Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần chứng khoán Trường Sơn – thực trạng và giải pháp

việc mua-bán chứng khoán, hiệu quả huy động vốn không cao, khó có thể giải trình hoạt
động mua, bán chứng khoán trong sổ sách kế toán chung, doanh nghiệp cần có những
người chuyên nghiệp để phát hành chứng khoán cho họ. Còn các nhà đầu tư không thể tự
đến sở giao dịch chứng khoán để mua bán các chứng khoán phát hành, vì vậy họ phải nhờ
đến các công ty chứng khoán. Hay nói cách khác, công ty chứng khoán có vai trò là cầu nối
và là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn
(vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn).
Các công ty chứng khoán thường đảm nhận vai trò này thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán và môi giới chứng khoán, Ngân hàng đầu tư.
• Vai trò hình thành giá cả chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp (OTC), khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thực hiện vai trò hình thành giá cả
chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát
hành hợp lý đối với những chứng khoán trong đợt phát hành. Thông qua Sở giao dịch
chứng khoán, các công ty chứng khoán cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu
tư có được sự đánh giá đúng với thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình.
• Vai trò thực thi thanh khoản của chứng khoán
Công ty chứng khoán giúp nhà đầu tư có thể chuyển đổi tiền mặt thành chứng
khoán hoặc ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Điều này nhằm đảm bảo lợi
ích của các nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán, giúp cho nhà đầu tư ít phải
chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư.
• Dịch vụ tư vấn tài chính
Các công ty chứng khoán không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn
tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung
cấp các thông tin đó cho các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu và các cá nhân đầu tư. Dịch
vụ tư vấn có thể bao gồm:
- Thu thập và xử lý thông tin về các khả năng và cơ hội đầu tư.
2 | P a g e
- Tư vấn đầu tư chứng khoán.
- Cung cấp thông tin về triển vọng trong ngắn hạn và dài hạn của các
khoản đầu tư.
- Thúc đẩy vòng quay chứng khoán
Thông qua việc cung cấp dịch vụ tư vấn, cung cấp cho khách hàng các cách đầu tư
khác nhau, công ty chứng khoán góp phần làm tăng vòng quay của chứng khoán. Chứng
khoán sẽ không nằm trong tay một người quá lâu mà được luân chuyển liên tục từ nhà đầu
tư này sang nhà đầu tư khác. Đây chính là điểm hấp dẫn của thị trường chứng khoán cũng
như là động cơ thúc đẩy các công ty chứng khoán cải tiến công cụ tài chính của mình.
• Cung cấp cho thị trường tài chính các sản phẩm đầu tư hiệu quả
Không chỉ đơn thuần là nơi mua- bán chứng khoán giữa các cá nhân, tổ chức trong
hệ thống tài chính, công ty chứng khoán, với mục đích tối đa hóa lợi nhuận đã đưa ra
không ít các sản phẩm đầu tư. Đáng kể nhất là các công cụ chứng khoán phái sinh. Điều
này giúp thỏa mãn nhu cầu nhà đầu tư cũng như yểm trợ to lớn cho thị trường
1.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào quy mô kinh doanh và các
nghiệp vụ mà công ty hoạt động cũng như hình thức sở hữu của công ty. Theo điều 59,
Luật chứng khoán Việt Nam 2007: “Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp”.
Cơ quan quyền lực cao nhất của công ty chứng khoán là Hội đồng quản trị, Hội
đồng quản trị bổ nhiệm Ban Giám đốc và Giams đốc điều hành công ty. Giúp việc cho Hội
đồng quản trị là Ban kiểm soát với nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát tất cả các giao dịch
chứng khoán.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán gồm các phòng
chủ yếu sau:
• Phòng giao dịch : Phòng giao dịch thực hiện các giao dịch tại Sở giao dịch
chứng khoán và OTC. Chức năng chính của phòng này là nhận và thực hiện giao dịch tại
3 | P a g e
Sở đối với các lệnh giao dịch. Thồng thường, phòng giao dịch bao gồm 3 bộ phận sau:
+ Bộ phận môi giới khách hàng
+ Bộ phận tự doanh
+ Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán
• Phòng Kế toán- Tài chính gồm 2 bộ phận chủ yếu là:
+ Bộ phận kế toán: Xử lý các hợp đồng và tài liệu giao dịch, soạn thảo, in ấn, gửi
cho khách hàng, nhận lại từ khách hàng, lưu trữ các hợp đồng, chứng từ, lệnh,
+ Bộ phận tài chính: Quản lý tài chính của công ty thông qua tài khoản chứng khoán
và tiền quản lý việc cho khách hàng vay tiền để đầu tư vào chứng khoán
• P hòng marketing: Quan hệ với khách hàng của công ty, nhận lệnh
• Phòng quản trị-hành chính tổng hợp
• Phòng lưu ký, đăng ký, lưu trữ
• Phòng quả lý tài sản
Các phòng này đem lại cho công ty thu nhập to lớn bằng cách đáp ứng nhu cầu của
khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu đó.
Cũng như nhiều công ty khác, công ty chứng khoán không chỉ tồn tại một cơ sở mà
có thể có một trụ sở chính và nhiều chi nhánh nhằm mở rộng quy mô công ty, chiếm lĩnh
thị trường.
1.1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.2.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán ngày 29/06/2006 , nghiệp vụ môi giới chứng khoán là việc công
ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Nghiệp vụ môi
giới được hiểu là làm đại diện- được ủy quyền, thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số
loại chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của công ty chứng khoán. Nghiệp vụ này bao gồm nhận
lệnh giao dịch mua bán chứng khoán cho khách hàng; chuyển các lệnh đó vào Sở giao
4 | P a g e
dịch; thanh toán và quyết toán các giao dịch. Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty
chứng khoán thu phí môi giới từ khách hàng. Phí môi giới thường được tính theo tỷ lệ phần
trăm của tổng giá trị giao dịch.
1.1.2.2 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh cam kết với tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một một phần hay toàn bộ
chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được
phân phối hết của tổ chức phát hnhaf trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.
Theo quyết định số 27/2007/ QĐ-BTC ngày 2-4-2007 về “Quy chế tổ chức và hoạt
động của công ty chứng khoán” do Bộ tài chính bán hành, công ty chứng khoán được bảo
lãnh phát hành chứng khoán nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- Được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Không vi phạm pháp luật chứng khoán trong 06 tháng liên tục liền trước thời điểm
bảo lãnh
- Tổng giá trị bảo lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ
chức bảo lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày kí hợp đồng bảo
lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được
Chính phủ bảo lãnh
- Có tỷ lệ vốn khả dụng trên vốn nợ điều chỉnh trên 65 trong 03 tháng liên trước
thời điểm nhận bảo lãnh phát hành.
Qua hoạt động bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán thu về hoa hồng bảo
lãnh. Hoa hồng này có thể là cố định, có thể là tùy từng công ty chứng khoán.
1.1.2.3 Nghiệp vụ tự doanh
Giao dịch tự doanh là các giao dịch bằng chính nguồn vốn kinh doanh của công ty
chứng khoán nhằm phục vụ mục đích đầu tư kinh doanh thu lợi của chính mình. Đó là hoạt
động mua đi bán lại chứng khoán, nói các khác là hoạt động kinh doanh nhằm thu chênh
5 | P a g e
lệch giá. Theo Luật chứng khoán 2006, nghiệp vụ tự doanh là việc công ty chứng khoán
mua và bán chứng khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện qua cơ chế giao dịch
trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung OTC. Trên thị trường chứng
khoán tập trung, lệnh giao dịch của công ty chứng khoán được thực hiện tương tự như lệnh
của khách hàng. Trên thị trường OTC, các hoạt động tự doanh có thể được thực hiện trực
tuyến giữa công ty với các đối tác hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động, hoặc thông
qua hoạt động tạo thị trường. Như vậy, hoạt động tự doanh mang tính đầu cơ cao. Mục
đích hoạt động tự doanh chứng khoán là dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán, kinh doanh
đầu tư, kinh doanh hùn vốn, can thiệp bảo vệ giá chứng khoán và thu lợi.
Hoạt động tự doanh có tác dụng tăng khối lượng mua bán chứng khoán, tạo
điều kiện cho thị trường sôi động và tăng tính thanh khoản cho thị trường. Tuy nhiên,
hoạt động tự doanh cũng có mặt tiêu cực. Đó là khi các công ty chứng khoán sử dụng
các hoạt động bị cấm như thao túng thị trường, thông đồng với nhau nhằm tăng giá
hoặc giảm giá chứng khoán để kiếm chênh lệch giá gây tổn hại cho giới đầu tư.
1.1.2.4 Nghiệp vụ tư vấn và đầu tư chứng khoán
Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán là dịch vụ mà công ty chứng khoán
cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính,
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát hành và
niêm yết chứng khoán… Dịch vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính có thể đươc bất
kỳ công ty chứng khoán hay cá nhân nào tham gia thông qua:
- Khuyến cáo
- Lập báo cáo
- Tư vấn trực tiếp
- Thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí.
Hoạt động tư vấn đầu tư là việc cung cấp các thông tin, cách thức, đối tượng chứng
khoán, thời hạn, khu vực… và các vấn đề có tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng
khoán. Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà không yêu cầu
6 | P a g e
nhiều vốn. Tính trung thực của công ty tư vấn có tầm quan trọng đặc biệt. Ngoài dịch vụ tư
vấn đầu tư, các công ty chứng khoán có thể sử dụng kỹ năng để tư vấn cho các công ty về
việc sáp nhập, thâu tóm, tái cơ cấu vốn của công ty để đạt hiệu quả hoạt động cao.
Không phải công ty chứng khoán nào cũng được thực hiện tất cả các nghiệp vụ trên.
Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo một số vốn
nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể ở Việt Nam, một công ty
chứng khoán nếu muốn thực hiện đầy đủ tất cả 4 nghiệp vụ: môi giới (25 tỷ đồng), tự
doanh (100 tỷ đồng), bảo lãnh phát hành (165 tỷ đồng), tư vấn đầu tu (10 tỷ đồng) thì phải
có vốn pháp định là 300 tỷ đồng. Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có
thể thực hiện một số hoạt động khác như giao dịch ký quỹ (cho vay chứng khoán, cho vay
kí quỹ), lưu ký chứng khoán…
1.2 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ cạnh tranh kinh tế được nhà kinh tế học người Anh là Adam Smith đưa
ra.Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối,
bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương
đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế,
thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy
thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức
lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình
quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có
thể giảm đi.
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát từ
quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt
động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được
7 | P a g e
nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh
là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự
chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho
các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản
xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ.
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong
lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát
triển kinh tế. Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn
nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật,
áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện
cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ
và kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất
phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ
hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của
người tiêu dùng. Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise vì càng nhiều doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có
chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu
nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về
mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa
mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng
các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao
giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước. Cạnh
tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những
hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá
hoại, ) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh
8 | P a g e
thái.
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng
là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và
cho cộng đồng, xã hội.
1.2.1.2 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh
nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng
để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong,
bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát
triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên
thị trường .
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và
là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính
băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp
đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm
giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và
đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng
các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm
nảy sinh thị trường mới.
1.2.2 Mô hình phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết
định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào. Viết tắt của 4 chữ
Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy
cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định
hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và
9 | P a g e
phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến
lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ
Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn Opportunities và
Threats là các nhân tố tác động bên ngoài SWOT cho phép phân tích các yếu tố khác nhau
có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty. SWOT thường được kết hợp
với PEST (Political, Economic, Social, Technological analysis), mô hình phân tích thị
trường và đánh giá tiềm năng thông qua yếu tố bên ngoài trên các phương diện chính trị,
kinh tế, xã hội và công nghệ. Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một
công ty, người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:
Strengths: Lợi thế của mình là gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn lực nào
mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người khác thấy được ở mình là gì? Phải xem xét
vấn đề từ trên phương diện bản thân và của người khác. Cần thực tế chứ không khiêm tốn.
Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh
Weaknesses: Có thể cải thiện điều gì? Công việc nào mình làm tồi nhất? Cần tránh
làm gì? Phải xem xét vấn đề trên cơ sở bên trong và cả bên ngoài. Người khác có thể nhìn
thấy yếu điểm mà bản thân mình không thấy. Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn
mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật.
Opportunities: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã biết?
Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong
phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vự hoạt
động của công ty, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời
trang , từ các sự kiện diễn ra trong khu vực.
Threats: Những trở ngại đang gặp phải? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Những
đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi
công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng
tiền? Liệu có yếu điểm nào đang đe doạ công ty? Các phân tích này thường giúp tìm ra
những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng.
Các yếu tố bên trong cần phân tích có thể là:
• Văn hóa công ty .
10 | P a g e
• Hình ảnh công ty.
• Cơ cấu tổ chức.
• Nhân lực chủ chốt.
• Khả năng sử dụng các nguồn lực.
• Kinh nghiệm đã có.
• Hiệu quả hoạt động.
• Năng lực hoạt động.
• Danh tiếng thương hiệu.
• Thị phần.
• Nguồn tài chính.
• Hợp đồng chính yếu.
• Bản quyền và bí mật thương mại
Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là:
• Khách hàng.
• Đối thủ cạnh tranh.
• Xu hướng thị trường.
• Nhà cung cấp.
• Đối tác.
• Thay đổi xã hội.
• Công nghệ mới.
11 | P a g e

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét