- NHTM là loại hình ngân hàng tham gia "tạo tiền" với hệ số tạo tiền
lớn nhất, đẻ ra các công cụ lu thông tín dụng rộng rãi nhất. Vì vậy NHTM
là loại ngân hàng hoạt động gặp nhiều rủi ro nhất cần đợc quản lý chặt chẽ
nhất để đảm bảo an toàn hệ thống tiền tệ và hệ thống các tổ chức tín dụng.
- NHTM chịu sự quản lý Nhà nớc của NHNN về tổ chức và hoạt động
của ngân hàng.
3. Vai trò chức năng của ngân hàng thơng mại.
a. NHTM là những trung gian tài chính, là môi giới giữa ngời gửi tiền
và ngời vay vốn, giữa tiết kiệm và đầu t. Hay nói cách khác, nó thực hiện
chức năng kinh doanh tiền tệ và hoạt động tín dụng. Trên cơ sở huy động
các khoản tiền gửi, sau đó thực hiện cho vay với lãi suất cho vay lớn hơn lãi
suất huy động. Hoặc sử dụng và đầu t. Ngoài ra còn thực hiện cung cấp
các dịch vụ khác nh: thanh toán, chuyển tiền, bảo quản các chứng từ có
giá, kinh doanh vàng bạc, chứng từ uỷ thác
b. Bằng con đờng tăng trởng vốn, các NHTM góp phần thúc đẩy tăng
trởng kinh tế. Thông qua tập trung vốn, NHTM cho doanh nghiệp vay để
có vốn tăng qui mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị , áp
dụng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển.
c. Với t cách là một hệ thống, các NHTM tham gia quá trình "tạo tiền"
làm thu hẹp hay mở rộng hệ số của các phơng tiện thanh toán, tạo cân đối
hay làm mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, làm giảm nhẹ hay
gây áp lực với hàng hoá, giá cả
d. Đằng sau hoạt động NHTM diễn ra quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
II- Hoạt động tín dụng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tín dụng. Nhng tóm
lại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau thì bản chất của nó là quan hệ vay m-
ợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả lại nhau.
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và những căn cứ khác nhau mà
phân loại tín dụng thành: tín dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng
tiêu dùng, tín dụng cho thuê tài sản Trong bài này chúng đề cập đến tín
dụng ngân hàng.
Chức năng của tín dụng là:
5
- Tín dụng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng. Thông
qua tín dụng, các doanh nghiệp nhận vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh, tăng trởng kinh tế.
- Là công cụ bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận. Thực hiện điều hoà vốn
giữa các ngành, các vùng.
- Làm cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở
nên năng động, mềm dẻo và linh hoạt.
- Là công cụ tăng vòng quay của vốn và giảm tiền mặt trong lu thông.
Hoạt động chính của ngân hàng là cấp tín dụng cho khách hàng. Hay
hiểu theo nghĩa đơn giản là việc sử dụng tiền vào mục đích đầu t và cho vay
thu lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng trong NHTM bao gồm rất
nhiều hình thức khác nhau nh: tín dụng ngắn, trung và dài hạn, phí tín
dụng, cho vay tiền, bảo lãnh, uỷ thác ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến tín
dụng cho vay của ngân hàng
III- Thực trạng về hoạt động tín dụng của ngân hàng
thơng mại Việt Nam hiện nay.
1- Những vấn đề chung.
Cho đến nay, trên đất nớc ta đã có nhiều loại hình tổ chức tín dụng với
số lợng khá đông hoạt động:
+ 6 ngân hàng Nhà nớc
+ 51 ngân hàng thơng mại cổ phần (31 NHTM cổ phần đô thị và 20
NHTMCP nông thôn).
+ 5 chi nhánh NHTM nớc ngoài.
+ 4 ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam với nớc ngoài.
+ 1000 quỹ tín dụng nhân dân
+ 5 Công ty tài chính (2 Công ty tài chính cổ phần và 3 Công ty tài
chính của tổng Công ty Nhà nớc).
+ 8 Công ty cho thuê tài chính (2 Công ty liên doanh, 1 Công ty nớc
ngoài và 5 Công ty ngân hàng quốc doanh).
6
Ngoài ra còn một hệ thống tiết kiệm bu điện mới thành lập và gần 60
văn phòng đại diện của ngân hàng nớc ngoài hoạt động. Tổng số ngời làm
việc trong lĩnh vực ngân hàng khoảng 60.000 ngời (trong tổ chức tín dụng
51.000 ngời).
Các tổ chức tín dụng phát triển nhanh nhất vào khoảng các năm 1992-
1995 thời kỳ thực hiện hai pháp lệnh ngân hàng, tổ chức lại hợp tác xã tín
dụng và mở cửa quan hệ quốc tế. Đây vừa là u thế để thúc đẩy cạnh tranh
của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng với nhau, giúp không ngừng
nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lợng của các hoạt động tín dụng.
Nhng đồng thời cũng là một khó khăn trong việc hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Từ khi tách hệ thống ngân hàng thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc
thực hiện chức năng quản lý và hệ thống ngân hàng thơng mại thực hiện
chức năng kinh doanh. Do có sự phân công và phối hợp giữa hai hệ thống
này, giúp cho vai trò của ngân hàng đợc thực hiện, đóng góp tích cực hiệu
quả vào phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta nhất là giai đoạn đang quá độ
và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Điều này thể
hiện qua tốc độ tăng trởng nhanh (trung bình 8,2-8,5%/năm, tốc độ phát
triển của các ngành nghề, tạo công ăn việc làm, góp phần tích cực vào
chính sách xã hội nh xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ vốn cho nông dân phát
triển kinh tế .Và một điều đáng nói nữa là: trong khi các nớc khác chịu
ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì nớc ta
không những chỉ có ảnh hởng chút ít,lại còn giữ vững đợc sự ổn định của
tiền tệ, giữ vững mức độ tăng trởng cao nhất Đông Nam á, và cao hơn
nhiều nớc trên thế giới. Nhng chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động
của ngân hàng vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy vẫn còn tồn
tại một số vấn đề mà cần có sự điều chỉnh và đổi mới để phát huy hơn nữa
những kết quả đã đạt đợc,nhất là trong lĩnh vực hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Hoạt động tín dụng cũng là một hình thức kinh doanh nhng rất đặc
biệt, nó khác với ngành nghề kinh doanh khác. Nó hoạt động theo phơng
châm "đivay để cho vay", từ đó thu lợi nhuận từ hoạt động cho vay là chủ
yếu. Đi vay thì phải trả, ngoài gốc còn có lãi. Thế nên nếu ngân hàng, tổ
chức tín dụng thực hiện quản lý cho vay không tốt hoặc là không cho vay
đợc hoặc là cho vay nhng gặp những rủi ro nh không đòi đợc nợ thì sẽ bị
thiệt hại, làm giảm kinh doanh thậm chí có thể phá sản, điều này cũng
7
ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc dân.Đó
là những rủi ro đòi hỏi các NHTM phải khắc phục, ngăn chặn đồng thời tìm
đợc hớng đi và biện pháp hữu hiệu.
Trong quá trình đổi mới, chúng ta còn vấp phải nhiều, điều này thể
hiện sự yếu kém trong quản lý hoạt động ngân hàng.Mấy năm vừa qua, liên
tục trên đài, báo chí đa tin về các vụ đổ vỡ tín dụng, ngân hàng bị thất
thoát tài sản, những vụ lừa đảo chiếm đoạt tài của khách hàng, cán bộ tín
dụng ngân hàng mà sự việc xảy ra liên tục từ Nam chí Bắc, hết ở tỉnh này
đến tỉnh khác. Điều đó chứng tỏ việc quản lý, sử dụng vốn của hoạt động
ngân hàng nhất là trong hoạt động cho vay cha có hiệu quả.
2. Thực trạng.
Trên thực tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn cha đủ mạnh lại phải
đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, nên những
yếu kém càng lõ rõ.
Nhìn chung, các NHTM Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn tự có và
vốn điều lệ ở mức thấp, tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản của phần lớn các
ngân hàng đều dới 5% so với mức tối thiểu của quốc tế là 8%. Thế mà tỷ lệ
nợ quá hạn và các khoản nợ đọng chờ xử lý không sinh lời của hệ thống
ngân hàng vào khoảng 15%, tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trong tổng nợ quá
hạn của phần lớn các NHTM đều trên 50%. Vấn đề này liên quan đến trình
độ quản lý của các NHTM, hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách
hàng, chính sách tín dụng Nhà nớc, các thiết chế về bảo đảm tiền gửi và
cho vay nói chung. Bên cạnh đó, mặc dù các NHTM đã cố gắng phát triển
các dịch vụ ngân hàng, nhng nhìn chung vẫn còn nghèo nàn và chất lợng
thấp, hiệu quả hoạt động của khu vực này không đủ bù đắp cho sự giảm
nhanh chóng lợi nhuận từ khu vực tín dụng. Tóm lại hiệu quả hoạt động
chung của hệ thống ngân hàng còn thấp.
Nâng cao chất lợng tín dụng và hiệu quả kinh doanh là vấn đề quan
tâm số một của hoạt động kinh doanh tiền tệ. Sự suy giảm chất lợng tín
dụng ở phạm vi rộng lớn là mầm móng cho khủng hoảng kinh tế có thể
bùng nổ bất cứ lúc nào. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, cách đây hai năm,
NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động tín dụng bằng
công văn 756/CV-NH3 và đến nay có thể nói toàn ngành ngân hàng có
những chuyển biến đáng kể. Các tổ chức tín dụng đã quan tâm đúng mức
đến việc áp dụng các biện pháp để xử lý nợ quá hạn. Tuy vậy, hiện nay
8
theo kết luận của Thống đốc NHNN tại hội nghị giám đốc NHNN tháng 7
năm 1998: "Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp tăng cờng thu hồi nợ quá
hạn và nâng cao chất lợng tín dụng, nhng tình hình nợ quá hạn vẫn cao, ch-
a đợc khắc phục và còn tiếp tục gia tăng".
Tín dụng với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hiện tại mỗi NHTM quốc doanh đợc cấp 1.100 tỷ đồng vốn điều lệ
(70 triệu USD) và giới hạn an toàn nguồn vốn huy động khoảng 30.000 tỷ
đồng (2 tỷ USD). Nh vậy quy mô hoạt động của ngân hàng quá nhỏ để mở
rộng đầu t và hội nhập quốc tế. Với vai trò là trung gian tài chính cung cấp
nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt đợc những hiệu quả
đáng kể thì những tồn tại trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Có thể nói nợ quá hạn là tồn tại cơ bản nhất, nếu không nhanh chóng
khắc phục sẽ đe doạ trực tiếp đến sự lành mạnh và an toàn của hệ thống
ngân hàng cũng nh tình hình kinh tế - xã hội. Qua số liệu thống kê, nhiều
doanh nghiệp Nhà nớc có trị giá taì sản còn lại chỉ bằng 61% nguyên giá
tài sản cố định, còn vốn lu động do Nhà nớc cấp cho các doanh nghiệp Nhà
nớc chỉ mới đạt khoảng 20% so với yêu cầu sản xuất kinh doanh nhng thực
tế chỉ đạt đợc 10% so với định mức. Chính vì vậy để hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp Nhà nớc phải đi vay ngân hàng với số lợng
lớn, tỷ trọng vốn đi vay chiếm 80 - 90% vốn tự có, thậm chí còn gấp 3-4
lần vốn tự có. Vay nhiều thì phải trả nhiều, vì thế có ngời nói phải giả lãi
vay cho ngân hàng nhiều là nguyên nhân trực tiếp gây thua lỗ. Điều này dễ
hiểu, tiền ngân hàng cho vay là tiền ngân hàng đi vay của dân, có ngân
hàng 70-80% nguồn vốn cho vay là tiền gửi tiết kiệm của dân. Còn lại là
tiền có nguồn gốc vay từ nớc ngoài hay tiền tạm vay từ tiền nhàn rỗi của
các tổ chức khác. Họ có biết đâu, các khoản vay này ngân hàng phải trả cả
gốc lẫn lãi không đợc khất hoãn. Vậy thì đó có phải là nguyên nhân trực
tiếp không. Trên thực tế, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do bộ máy quản
lý cồng kềnh, trình độ quản lý thấp kém với trình độ kỹ thuật công nghệ lạc
hậu dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao. Theo đánh giá của Tổng cục
quản lý vốn và tài sản Nhà nớc về hoạt động của 5.800 doanh nghiệp Nhà
nớc hiện nay thì kết quả cho thấy chỉ còn 37% hoạt động có hiệu quả, còn
46,4% cha có hiệu quả thuộc diện khó khăn tạm thời, có số nợ phải thu khó
đòi và lỗ luỹ kế là 1.135 tỷ đồng và 16,6% còn lại thuộc diện không có
9
hiệu quả với số luỹ kế và nợ phải thu khó đòi lên đến 1.763 tỷ đồng, các
doanh nghiệp này 75% vốn Nhà nớc tan thành mây khói.
Một trong vấn đề nữa là trong các DNNN có nhu cầu gần nh vô hạn
đối với vốn vay ngân hàng, buộc các NHTM phải cho vay quá mức so với
vốn tự có của doanh nghiệp. Các NHTM bị đẩy vào tình thế "tiến thoái l-
ỡng nan" nếu không cho vay thì d nợ quá hạn thậm chí mất khả năng chi
trả càng tăng trong khi ngân hàng không đảm bảo về mặt pháp lý. Việc xử
lý đối với các khoản nợ quá hạn của các DNNN, doanh nghiệp kinh tế,
Đảng đoàn thể, tổ chức kinh tế tập thể đang tồn đọng tại các tổ chức tín
dụng. Các khoản nợ tại các tổ chức tín dụng hầu nh không đợc các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và cơ quan chủ quản quan tâm trả nợ. Đối với các
trờng hợp này, đơn vị có nợ và cơ quan chủ quản xem việc "xù nợ" tại các
tổ chức tín dụng là điều hiển nhiên. Hiện tợng khá phổ biến mà bất cứ ai có
một chút quan tâm đến hoạt động ngân hàng đều có thể nhận thấy rằng:
thời gian qua, có không ít DNNN làm ăn thua lỗ, phá sản đợc các cơ quan
chủ quản (Bộ, ngành, tỉnh) ra quyết định giải thể, sau thành lập đơn vị mới
(với bộ máy nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị vừa giải thể)để "xù"
các khoản nợ của tổ chức tín dụng này và tiếp tục quan hệ với các tổ chức
tín dụng khác.
Không riêng gì DNNN mà ngay cả đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh cũng vậy. Trong thời gian qua các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đã đợc thành lập một cách ồ ạt, mở rộng với qui mô lớn song lại tách rời
với khả năng tài chính. Một thực trạng đáng lo ngại là ngoài sự yếu kém về
trình độ công nghệ, trình độ quản lý, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hiện nay đang quá ít vốn và thực tế cho biết không ít trờng hợp doanh
nghiệp ngoaì quốc doanh hoàn toàn không có vốn để hoạt động kinh
doanh, nhiều doanh nghiệp ra đời bằng" vốn ảo" vì vậy hoạt động sản xuất
của các DNNQD chủ yếu bằng vốn vay hoặc vốn chiếm dụng .
Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp nh trên đã nảy sinh tình
trạng tỷ lệ vay vốn của các doanh nghiệp cao hơn gấp nhiều lần so với vốn
tự có. Mà hoạt động tín dụng bắt đầu từ sản xuất kinh doanh gắn bó với
việc chu chuyển đồng vốn và quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá phục
vụ cho đời sống của nhân dân. Hay nói cách khác, hoạt động tín dụng bắt
đầu từ nội dung hoạt động của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất lu thông.
Có "cầu" thì mới có "cung". Cầu đúng đắn, chính đáng thì cung mới bảo
đảm và phát huy tác dụng. Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã làm cho rủi
10
ro trong tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Để nâng cao chất lợng tín
dụng thì việc chấn chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế. Hay cụ thể hơn là bắt đầu từ chấn chỉnh chế độ tài
chính của các doanh nghiệp, cho dù ngân hàng có đề ra kiểm soát trớc,
trong và sau khi cho vay nhng thực tế ngân hàng làm sao kiểm soát nổi?
Bởi lẽ hoạt động kinh tế tài chính muôn hình vạn trạng, hơn nữa doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh với ngân hàng lại là bình đẳng, thậm chí
khách hàng còn là thợng đế của ngân hàng. Khi có sự kiểm soát thì sự việc
đã diễn ra rồi. Trên thực tế, khoảng cách giữa ngời cho vay và khách hàng
còn xa, không có nghiệp vụ tín dụng gắn liền với mối quan hệ tiếp xúc th-
ờng xuyên giữa ngân hàng và khách hàng. Vấn đề thông tin và nắm bắt
tình hình biến đổi kinh tế-xã hội tác động đến khách hàng còn chậm,
không đầy đủ và xử lý cha triệt để.
Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngân hàng có sẵn sàng tiếp thêm vốn
cho doanh nghiệp để "vợt cạn" không? đây là câu hỏi mà ngân hàng cần
cân nhắc kỹ lỡng. Nếu tiếp thêm vốn thì lỡ mất hết thì sao. Nếu không tiếp
thêm vốn để cho khách hàng "vợt cạn" có thể trả đợc cả nợ lẫn nợ mới
thậm chí cả lãi thì sao. Đây là một chi phí cơ hội mà ngân hàng cần xem
xét, đánh giá cẩn thận trớc khi quyết định cho vay tiếp hay thôi. Sự tồn tại
và phát triển của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của bản
thân NHTM. Ngân hàng có thể tìm biện pháp nh thơng lợng, gia hạn nợ,
giảm nợ để giúp doanh nghiệp vợt qua giai đoạn khó khăn, tránh cho
mình đợc rủi ro.
Những khó khăn mắc phải trong hoạt động tín dụng.
Về nguyên tắc cho vay, phải có tài sản đảm bảo có thể là tín chấp hoặc
thế chấp tài sản. Về tín chấp, ngân hàng phải xét uy tín, khả năng chi trả
của khách hàng, hoặc uy tín bảo lãnh cho khách hàng đó. Nếu nh xem xét
khách hàng có đầy đủ uy tín thì có thể cho vay tín chấp. Trong bài viết "thu
thập thông tin khi thẩm định cho vay cá nhân và hộ gia đình: Khâu quan
trọng không thể bỏ qua" của tác giả Mai Anh (chi nhánh NHNo và phát
triển nông thôn Thăng bình Quảng Nam) có đoạn viết rằng: một khi không
biết chắc chắn rằng khách hàng sẽ sử dụng vốn vào mục đích gì thì tuyệt
đối không nên cho vay mặc dù khách hàng có tài sản thế chấp "cán bộ tín
dụng cần cảnh giác với nhóm đối tợng tìm mọi cách để vay bằng đợc vốn
ngân hàng, nhóm khách hàng này thờng đang sắp phá sản, cần vốn để cứu
11
nguy khẩn cấp. Vì vậy họ dùng mọi thủ đoạn từ việc năn nỉ đến quà cáp,
biếu xén, hối lộ cán bộ tín dụng, những việc mà khách hàng có lòng tự
trọng không bao giờ làm, miễn sao vay đợc nhiều vốn càng tốt". Đây là một
rủi ro đạo đức do khách hàng gây nên. Chúng ta không nên coi trọng quá
vấn đề tín chấp hay tài sản thế chấp. ở Việt Nam đã thiên vị, coi trọng vấn
đề thế chấp hơn là tín chấp. Trong luật cầm cố, ngời đi vay phải chuyển tài
sản cho ngân hàng, điều này cha triệt để vì trong lĩnh vực thơng mại không
thích hợp. Ví dụ: Trong thế chấp kho ngân hàng không thể quản lý đợc.
Bản chất của sự cầm cố là ngời vay tín dụng phải đa tài sản của mình cho
ngân hàng cầm cố trong khi về mặt pháp lý họ vẫn là chủ sở hữu của tài sản
đó (ở đây có sự khác biệt giữa sở hữu về mặt pháp lý và sở hữu thực tế
quyền sử dụng).
Trong trờng hợp thế chấp kho hàng, ngân hàng không thể thể lấy
hàng hoá trong kho đa về ngân hàng đợc. Trờng hợp này cần uỷ thác cho
ngời thứ ba trông coi kho và quản lý tài sản đó. Đây là một khâu sơ hở dẫn
đến rủi ro cho ngân hàng do khách hàng và cán bọ tín dụng ngân hàng gây
nên. Điển hình là vụ án gần đây nhất: Epco - Minh Phụng.
Đây là vụ án lớn nhất từ trớc đến nay bao gồm 77 bị cáo trong đó
còn 18 cán bộ ngân hàng, gây tổng thiệt hại hơn 4.300 tỷ đồng. ở đây
chúng đã sử dụng thủ đoạn. Cách luật để vay vốn ngân hàng. Ngoài việc
thành lập nhiều Công ty "ma" nhỏ để vay vốn ngân hàng cho chúng sử
dụng thì chúng còn sử dụng thủ đoạn nhập khẩu hàng hoá thông qua pháp
nhân của cá DNNN có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
nh: Ngũ cốc, Công ty xuất nhập khẩu Đất Việt các DNNN nhập khẩu
hàng hoá ở nớc ngoài về đều có bảo lãnh của ngân hàng. Song các doanh
nghiệp lại đem lô hàng đó thế chấp cho ngân hàng bảo lãnh (ngân hàng
nhận thế chấp tài sản của mình). Khi hàng đợc nhập về Việt Nam, các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Nhà nớc đem bán trên thị trờng hoặc
phân phối các đại lý ở phía Nam. Theo qui định của Chính phủ và Bộ thơng
mại, mà bán lòng vòng cho Công ty Minh Phụng, thậm chí bán cả hàng thế
chấp mà không cần xin ý kiến của ngân hàng.
Việc Công ty xuất nhập Ngũ cốc và các Công ty khác trong vụ án
Epco- Minh Phụng tự ý bán hàng thế chấp đã vi phạm cam kết trong hợp
đồng.Hàng chỉ đợc xuất khỏi kho khi có sự đồng ý hoặc lệnh giải chấp của
ngân hàng. Bất chấp những cam kết trong hợp đồng, lợi dụng ngân hàng
12
không kiểm tra, giám sát hàng thế chấp, Nguyễn Xuân Phong và Liên Khui
Thìn đã ngang nhiên bán hàng thế chấp lấy tiền sử dụng.
Mặt khác cùng một lô hàng đã đợc ngân hàng bảo lãnh khi nhập khẩu,
nhng khi bán cho doanh nghiệp trong nớc thì lô hàng đó lại đợc Công ty
Epco- Minh Phụng đề nghị ngân hàng bảo lãnh một lần nữa. Với thủ đoạn
mua bán lòng vòng, thì cuối cùng Tăng Minh Phụng nhận đợc tiền bán
hàng nhập khẩu và các Công ty nhập khẩu ban đầu lại mua số hàng nhập
khẩu ban đầu với giá thấp hơn giá nhập khẩu lần đầu. Thực tế không có sự
dịch chuyển cơ học của hàng hoá mà chỉ thông qua giấy tờ. Điều này cũng
dễ "che mắt" vì có sự tiếp tay của cán bộ nhân viên ngân hàng.
Tính đến ngày khởi tố 24/03/1997 với các hình thức ký 217 hợp đồng
tín dụng, 99 hợp đồng bảo lãnh, 9 th tín dụng (L/C), Liên Khui Thìn và
Tăng Minh Phụng cùng 47 Công ty con khác đã rút đợc 5.223 tỷ đồng của
chi nhánh ngân hàng công thơng và chi nhánh ngân hàng ngoại thơng TP.
Hồ Chí Minh.
Quay trở về với vấn đề thế chấp và tín chấp. Văn bản Nhà nớc về cấp
tín dụng đều qui định rất ngặt nghèo việc cho vay và không có bảo đảm
trong luật các tổ chức tín dụng. Thậm chí còn "hình sự hoá" vấn đề này.
Điều này có làm cho chất lợng tín dụng tốt hơn không? thực tế vấn đề cho
vay có đảm bảo đã ăn sâu vào tâm trí mọi ngời đến mức hầu hết các đoàn
thanh tra, kiểm tra ngân hàng Nhà nớc đều đòi hỏi tất cả các món vay đều
phải có tài sản thế chấp, mặc dù nhiều văn bản của Chính phủ hoặc NHNN
vẫn cho phép vay tín chấp, không có tài sản thế chấp nh đối với xí nghiệp
quốc doanh, nông dân nghèo, sinh viên vấn đề làm cho NHTM coi tài
sản thế chấp là nguồn thu nợ thứ hai và là nguồn thu nợ duy nhất nên đã
không quan tâm đến xem xét thẩm định thu từ doanh thu, lợi nhuận hoặc
thu nhập của khách hàng. Thậm chí có nhiều doanh nghiệp nhất là doanh
nghiệp vừa và nhỏ làm ăn có hiệu quả. Phơng án vay vốn có tính khả thi rõ
ràng cũng bị từ chối cho vay thì không có tài sản thế chấp. Nhng vay tín
chấp thì sao. Có lẽ hiệu ứng "Fameco" làm cho các ngân hàng thơng mại
cảnh giác quá mức cần thiết khi không cần. Trong kinh tế thị trờng vì bao
nhiêu bất ngờ rủi ro chờ đợi các doanh nghiệp, có thể xảy ra bất cứ lúc nào,
gây rủi ro cho doanh nghiệp và ngân hàng. Thế nhng chỉ dựa vào tài sản
thế chấp không phải là giải pháp hữu hiệu. Thực trạng các NHTM có hàng
trăm ngôi nhà thế chấp không bán đợc để thu nợ, gây tổn thất cho ngân
hàng.
13
Bài học rút ra từ vụ án Epco - Minh Phụng vẫn còn. Đợc sự giúp đỡ,
bảo lãnh của Huỳnh Văn Thành -Nguyên chủ tịch và ông Phạm Tấn Khoa-
nguyên phó chủ tịch UBND quận 3 TP. Hồ Chí Minh đã che dấu hoạt động
kinh doanh thua lỗ của Công ty Epco- Minh Phụng, nâng vốn và hạch toán
lãi tạo điều kiện cho bọn chúng tiếp tục vay vốn ngân hàng hoạt động và
lấy vốn vay chia lãi. Hay đợc sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng đã cố
ý nâng giá tài sản thế chấp hoặc đem thế chấp cho nhiều ngân hàng khác
nhau. Đây là bài học cho cán bộ ngân hàng về sự lơ là trách nhiệm, làm
việc trên giấy tờ, văn bản đề nghị của khách hàng để định món vay.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng là các tài sản nợ, có tính thanh
khoản cao và chủ yếu phải chi trả, phải thanh toán ngay khi có yêu cầu của
chủ tài khoản, trong khi đó ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn để đầu t và
cho vay, dới dạng tài sản có tính thanh khoản thấp, khó định giá và thờng
có thời gian trung bình dài hơn so với thời gian huy động vốn. Dới góc độ
chế độ kế toán nhìn từ bản cân đối tài sản của một ngân hàng ta thấy: bên
nguồn vốn thì phần lớn là huy động từ nguồn ngắn hạn (dới một năm) nh-
ng về tài sản thì ngân hàng lại cho vay đầu t vào lĩnh vực kinh doanh trên
1 năm và các hoạt động kinh tế khác của các thành phần kinh tế, cho vay
trung và dài hạn.
Trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thì tín dụng hiện nay là
một vấn đề đáng bàn. Nền kinh tế thị trờng của chúng ta đã có những tác
động làm nảy sinh những vấn đề rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng,
rủi ro của ngân hàng đã đợc thực tế chứng minh trong thời gian dài vừa qua
và đợc nhiều nhà khoa học bàn đến: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ
giá, rủi ro thanh khoản
Những rủi ro trên đối với hoạt động ngân hàng cũng là những tổn thất
lớn, có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng,gây ra những trục
trặc trong quá trình kinh doanh. Qua theo dõi tình hình tội phạm kinh tế
liên quan đến hoạt động ngân hàng trong những năm qua cho thấy nổi lên
là tình trạng lừa đảo chiếm dụng vốn vay của ngân hàng hay thông qua các
thủ đoạn nâng giá trị tài sản thế chấp, hoặc sử dụng hồ sơ giấy tờ giả vay
nhiều ngân hàng, hoặc sử dụng một hồ sơ vay nhiều ngân hàng khác. Khi
ngân hàng bị lừa đảo dẫn đến hậu quả nặng nề: tài sản Nhà nớc bị mất,
ngân hàng mất khả năng thanh toán, ngân hàng bị phá sản ảnh hởng trực
tiếp đến nền kinh tế, xã hội của một cộng đồng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét