ờng dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác chất lợng thể
hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao
chất lợng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lợng hàng hoá
bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm. Nâng cao chất lợng sản phẩm sẽ
làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Do vậy cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm là một yếu tố rất
quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều
phải sử dụng nó.
4.2. Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả đợc hiểu là số tiền mà ngời mua trả cho ngời bán về việc cung
ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng
tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản
xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hởng của quy luật cung cầu. Trong
nền kinh tế thị trờng có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng đ-
ợc tôn vinh là Thợng đế họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt
nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lợng tơng đơng nhau thì chắc
chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu đợc từ sản phẩm là
tối u nhất. Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật
phục vụ mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc
cạnh tranh chiếm lĩnh thị trờng là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả.
Giá cả đã thể hiện nh một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản
phẩm: định giá thấp hơn giá thị trờng, định giá ngang bằng giá thị trờng hay
chính sách giá cao hơn giá thị trờng.
Với một mức giá ngang bằng với giá thị trờng: giúp doanh nghiệp
đánh giá đợc khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra đợc biện pháp giảm giá
mà chất lợng sản phẩm vẫn đợc đảm bảo khi đó lợng tiêu thụ sẽ tăng lên,
hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu đợc nhiều hơn.
Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trờng: chính sách này đợc áp
dụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lợng hàng hoá lớn, thu hồi vốn
và lời nhanh. Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách
định giá thấp. Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trớc mắt đến lúc có thể để
sau này chiếm đợc cả thị trờng rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng.
Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để
định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trờng.
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trờng: là ấn định giá bán sản
phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trờng hiện tại khi mà lần
đầu tiên ngời tiêu dùng cha biết chất lợng của nó nên cha có cơ hội để so
sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh
vào tâm lý của ngời tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lợng
cao hơn các hàng hoá khác. Doanh nghiệp thờng áp dụng chính sách này
khi nhu cầu thị trờng lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong
thị trờng độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có
sự nhạy cảm về giá.
Nh vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ l-
ỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là
nghiên cứu xu hớng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng nh cần phải
xem xét các chiến lợc các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh
đắc lực bởi nó hạn chế đợc tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng. Để
hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp đợc diễn ra thông suốt, thờng xuyên và
đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các
đặc trng của thị trờng, của khách hàng. Từ đó có các chính sách phân phối
sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách
phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu
thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông thờng kênh phân
phối của doanh nghiệp đợc chia thành 5 loại:
+ Kênh ngắn: Ngời sản xuất => Ngời bán lẻ => Ngời tiêu dùng
+ Kênh cực ngắn: Ngời sản xuất => Ngời tiêu dùng
+ Kênh dài: Ngời sản xuất=>Ngời buôn bán=>Ngời bán lẻ=>Ngời
tiêu dùng
+ Kênh cực dài: Ngời sản xuất=>Đại lý=> Ngời buôn bán=> Ngời
bán lẻ=> Ngời tiêu dùng.
+ Kênh rút gọn: Ngời sản xuất=>Đại lý=> Ngời bán lẻ=> Ngời tiêu
dùng.
Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo
nhu cầu của ngời mua và ngời bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh
nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại
hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng nh những ngời môi giới
nhng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rờm rà.
4.4. Cạnh tranh bằng chính sách Maketing
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách
maketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt
động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trờng, tìm hiểu nhu
cầu khách hàng đang có xu hớng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập
thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết
định sản xuất những gì ? kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách
hàng có nhu cầu. Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh
nghiệp thờng sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình
thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến ngời tiêu dùng. Kết thúc quá trình
bán hàng, để tạo đợc uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần
thực hiện các hoạt động dịch vụ trớc khi bán, trong khi bán và sau khi bán.
Nh vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng
phụ để hỗ trợ các chính sách khác. Do vậy chính sách maketing không thể
thiếu đợc trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp.
5. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng. ở đâu có
nền kinh tế thị trờng thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trờng muốn
doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh.
Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
nền kinh tế nớc ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con
ngời đợc nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con ngời không chỉ cần có nhu
cầu ăn chắc mặc bền nh trớc kia mà còn cần ăn ngon mặc đẹp. Để đáp
ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên
cứu thị trờng, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp
và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì
vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trờng: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi tr-
ờng kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách
hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt
nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của ngời tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp
nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có
khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một điều kiện và
là một yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc
đẩy hát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá
sản xuất ra nhiều, số lợng ngời cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn
kém hiệu quả, năng suất chất lợng thấp và ngợc lại nó thúc đẩy những Công
ty làm ăn tốt, năng suất chất lợng cao. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì
doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các doanh
nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của ngời
tiêu dùng nh sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lợng cao, giá cả phù
hợp với chất lợng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tợng
khách hàng. Có nh vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới ngày một
nhiều, tạo đợc lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển đợc
thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết u thế của mình, tạo ra những điểm
khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng
tồn tại, phát triển và thu đợc lợi nhuận cao.
Trong nền kinh tế thị trờng muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh
luôn là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp. Cũng trong nền kinh tế đó khách
hàng là ngời tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những ngời
quyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không. Họ không phải tìm đến
doanh nghiệp nh trớc đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi
để mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngợc lại trong nền kinh tế thị trờng khách
hàng đợc coi là thợng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét