2. Quản lý những hộ cha quản lý đợc.
II. Quản lý về căn cứ tính thuế:
III. Một số biện pháp quản lý thu nộp trên thuế:
1. Công tác xây dựng kế hoạch.
2. Công tác đôn đốc thu nộp thuế.
3. Công tác kiểm tra và thanh tra thuế.
4. Các biện pháp về tổ chức cán bộ:
1. Chấn chỉnh bộ máy hoạt động của Chi cục thuế Quận Ba
Đình.
2. Tăng cờng đào tạo đội ngũ cán bộ một cách có hệ thống.
3. Có chính sách về lơng thoả đáng đối với cán bộ thuế.
4. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan thuế và các
cấp, các ngành có liên quan.
V. Một số biện pháp khác:
1. Từng bớc đa khoa học kỹ thuật vào quản lý thu thuế nh ứng
dụng công cụ tin học.
2. Làm thay đổi thói quen của ngời dân về việc sử dụng hoá đơn,
chứng từ.
3. Kiến nghị về văn bản luật, chính sách của Nhà nớc.
Trang 5
Phần I
Sự cần thiết phải quản lý thuế giá
trị gia tăng đối với thành phần
kinh tế cá thể.
I. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh
tế thị trờng:
1. Khái niệm, đặc điểm của Thuế:
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nớc và sự phát triển
tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nớc sử dụng thuế nh một
công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của
mình. Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức
thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với
sự phát triển của kinh tế thị trờng, các khoản đóng góp của ngời dân cho
Nhà nớc đợc xác định và đợc quy định công khai bằng luật pháp của
Nhà nớc .
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà n-
ớc. Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nớc, phạm vi sử dụng
quỹ tiền tệ của Nhà nớc ngày càng mở rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi
tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy Nhà nớc, mà còn để chi tiêu cho
các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế. Nh vậy gắn liền với Nhà nớc,
Trang 6
thuế luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế
xã hội và với mọi tầng lớp dân c.
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dới nhiều hình thức
khác nhau, nhng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dới
khái niệm nh sau:
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhng phi
hình sự của Nhà nớc nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao
động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài
sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nớc
để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nớc và các nhu cầu
chung của xã hội. Các khoản động viên qua thuế đợc thể chế hoá
bằng luật.
Với nhận thức nh vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với
các hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Đặc điểm thứ nhất
:
Thuế là một biện pháp tài chính của
Nhà nớc mang tính quyền lực, tính cỡng chế, tính pháp lý cao nhng
sự bắt buộc này là phi hình sự.
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nớc là quá trình
chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và
thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nớc. Do đó Nhà nớc phải dùng
quyền lực để thực hiện quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt
buộc là một tất yếu khách quan, nhng vì các hoạt động thu nhập của thể
nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này
là phi hình sự. Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình
phạt.
Đặc điểm này đợc thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia,
việc đóng góp thuế cho nhà nớc đợc coi là một trong những nghĩa vụ bắt
buộc đối với công dân. Mọi công dân làm nghiã vụ đóng thuế theo
Trang 7
những luật thuế đợc cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không
thi hành sẽ bị cỡng chế theo những hình thức nhất định.
*
Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nớc
mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn đợc xác lập trên nền
tảng kinh tế-xã hội của ngời làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao
giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội.
+ Yếu tố kinh tế thể hiện : Hệ thống thuế trớc hết phải kể đến thu
nhập bình quân đầu ngời của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn
vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng nh chính sách, cơ chế quản lý của
Nhà nớc. Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu
của Nhà nớc nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình.
+ Yếu tố xã hội thể hiện : Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục,
tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng nh đời sống thực tế của các
thành viên trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác thuế còn thực hiện
phân phối lại thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội.
Nh vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ
thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc và các vấn đề kinh tế, xã hội
của quốc gia đó.
*
Đặc điểm thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính
chất hoàn trả trực tiếp. Nghiã là khoản đóng góp của công dân bằng
hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lợng và khoản
thu mà nhà nớc thu từ công dân đó nh là một khoản vay mợn. Nó sẽ đợc
hoàn trả lại cho ngời nộp thuế thông qua cơ chế đầu t của Ngân sách
nhà nớc cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.
Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí. Lệ phí
đợc coi là một khoản đối giá giữa Nhà nớc với công dân, khi công dân
thừa hởng những dịch vụ công cộng do nhà nớc cung cấp phải trả một
phần thu nhập của mình cho nhà nớc. Tuy nhiên việc trao đổi này thờng
Trang 8
không tuân thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của
thị trờng.
Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nớc, nó đợc
thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu
nhập tạo ra. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trờng vai trò của Nhà nớc
ngày càng trở nên quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí
không thể thiếu đợc trong công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.
2. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trờng:
Sử dụng cơ chế thị trờng để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh
tế (sản xuất cái gì, nh thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại,
cơ chế thị trờng thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc
đẩy sản xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao
chất lợng hiệu quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh
quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất.
Bên cạnh những u điểm đó, cơ chế thị trờng có nhợc điểm là gây
cho xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc
quyền thủ tiêu cạnh tranh. Với cơ chế phân phối qua thị trờng thờng
khoét sâu hố ngăn cách giữa ngời giầu và ngời nghèo, tạo sự bất ổn định
về kinh tế xã hội.
Từ những u, nhợc điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà
nớc vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ
chế thị trờng và hạn chế tối đa những nhợc điểm của chúng. Để quản lý,
điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nớc sử dụng nhiều công cụ nh:
Kế hoặch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ vv Trong các
công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất
và Thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ,
Trang 9
thuế đợc nhà nớc sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã
hội.
Có thể thấy rõ vai trò của Thuế nổi bật ở các mặt sau:
* Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc:
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào
nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu
của Nhà nớc đều đợc đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các
hình thức thu khác nh: vay mợn, viện trợ nớc ngoài, bán tài nguyên
quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có
rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế đợc coi
là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định
và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. ở nớc ta,
Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nớc từ
năm 1990. Điều này đợc thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu
ngân sách .
Biều 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà
nớc ta trong thời gian qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế ).
Năm Tổng số thuế và phí
( tỷ đồng)
% So với tổng thu
NSNN
% So với GDP
1990 5906 73.7 14.0
1991 9844 92.7 12.83
1992 18514 88.0 16.75
1993 28695 90.5 21.0
1994 36629 89.6 21.51
Qua biểu trên ta thấy số thu thuế và phí đã chiếm phần chủ yếu
trong tổng thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản
Trang 10
yêu cầu chi thờng xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân
sách, giảm lạm phát, từng bớc góp phần ổn định trật tự xã hội, giành
một phần để tăng chi cho tích luỹ. Nh vậy, chứng tỏ thuế là nguồn thu
quan trọng nhất của NSNN.
*
Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô
của Nhà nớc:
Chính sách thuế đợc đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn
thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện
chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hớng dẫn và khuyến khích
phát triển sản xuất, mở rộng lu thông đối với tất cả các thành phần kinh
tế theo hớng phát triển của kế hoạch nhà nớc, góp phần tích cực vào
việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, hớng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của
việc quản lý Nhà nớc, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế
vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, ngời ta thờng xác định 4
mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi.
Bốn mục tiêu đó là:
- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế một cách hợp lý .
- Tạo đợc công ăn việc làm đầy đủ cho ngời lao động.
- ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức
quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.
Trang 11
1. Thuế kích thích sự tăng tr ởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm:
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan
trọng mà nhà nớc sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của
thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nớc đã sử dụng chính
sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác
động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc trng
vốn có của nền kinh tế thị trờng.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu t ngừng trệ, sản xuất và
tiêu dùng đều giảm thì nhà nớc dùng thuế để kích thích đầu t và khuyến
khích tiêu dùng.
- Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với
hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích
việc đầu t vào sản xuất.
- Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích
tiêu dùng.
- Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lu giữ vốn không đa vào
đầu t, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm
và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đa
vốn vào đầu t, sản xuất kinh doanh.
Khi nền kinh tế hng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế
nóng phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nớc
dùng thuế để giảm tốc độ đầu t ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã
hội. Song việc tăng thuế phải đợc xem xét trong một giới hạn cho phép
để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành
nghề hợp lý.
Trang 12
Nh vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hởng rất lớn đến
nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trờng của Nhà nớc. Thông qua
thuế, Nhà nớc thực hiện định hớng phát triển sản xuất. Chính sách thuế
có định hớng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài
hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt
chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trờng
xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức
độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có
đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế
tăng trởng bền vững là hớng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm
san bằng chu kỳ kinh doanh, đa giá cả về mức ổn định.
2. Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính,
góp phần đảm bảo công bằng xã hội:
Kinh tế thị trờng làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá
này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội.
Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm
hạn chế sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nớc dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa ngời giàu và
ngời nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng.
Thông qua thuế thu nhập, Nhà nớc thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô
trong lĩnh vực tiền lơng và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và
tiến tới công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế
nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng.
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi
cho ngời nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng đợc giảm bớt.
Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân
Trang 13
phối lại một bộ phận thu nhập của ngời giàu trong xã hội. Tuy nhiên,
khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây
dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm
giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trởng kinh tế của đất n-
ớc.
3. Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả
hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế đợc sử dụng để
điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trờng. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì
nhà nớc dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố
sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu t sản xuất ra nhiều khối
lợng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu
dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất
nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà
nớc dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào
chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.
4. Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong n ớc và tạo điều
kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nớc tránh khỏi sự cạnh
tranh khốc kiệt từ bên ngoài đợc coi là hết sức cần thiết đối với các nớc.
Điều này đợc thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích
thích sản xuất trong nớc phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất
khẩu, nhà nớc đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất
khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét