Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát Triển Hà Thành

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
1.1.HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái kiệm hoạt động cho vay của ngân hàng
Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là
hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho mỗi ngân hàng, cho vay co thể hiểu đơn
gian là ngân hàng cấp một khoản tiền nhất định cho doanh nghiệp sử dụng
trong một thời gian xác định với cam kết sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời
hạn . Hay có thể nói cách khác khi cho vay nghĩa là ngân hàng đã chuyển
quyền sử dụng khoản tiền đó cho doanh nghiệp. Đây la chức năng chính của
Ngân hàng để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp,cá nhân và các cơ
quan chinh phủ . Đối với hầu hết khách hàng, cả doanh nghiệp lẫn cá nhân ,
ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất .
Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng thường là
nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn vốn bổ sung.cho vay là
chức năng kinh tế lầu đời nhất của ngân hàng ,là hoạt động mang lại lợi nhuận
cho ngân hàng song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất .
1.1.2. Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Theo hình thức cấp tiền vay
Các hình thức cho vay mà các Ngân hàng thương mại áp dụng đối với các
DNV&N chủ yếu là:
Thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đố NH cho pháp người vay được
chi trội trên số dư tiền gửi thành toán của mình đến một thời hạn nhất định và
trong khoảng một thời gian xác định . Giới hạn này là hạn mức thấu chi . Đây
là hình thức cho vay ngắn hạn , linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không
có đảm bảo. Hình thức này nhín chnug chỉ sử dụng đối với những khách hàng
có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn .
5
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
Cho vay trức tiếp từng lần : là hình thức cho vay tương đối phổ biển của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không đủ
điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở
hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu , chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở
rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng,tức là vốn ngân hàng chỉ tham gia
vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay vốn , khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương
án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ xác định, phân tích khách hàng và ký hợp
đồng cho vay, xác định quy mô cho vay , thời hạn giai ngân, thời hạn trả nợ,
lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt thành
những hồ sơ khác nhau. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ
thu gốc và lãi, trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay ngân hàng sẽ kiểm
soát mục đích và hiệu quả sử dụng , nếu thấy có dầu hiệu vi phạm hợp đồng
ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyên nợ quá hạn. lãi suất có thể cố định
hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
Cho vay theo hạn mức tin dung : Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó
ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối thiếu thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoặch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có
thức hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng .
Mỗi lần vay tiền khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền
vay, nộp các chứng tử chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay,
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng tử, ngân hàng sẽ phát
tiền cho khách hàng.
6
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn . Ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và Khách
hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng , các nguồn
cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Đây không phải là thời hạn hoàn trả
mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết
định có cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng thủ tục vay chi
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời.
Cho vay trả góp : là hình thức tín dụng , theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho
vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài
trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán
sao cho phù hợp với khả năng trả nợ ( thường là từ khấu hao và thu nhập sau
thuế của dự án hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua
hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa
mà khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi
bán hàng từ phía ngân hàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách
hàng trả trực tiếp cho ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người
mua ( qua đó đến người bán) nhắm khuyến khích tiêu thụ hàng hóa.
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng
hóa mua trả góp. khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người
vay . Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ
7
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả
góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng : Thẻ
tín dụng là loại thẻ ngân hàng phát hành cho những khách hàng sử dụng để
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các ATM. Đối với
những khách hàng thỏa mãn điều kiện của ngân hàng phát hành thẻ sau khi kỳ
hợp đồng tín dụng thẻ với ngân hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một
thẻ tín dụng với một số tiền được cài săn trong bộ nhớ theo hạn mức tín dụng
đã được hai bên thỏa thuận .khách hàng loại này không nhất thiết phải duy trì
số dư trên tài khoản tiền gửi của minh, vì đã có hạn mức tín dụng khách hàng
sử dụng thẻ để thành toán hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi hạn mức tín dụng
đã chấp thuận trong hợp đồng tín dụng.khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng .
Nghiệp vụ nay tạo khả năng thanh toán linh hoạt cho toàn bộ nền kinh tế.
Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cảm kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định .Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mới dàn xếp, phối hợp với một một tổ chức tín dụng
khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy đinh của Quy chế cho vay của
các tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay
theo các phương thức mà pháp luật khộng cầm, phù hợp với các quy định tại
8
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ
chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Vì dụ như cho vay theo dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu tư phục vụ đời
sống, cho vay gián tiếp ( tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Phụ vữ
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay la khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Căn cứ theo thời hạn cho vay thì cho vay của ngân hàng được chia làm
ba loại :
- Cho vay ngắn hạn : Đây là các khoản vay có thời hạn tối đa đến 12
tháng, các khoản vay ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, nhu cầu chi tiêu ngắn
hạn của các doanh nghiệp hay các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn cho cá
nhân.Do tính chất, đặc thù là là quy mô nhỏ, năng lực tài chính và
năng lực quản lý còn nhiều hạn chế loại hình DNV&N phần lớn
nhận được các khoản vay ngắn hạn của các ngân hàng.
- Cho vay trung hạn : các khoản vay trung hạn theo quy định của Nhà
nước có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm.Các khoản vay trung hạn
chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị,
công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh
- Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn dài trên 5 năm,
thời hạn tối đa của tín dụng dài hạn có thể lên đến 40 năm tùy thuộc
vào mỗi khoản vay. Các khoản vay dài hạn được dùng đáp ứng các
9
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
nhu cầu mang tính chất dài hạn như: xây dựng nhà xưởng. xí nghiệp,
mua sắm các trang thiết bị.
1.1.2.3. Theo tài sản đảo bảo
Có nhiều trường hợp khi mà minh di vay vốn thì ngân hàng yêu cầu
khách hàng phải có tài sản đảm bảo . Lí do là khách hàng luôn phải đối đầu
với những rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng
những biến cố không mong đợi có thể gây cho ngân hàng những tổn thất lớn.
Chính vì vậy , trừ những khách hàng có uy tín cao , nhiều khách hàng phải có
tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng của ngân hàng. Yêu cầu phải có tài sản đảm
bảo , ngân hàng muốn có được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu
nhập từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ . Theo đó, cho vay cũng
được phân làm hai loại sau:
- Cho vay có tài sản đảm bảo : Đây là hình thức cho vay có đảm bảo
đối với tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc
cầm cố. Các tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hóa
trong kho, nhà cửa , thiết bị Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài
sản hợp pháp, có khả năng bán được làm đảm bảo.
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức thế chấp:là hình thức
theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tớ chứng nhận sở
hữư của các tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời gian
cam kết song vẫn được quyền sử dụng tài sản với cảm kết giữ
nguyên hiện trạng.Đảm bảo bằng thế chấp thuận lợi cho người đi
vay có thể sử dụng tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh
doanh, tuy nhiên có thể gây khó khăn cho ngân hàng trong việc
quản lý và kiểm soát tài sản đảm bảo bởi quá trình sử dụng sẽ làm
biến dạng tài sản hoặc khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm
10
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy ngân hàng
phải tăng khả năng đánh giá trị tài sản.
- Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố: là hình thức cho
vay theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam
kết ( thường gọi là thời gian tài trợ) . Ngân hàng quản lý toàn bộ tài
sản đó, mọi chu phí liên quan đến việc quản lý do người vay chịu.
Các tài sản cầm cố thương gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chiu ảnh hưởng
của các yếu tố môi trường tự nhiên, Cầm cố thích hợp với những tài
sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn,
đồng thời việc ngân hàng nằm giữ không ảnh hưởng đến quá trình
hoạt động của người nhận tài trợ. Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng
cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của vật cầm cố, vật
cầm cố, sau đó ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật cầm cố,
kì hợp đồng cầm cố quy định quyền và nghĩa vụ liên quan đến vật
cầm cố.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức đảm bảo đối nhân
bao gồm cho vay tín cấp và cho vay có bảo lãnh.
- Cho vay theo tín chấp: là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng
không yêu cầu khách hàng có tài sản đảm bảo mà chỉ dựa trên uy tín
của khách hàng. Trong trường hợp này, khách hàng phải là khách
hàng truyền thống của ngân hàng, có uy tín lớn và tiềm lực tài chính
mạnh.
+ Cho vay có bảo lãnh: Trong hình thực cho vay này có sự xuất hiện
của người thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng
thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiên đựoc. Đối với người
bảo lãnh có uy tín ( Nhà nước , các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn )
11
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
ngân hàng chấp nhận bảo lãnh không cần có tài sản đảm bảo.Trường hợp còn
lại, khi cho vay ngân hàng yêu cầu phải có tài sản đảm bảo.
1.1.2.4. Theo mục đích sử dụng vốn
Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa : là hình thức cho vay đối
với các doanh nghiệp , các chủ thể kinh doanh để bổ sung đầu tư, mở rộng
hoạt động sản xuất lưu thông hàng hóa.
Cho vay tiêu dùng : là hình thức cho vay để thanh toán các chi phí hợp
pháp phục vụ cho các mục đích tiêu dùng cá nhân bao gồm : mua sắm nhà
cửa, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như tủ lạnh, điều hóa, máy giặt, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, sửa chữa nhà, cho vay du học
1.1.2.5. Theo đối tượng cho vay
Căn cứ vào đối tượng cho vay được chia ra làm hai loại : cho vay
doanh nghiệp lớn và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp lớn : là
doanh nghiệp có quy mô vốn trên 10 tỷ, quy mô lao động trên 300 lao động.
còn lại là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phân loại như thế này sẽ giúp
cho việc quản lý, việc cho vay đối với những đối tượng này có hiệu quả hơn.
1.1.3. Vai trò hoạt động cho vay của các ngân hàng
Hoạt động cho vay của các ngân hàng có mỗi quan hệ mật thiết với tình
hình phát triển kinh tế bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế . Cho vay là chức năng kinh tế lâu đời
nhất của ngân hàng, là hoạt động kiếm được lợi nhuận lớn cho ngân hàng
song cũng gặp nhiều rủi ro.
Trong quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo
quyết định số 284/2000/QĐ/NHNN ngày 25/08/2000 của Thống đốc ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay được định nghĩa như sau: “ Cho vay là một
hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
12
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
khảon tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trong thời gian nhất định theo
sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Hoạt động cho vay có vai trò quan trọng đối với các cá nhân , doanh
nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đối với ngân hàng, tổ
chức tín dụng và đối với toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nổi những nguồn vốn nhàn
rỗi với những người thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động
này làm tăng thu nhập cho những người chưa có kế hoặch đầu tư nói chung và
những khoản tiền nhàn rỗi noi riêng, đồng thời làm tăng khả năng hoạt đồng
của những người có như cầu về vốn là doanh nghiệp hay cá nhân. Có thể nói,
hoạt động cho vay tạo ra sự phát triển chung của cả nên kinh tế.
Thứ hai, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao
cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi hay động và các khoản chi
phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt
động của ngân hàng.
Thứ ba, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn
trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ . Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền lớn khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì
sẽ tạo nên khoản thu của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác tạo ra
các khoản cho vay mới. Trong khi không có một ngân hàng riêng lẻ nào cá thể
cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối
lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
13
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tái chính
Thứ tư, bằng việc cho vay với lãi suất ưu đãi cho một dự án phát triển
mang tính chất chiến lược cũng là hoạt động tài trợi nắm trong chính sách của
chính phủ để phát triển đất nước .
1.2.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1. Khai niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa, quan điểm, cũng như tiêu thức khác
nhau về Doanh nghiệp vừa và nhỏ.Theo luật doanh nghiệp , doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
kỳ kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh.
Có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp.Dựa vào quy mô kinh doanh
Doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong đó có hài tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lao động thường
xuyên và vốn sản xuất kinh doanh.Việc xác định DNV&N do đó phải dựa vào
tiêu thức trên.
Tùy từng đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNV&N được định
nghĩa theo các cách khác nhau.DNV&N được định nghĩa chung nhất là những
cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi
nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tích theo các
tiêu thức vốn và số lượng lao động .
Trong phần các hình thức cho vay của ngân hàng thì doanh nghiệp vừa
và nhỏ được để cập dưới tiêu thức phân loại là đối tượng cho vay.
Ở Việt Nam : theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11 của Chính
phủ về trợ giúp phát triển DNV&N đã dưa ra khai niệm: “ DNV&N là những
cơ sở sản xuất kinh doanh nghiệp độc lập, có đáng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không qua 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”
14
Phath Samedy Lớp:Ngân hàng 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét