nghĩa quan trọng khi cha có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm đặc biệt là t
liệu sản xuất với chi phí có thể chấp nhận đợc. Nguyên nhân dẫn đến tích luỹ thấp
là do các nớc đang phát triển còn phải nhập khẩu máy móc thiết bị. Vì vậy mà các
khoản tiết kiệm cha thể trở thành vốn đầu t. Khi tiến hành nhập khẩu những máy
móc thiết bị từ các nớc phát triển, các nớc đang phát triển sẽ khắc phục đợc những
yếu kém của mình về khả năng sản xuất t liệu sản xuất cũng nh những yếu kém về
kiến thức công nghệ.
2.2. Lợi thế tơng đối của D.Ricacdo.
Trong khi tiến hành hoạt động thơng mại các quốc gia có thể đợc lợi từ
những khác biệt giữa họ bằng cách đạt tới một sự dàn xế theo đó mỗi nớc sẽ làm
những gì mà xét một cách tơng đối nớc đó làm tốt hơn. Theo lý thuyết này, một
quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả
các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thơng mại quốc tế để
tạo ra lợi ích.
Nguyên tắc cơ bản để có lợi thế tơng đối chính là việc thực hiện cách mạng
hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có chi phí sản xuất tơng đối thấp hơn
so với các nớc khác. Lợi thế tơng đối cho phép bất kỳ nớc nào cũng có thể tham
gia vào thơng mại quốc tế để gia tăng thu nhập.
Sau đây, chúng ta sẽ chứng minh rằng các nớc sẽ đều thu đợc lợi từ hoạt động
thơng mại bằng sự cách mạng hoá qua ví dụ sau:
Giả sử có số liệu về ngày công lao động cần thiết để sản xuất hai sản phẩm là
thép và cà phê của hai nớc Việt Nam và Nhật Bản.
Sản phẩm
Chi phí sản xuất (ngày công lao động)
Việt Nam Nhật Bản
Thép (tấn) 35 20
Cà phê (tấn) 5 4
Nh vậy, nếu xét về chi phí sản xuất thì hao phí lao động của Việt Nam cao
hơn Nhật Bản trong cả hai mặt hàng. Do đó theo lợi thế tuyệt đối thì Việt Nam
không có kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nào sang Nhật Bản.
Nếu xem xét dựa theo chi phí so sánh, ta có:
5
Quốc gia
SP so sánh
Việt Nam Nhật Bản
Thép/Cà phê 7 5
Cà phê/Thép 1/7 1/5
Nh vậy, để sản xuất ra 1 tấn thép Việt Nam cần 7 tấn cà phê hay ngợc lại cần
1/7 tấn thép để sản xuất 1 tấn cà phê. Tơng tự đối với phía Nhật Bản cần 5 tấn cà
phê để sản xuất 1 tấn thép và ngợc lại cần 1/5 tấn thép để sản xuất 1 tấn cà phê.
Nh vậy ta thấy chi phí so sánh để sản xuất ra 1 tấn cà phê của Việt Nam thấp hơn
của Nhật Bản và chi phí để sản xuất ra 1 tấn thép của Nhật Bản thấp hơn của Việt
Nam. Do đó, Việt Nam có thể xuất khẩu cà phê sang Nhật Bản và nhập khẩu thép
từ Nhật Bản và ngợc lại Nhật Bản có thể xuất khẩu thép sang Việt Nam và nhập
khẩu cà phê từ Việt Nam. Trong mối quan hệ buôn bán này có 2 nớc Việt Nam và
Nhật Bản đều có lợi, do đó đều cùng muốn trao đổi hàng hoá với nhau.
- Về phía Việt Nam: khi cha có hoạt động ngoại thơng ngời sản xuất cà phê
bán 7 tấn cà phê đợc 1 tấn thép, khi có ngoại thơng họ chỉ cần bán 5 tấn cà phê sang
Nhật Bản là đổi đợc 1 tấn thép và họ còn lại 2 tấn cà phê để tiêu dùng, kết quả là
Việt Nam có thể tiêu dùng ngoài đờng khả năng sản xuất.
Giả sử: tỷ lệ trao đổi là 5,5 cà phê=1 thép và Việt Nam mua 2 tấn thép.
Sơ đồ 1.1
Khi có ngoại thơng, điểm A phản ánh đồng thời khả năng sản xuất và khả
năng tiêu dùng của 2 loại hàng hoá là cà phê và thép là (C
a
, T
a
). Khi có ngoại th-
ơng Việt Nam tập trung vào sản xuất cà phê nhiều hơn, sản xuất thép ít đi nên trên
đờng giới hạn khả năng sản xuất PPF, khả năng sản xuất của Việt Nam đợc di
chuyển từ A đến B với số lợng cà phê nhiều hơn (C
b
>C
a
) và lợng thép ít hơn
(T
b
<T
a
). Tuy vậy nhờ có hoạt động ngoại thơng giữa Việt Nam và Nhật Bản nên
khả năng tiêu dùng của Việt Nam lại nằm tại C (C
b
-n, T
b
+ 2) vợt ra ngoài đờng
khả năng sản xuất.
6
2
7,0
Nhu cầu
thép
P
S
5,5
5,0
Giá SS
T
b
+2
C
b
Thép
A
C
b-n
C
a
Cà phê
T
a
C
B
T
b
Sơ đồ 1.2
Cũng tơng tự nh vậy ta có lợi ích của Nhật Bản thu đợc trong quan hệ với
Việt Nam nh sau:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ 2.2
Nh vậy nhờ có ngoại thơng mà khả năng tiêu dùng của Nhật Bản cũng vợt
qua đờng giới hạn khả năng sản xuất tại điểm C (T
b
-2, C
b
+n).
Qua phân tích ở trên ta đã giải thích đợc phần nào cơ sở của việc hình thành
các hoạt động ngoại thơng. Mô hình của Ricacdo tập trung vào năng suất lao động
tơng đối là công cụ hữu ích để lý giải sự ra đời của hoạt động ngoại thơng.
3-/ Cơ sở ngoại thơng của Việt Nam.
Luật Thơng mại Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/1/1998) đã khẳng định:
Nhà nớc thống nhất quản lý về ngoại thơng, có chính sách mở rộng giao lu hàng
hoá với nớc ngoài trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi
theo hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá khuyến khích các thành phần kinh tế sản
xuất hàng xuất khẩu và tham gia xuất khẩu theo quy định của pháp luật, có chính
sách u đãi để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo các mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh,
tăng xuất khẩu dịch vụ thơng mại, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nớc
đã sản xuất đợc và có khả năng đáp ứng yêu cầu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nớc.
Về cơ bản chính sách ngoại thơng hiện nay của chúng ta đang thực hiện là
chính sách hớng ngoại tổng hợp, tức là tận dụng lợi thế so sánh để sản xuất sản
phẩm xuất khẩu đồng thời khuyến khích sản xuất các sản phẩm để thoả mãn nhu
cầu trong nớc và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo nguồn tích
luỹ cho đất nớc.
7
11
1/5
Nhu cầu
cà phê
1/5,5
1/7
Giá SS
C
b
+11
T
b
Cà phê
A
T
b-2
T
a
Thép
C
a
C
B
C
b
Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII tháng 6-1996 đã nêu: Đẩy mạnh
xuất khẩu, coi xuất khẩu là hớng u tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo
thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu
trên thị trờng. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế
biến sâu và tinh trong hàng xuất khẩu. Tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ, nâng cao tỷ
trọng phần giá trị gia tăng trong giá trị hàng xuất khẩu. Giảm dần nhập siêu, u tiên
việc nhập khẩu để phát triển sản xuất phục vụ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng
tiêu dùng cha thiết yếu. Có chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nớc. Nh vậy
hoạt động xuất khẩu đợc coi là yếu tố quyết định của hoạt động ngoại thơng, là
nhân quan trọng trong kinh tế đối ngoại.
Nội dung chính sách xuất khẩu của nớc ta bao gồm những điểm sau đây:
- Một là, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu xuất
khẩu hàng hoá cần thiết cho nền kinh tế quốc dân. Thông qua nhật khẩu tranh thủ
thiết bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến của các nớc trên thế giới nhằm khai
thác có hiệu quả nguồn lực trong nớc.
- Hai là, phấn đầu tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, mở rộng quy mô xuất
khẩu, đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, đa phơng hoá thị trờng xuất khẩu.
Nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, thu hẹp chênh lệch giữa xuất khẩu
và nhập khẩu.
- Ba là, khuyến khích tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh
thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất sản phẩm hớng về xuất khẩu.
- Bốn là, xoá bỏ bao cấp và bù lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải hoạt động có hiệu quả, đồng thời
phải thực hiện trách nhiệm xã hội do pháp luật quy định. Khi phục vụ lợi ích
chung, trờng hợp doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ Nhà nớc
phải có chính sách hỗ trợ thích đáng.
- Năm là, cơ cấu xuất khẩu và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu phải phù hợp với
điều kiện thị trờng cạnh tranh. Đây là yếu tố quyết định để tăng kim ngạch xuất
khẩu vừa tăng nhanh xuất khẩu vừa chú trọng mở rộng các dịch vụ thu ngoại tệ
tăng tỷ trọng các sản phẩm có chứa hàm lợng kỹ thuật cao và sản phẩm chế biến,
giảm tỷ trọng các sản phẩm thô là những phơng hớng cơ bản để nâng cao hiệu quả
xuất khẩu.
- Sáu là, cơ cấu mặt hàng phải theo hớng đa dạng hoá phát huy tiềm năng của
nền nông nghiệp nhiệt đới, phát huy đợc các lợi thế về lao động, con ngời, tạo ra
những mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao nhờ tính độc đáo và giá thành thấp.
8
II-/ Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế:
1-/ Khái niệm về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu
không chỉ là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua
bán trong thơng mại có tổ chức nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế ổn định và từng bớc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Do đó, cùng với những lợi ích kinh tế đem lại khá cao thì hoạt động xuất
khẩu cũng rất dễ dẫn đến những hiệu quả khó lờng hết vì nó phải đối mặt với toàn bộ
các hệ thống kinh tế của các nớc cùng tham gia xuất khẩu mà các hệ thống này có
đặc điểm không giống nhau và rất khó có thể khống chế đợc.
Xuất khẩu, đó là hoạt động bán những sản phẩm sản xuất trong nớc ra nớc
ngoài nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách Nhà nớc, phát triển sản xuất
kinh doanh và nâng cao đời sống cho nhân dân. Hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn
rất nhiều so với việc mua bán một sản phẩm nào đó trong thị trờng nội địa, vì hoạt
động này diễn ra trong một thị trờng vô cùng rộng lớn, đồng tiền thanh toán có
ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển ra ngoài phạm vi quốc gia. Các quốc gia khi
tham gia vào hoạt động buôn bán, giao dịch quốc tế đều phải tuân thủ theo các
thông lệ quốc tế.
2-/ Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trởng và
phát triển của bất kỳ một quốc gia nào. Hoạt động xuất khẩu mang lại nguồn tài
chính rất lớn cho đất nớc. Chúng ta có thể tóm gọn lại vai trò của xuất khẩu đối
với sự tăng trởng và phát triển của một quốc gia qua những điểm sau đây:
- Thông qua việc xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh chúng ta sẽ có khả
năng phát huy đợc lợi thế so sánh, sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn lực có
điều kiện trao đổi kinh nghiệm cũng nh tiếp cận đợc với các thành tựu khoa học
công nghệ tiên tiến trên thế giới. Đây chính là vấn đề mấu chốt của công nghiệp
hoá hiện đại hoá. áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại trong các ngành chế tạo và
chế biến hàng xuất khẩu sẽ tạo đợc những sản phẩm có chất lợng cao mang tính
cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Khi đó sẽ có một nguồn lực công nghiệp mới
cho phép tăng số lợng, chất lợng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm đợc chi phí lao
động của xã hội.
- Tạo việc làm tăng thu nhập cho ngời lao động, từ đó kết hợp hài hoà giữa
tăng trởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, góp phần tạo ra những biến
chuyển tốt để giải quyết những vấn đề còn bức xúc trong xã hội.
9
- Tăng thu ngoại tệ tạo nguồn vốn cho đất nớc và cả cho nhập khẩu phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời cải thiện cán cân thanh
toán, cán cân thơng mại, tăng dự trữ ngoại tệ cho ngân sách Nhà nớc và qua đó
tăng khả năng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị tiên tiến thay thế dần cho
những thiết bị lạc hậu còn đang sử dụng, để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh
tế của đất nớc.
- Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh. Nhờ có cạnh tranh thúc đẩy doanh
nghiệp cải tiến công nghệ để có khả năng sản xuất những sản phẩm, dịch vụ có
chất lợng cao, tạo ra năng lực sản xuất mới. Vì vậy, các chủ thể tham gia xuất
khẩu cần phải tăng cờng theo dõi kiểm soát chặt chẽ lẫn nhau để không bị yếu thế
trong cạnh tranh.
- Tăng cờng hợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu, nâng cao uy tín và vị thế của
Việt Nam trên thị trờng quốc tế. Khi hoạt động xuất khẩu xuất phát từ nhu cầu thị
trờng thế giới nó sẽ đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển thể hiện ở một số điểm sau:
+ Tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ làm cho sản xuất phát triển và ổn
định.
+ Mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất góp phần nâng cao năng
lực sản xuất trong nớc.
+ Tạo điều kiện cho các ngành có cơ hội phát triển đồng thời kéo theo các
ngành liên quan phát triển theo.
+ Thông qua xuất khẩu, Việt Nam có thể tham gia vào thị trờng cạnh tranh thế
giới. Do vậy các doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản phẩm
để thích nghi với các yêu cầu đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trờng thế giới.
+ Tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật hiện đại.
III-/ Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân và sự cần
thiết phải đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam.
1-/ Sơ lợc sự hình thành và phát triển của cây cà phê.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 75 nớc trồng cà phê trong đó có trên 50 nớc
có cà phê xuất khẩu, nhng đến nay ngời ta vẫn cha xác định đợc một cách chính
xác lịch sử phát hiện ra cây cà phê. Theo truyền thuyết thì cà phê đợc phát hiện lần
đầu tiên ở Châu Phi cách đây khoảng 1000 năm do một ngời chăn dê tên là Kaldi.
Sau đó ngời ta dùng cà phê làm nớc uống cho những đêm đại hành lễ ở nhà thờ và
các cuộc hành trình vợt xa mạc. Từ đó cà phê trở thành một thứ đồ uống làm đam
10
mê biết bao con ngời.
Về giống cà phê hiện nay trên thế giới có 3 loại chủ yếu là:
- Cà phê chè (Coffea Arabica): Có nguồn gốc từ Ethiopia đợc phát hiện vào
năm 850 sau công nguyên từ những cây cà phê chè hoang dại mọc rải rác dới tán
rừng nơi đây. Hiện nay cà phê chè đợc trồng rộng rãi nhất bởi hơng vị thơm ngon nổi
tiếng của nó, chiếm 70% diện tích cà phê của thế giới và trên 75% sản lợng xuất khẩu
hàng năm ở các nớc Brazil, Colombia, Mexico, Gualemala, ấn độ,
- Cà phê vối (Coffea canenphora pierre): đợc phát hiện ở Châu Phi vào đầu
thế kỷ XX. Hiện nay cà phê vối đợc trồng khá phổ biến, gần 30% tổng diện tích và
28% tổng sản lợng cà phê xuất khẩu của thế giới. Các nớc trồng nhiều cà phê vối
là Việt Nam, ấn độ, Indonexia, Uganda,
- Cà phê mít (Coffea Liberica Bull): có nguồn gốc từ Trung Phi đợc phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1902 tại xứ Ubaqui - Chari nên còn đợc gọi là cà phê
Chari. Phẩm chất cà phê mít nói chung là rất thấp, vị chua, hơng thơm kém hấp
dẫn, do đó giá trị thơng mại trên thị trờng thế giới thấp.
Cà phê lần đầu tiên đợc đa vào Việt Nam từ 1857 do các giáo sỹ trồng thử
nghiệm ở Quảng Bình, Quảng Trị. Ba mơi năm sau, cà phê mới đợc nhập vào
trồng đại trà trên diện tích sản xuất ở các đồn điền của Pháp. Từ năm 1922 trở đi
cà phê đợc mở rộng đến vùng Tây Nguyên trên vùng đất đỏ Bazan màu mỡ. Có thể
chia sự phát triển của ngành cà phê Việt Nam thành 2 giai đoạn:
* Thời kỳ 194-1975:
- Các tỉnh phía Bắc: sau Cách mạng tháng 8, các đồn điền của Pháp đợc
chuyển thành các doanh điền ở Tuyên Quang, Ninh Bình, Hoà Bình, Nam Hà,
Thanh Hoá, Nghệ An. Đến năm 1959 tổng diện tích cà phê tiếp quản từ chế độ cũ ở
miền Bắc có hơn 3.000ha. Sau 1954 đợc Liên Xô giúp đỡ ta đã xây đợc 24 nông tr-
ờng trồng cà phê tại Việt Bắc, Tây Bắc vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh (1963) đạt
14.000ha. Sản lợng cà phê năm cao nhất (1968) đạt 4.880 tấn. Song do quy hoạch
không phù hợp, đặc biệt là đối với cà phê vối nên diện tích cà phê phải thanh lý quá
nhiều, năm 1972 chỉ còn lại 4 nông trờng (Đông Hiếu, Tây Hiếu, 1/5 và 19/5). Sản
lợng cà phê chỉ còn khoảng 1.000 tấn/năm. Có năm chỉ còn 500 tấn/năm. Xuất khẩu
thời kỳ này chủ yếu sang Liên Xô và các nớc Đông Âu.
- Các tỉnh phía Nam: sản xuất cà phê cũng có những biến động lớn, thời kỳ
1946-1957 diện tích tăng không đáng kể, từ 3.019ha lên 3.373ha. Năm 1964 diện
tích đạt 11.120ha, song đến 1973 còn lại 8.872ha. Đến năm 1975 diện tích cà phê
11
các tỉnh phía Nam còn hơn 9.000ha, xuất khẩu không đáng kể chủ yếu tiêu dùng
trong nớc.
* Thời kỳ 1975 đến này:
Sau 1975, thực hiện chủ trơng phát triển cà phê của Nhà nớc, Bộ Nông
nghiệp đã triển khai ngay kế hoạch đầu t, quy hoạch phân vùng phát triển cà phê ở
Tây Nguyên. Năm 1980 chúng ta ký nhiều Hiệp đình hợp tác phát triển cà phế với
các nớc: Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Bungari, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ
đầu t về thiết bị vật t kỹ thuật, tiền vốn để mở rộng diện tích cà phê. Đồng thời các
nớc trên cũng là thị trờng tiêu thụ ổn định cà phê Việt Nam.
Năm 1986, với chủ trơng phát triển mạnh mẽ cà phê ở khu vực t nhân. Diện
tích cà phê đợc mở rộng rất nhanh. Thị trờng cà phê xuất khẩu của Việt Nam cũng
đợc mở rộng sang các nớc EU và Mỹ,
2-/ Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế Việt Nam.
Cà phê là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, yêu cầu xuất khẩu
lớn, sản phẩm cà phê là của các nớc đang phát triển nhng lại đợc tiêu dùng chủ
yếu ở các nớc phát triển.
Sản phẩm đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của các nớc trên
thế giới. Nhiều ngời cho rằng chính cây cà phê là cứu cánh cho một số quốc gia và
nghề trồng cây cà phê đã góp phần cải thiện đời sống cho ngời dân Châu Phi hơn
là bất cứ loại cây nào khác.
Hiện nay tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới khoảng trên 10 tỷ USD.
Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu cà phê so với tổng kim ngạch xuất khẩu ở các nớc nh
sau:
Brazil 8-10% Ruanda 65% Burundi 90%
Colombia 90-95% Etiopia 60% Tandania 30-33%
Uganda 95% Trung Phi 65% Việt Nam 20-25%
Cà phê đang là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nớc ta.
Nếu vào năm 1982 sản lợng cà phê toàn quốc không vợt quá con số 8.000 tấn thì
đến năm 1994 sản lợng đã tăng lên 112.400 tấn, gấp 22,31 lần. Và nếu năm 1982
xuất khẩu đợc 4.100 tấn thì đến năm 1994 xuất khẩu đợc 107.000 tấn gấp 26 lần
và theo đó kim ngạch xuất khẩu đạt 75.600.000USD. Năm 1995 kim ngạch xuất
khẩu cà phê đạt 560 triệu USD, điều này cho thấy trong những năm qua ngành cà
phê đã có chiều hớng phát triển đáng kể. Hiện nay, cà phê là mặt hàng nông sản
xuất xuất khẩu có giá trị lớn đứng thứ hai sau gạo. Giá trị cà phê xuất khẩu thờng
chiếm gần 10% kim ngạch xuất khẩu hàng năm.
12
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng một số mặt hàng nông
sản chủ lực của Việt Nam
Đơn vị: 1.000 tấn, triệu USD
Năm
Mặt hàng
1998 1999 2000 2001 DK 2002
Tổng giá trị KN nông sản XK 2.373 2.457 2.602 2.819 3.200
- Gạo
+ Số lợng
3.003 3.575 3.749 4.508 4.400
+ Giá trị
854,6 870,9 1.024 1.025 1.000
+ Tỷ trọng (%)
36,01 35,45 39,35 36,36 31,25
- Cà phê
+ Số lợng
283 391,6 382 483 500
+ Giá trị
336,8 497,5 594 585 600
+ (%)
14,19 20,25 22,83 20,75 18,75
- Cao su
+ Số lợng
195 194 191 265 2.800
+ Giá trị
263 191 128 147 153
+ (%)
11,08 7,77 4,92 5,21 4,78
- Hạt điều
+ Số lợng
103,5 149,9 115 83 90
+ Trị giá
100,8 133,3 117 110 120
+ Tỷ trọng
4,25 5,43 4,50 3,90 3,75
Nguồn: Vụ KHTK - Bộ TM
Do đó ta có thể khẳng định rằng cà phê là một ngành mũi nhọn của nền kinh
tế Việt Nam hiện nay. Nhng chỉ đơn thuần là giá trị kim ngạch xuất khẩu để đánh
giá vị trí của một ngành hàng thì cha đủ. Ngành cà phê cũng nh các ngành khác,
nó cũng giải quyết những vấn đề xã hội rất lớn.
Ngành cà phê tạo công ăn việc làm cho ngời dân, đặc biệt là ngời dân nghèo
ở vùng Tây Nguyên và dân tộc thiểu số có thu nhập và thu nhập ngày càng cao.
Biến môi trờng đang suy thoái thành môi trờng đợc phục hồi, Thực tế đã cho
thấy việc trồng mới và phát triển cà phê đã góp phần.
- Xuất khẩu cà phê giúp tăng thu ngoại tệ cho đất nớc đẩy kim ngạch xuất
khẩu lên cao, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán, tăng chi thu ngoại tệ cho
ngân sách Nhà nớc đảm bảo sự tồn tại và phát triển kinh tế.
- Tăng cờng sản xuất và xuất khẩu sẽ tạo thêm việc làm và thu nhập chính
13
đáng cho hàng triệu ngời lao động.
- Sản xuất và xuất khẩu cà phê tích cực tham gia vào cải tạo môi sinh, phủ
xanh đất trống đồi trọc và góp phần quan trọng vào củng cố an ninh, quốc hòng
khu vực Tây Nguyên và khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc.
Khai thác tiềm năng mặt hàng cà phê là một vấn đề có ý nghĩa trong công
cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp cũng nh trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội của Việt Nam. Vì vậy chúng ta phải có những nhận thức đúng đắn về vấn đề
này để từ đó có thể vạch ra chiến lợc phát triển cà phê xuất khẩu hợp lý nhất, hiệu
quả kinh tế mang lại cao nhất.
3-/ Sự cần thiết phải đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cà phê trong giai
đoạn hiện nay.
Sản xuất và xuất khẩu cà phê có vai trò quan trọng trong việc giải quyết
nhiều vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế
sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, tiến hành CNH-HĐH theo đờng
lối, Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra:
Thứ nhất, nó góp phần giải quyết đợc vấn đề việc làm và tăng thu nhập cho
ngời lao động. Thực tế đã chứng minh rằng lao động trong ngành cà phê đã tạo ra
thu nhập cao hơn so với lao động nông nghiệp nói chung và lao động trong kinh
doanh một số cây công nghiệp khác nói riêng. Theo dự tính có cơ sở khoa học,
phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê có thể tạo ra khoảng 720 nghìn việc làm có
thu nhập cao vào năm 2002.
Thứ hai, phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê là một cách thức hớng phát
triển sản xuất nông nghiệp, phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH và phát triển kinh tế
của cả nớc.
Sản xuất và xuất khẩu cà phê mở ra một cơ hội kinh doanh để tăng mức tiết
kiệm và đầu t nội bộ nền kinh tế, tăng tốc độ tích luỹ vốn; tăng năng suất và thu
nhập bình quân của ngời lao động trong ngành, tạo ra một nội lực mạnh trong sản
xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế. Phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê
cũng làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ lệ cây công nghiệp so với
cây lơng thực đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Việt Nam là một nớc giàu có về nguồn
nhân lực và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những điều kiện tự nhiên để sản
xuất và xuất khẩu cà phê nhng lại khan hiếm về công nghệ. Do đó việc tăng cờng
hợp tác kinh doanh với nớc ngoài và mở rộng kinh tế quốc tế là điều kiện để tạo ra
cú huých từ bên ngoài.
Từ những phân tích ở trên, việc phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê cho phép
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét