Đặc điểm dân số hiện nay của thành phố Đà Nẵng như sau:
(i) Số liệu chính thức cho thấy tốc độ tăng dân số hiện tại của thành phố Đà Nẵng từ năm 2000 đến 2007 chỉ ở
mức vừa phải là 1,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ này không tính dân số nhập cư đến các khu vực đô thị. Nếu tính cả số dân
nhập cư không chính thức ước tính khoảng 20% tổng dân số thì dân số hiện tại có thể là gần 1 triệu người;
(ii) Dân số thành phố Đà Nẵng có hai hai nhóm tuổi chiếm dân số cao, từ 15 đến 24 và từ 35 đến 44 tuổi. Tỷ lệ
nhóm dân số trẻ nhất, dưới 15 tuổi, chiếm khoảng 25% dân số;
(iii) Năm 2004, quy mô hộ gia đình trung bình tại Đà Nẵng là 4,6 người/hộ; năm 2008, theo điều tra phỏng vấn
hộ gia đình của DaCRISS, quy mô hộ gia đình là khoảng
3,95/người;
(iv) Hầu hết dân nhập cư đến Đà Nẵng là từ các tỉnh lân cận; đông nhất từ Huế, Quảng Nam và dân nhập cư từ
Quảng Ngãi và Quảng Trị cũng chiếm số lượng lớn; và
(v) Có thể thấy rằng ngay cả khi tăng trưởng kinh tế ở mức thấp thì hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị
vẫn không giảm. Do đó, không chỉ là vấn đề kinh tế, di cư được xem là một phần của đô thị hóa.
2. Trên cơ sở những xu hướng của các yếu tố cấu thành dân số thành phố Đà Nẵng, có thể dự báo những vấn
đề sau đây:
(i) Dân số sẽ tăng nhanh chủ yếu là do lượng nhập cư vào thành phố. Tỉ lệ nhập cư sẽ tăng lên khoảng 2,6% cho
giai đoạn đến năm 2015, và khoảng 3,8% vào cho giai đoạn 2015 đến 2020.
(ii) Di cư đến thành phố vẫn tiếp diễn sẽ dẫn đến nhu cầu nhà ở giá vừa phải tăng, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cũng
tăng lên; và có khả năng tỷ lệ thất nghiệp hoặc thừa lao động cao hơn trong trường hợp kinh tế suy giảm;
(iii) Quy mô hộ gia đình sẽ giảm xuống cùng với tỷ lệ di cư đang tăng lên và các tập quán xã hội thay đổi;
(iv) Dự báo sẽ thiếu lao động có tay nghề vì những địa phương khác, như thành phố Hồ
Chí Minh, tỏ ra hấp dẫn và thu hút lao động hơn Đà Nẵng; và
(v) Tỉ lệ di cư sẽ phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cũng liên
quan đến sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ và phía nam.
Tổng quan về tăng trưởng dân số
1. Một điều đáng lưu ý là trong số liệu chính thức, dân số đô thị thường được nêu thấp hơn. Số liệu dân số chính
thức không tính số dân nhập cư gần đây đến các khu vực đô thị. Nhiều người nhập cư có giấy tạm trú hoặc không
đăng ký tạm trú tại các khu đô thị họ sống. Việc này gây khó khăn cho công tác thống kê dân số. Người nhập cư từ
nông thôn ra thành thị thường theo mùa khi có cơ hội việc làm hoặc lý do cá nhân. Chẳng hạn tại thành phố Hồ Chí
Minh thống kê gần đây cho thấy lượng người tạm trú (KT4) chiếm khoảng 15% dân số đô thị. Dân nhập cư không
đăng ký có thể còn có tỷ lệ cao hơn. Trao đổi với cán bộ hành chính tại Đà Nẵng được biết tình trạng này cũng xảy
ra tương tự tại Đà Nẵng, người nhập cư không thống kê (cả người có giấy tạm trú và không đăng ký tạm trú) ước
tính bổ sung khoảng 20% vào dân số chính thức. Ngoài ra cũng lưu ý rằng, một số người dân Đà Nẵng có hộ khẩu
thành phố chuyển đến nơi khác (chẳng hạn như vào khu vực Đông Nam bộ) mà không đăng ký và vì vậy cũng
không đưa vào trong thống kê chính thức. Tuy vậy, ước tính dân số chính thức cũng đưa ra một dự đoán dân số tối
thiểu của Đà Nẵng.
2. Bảng 3.2.1 và hình 3.2.1 thể hiện xu hướng gần đây về các chỉ số và dự đoán dân số chính như đề cập trong
Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng đến năm 2020. Số liệu chính thức cho thấy tỷ lệ tăng dân số và tỉ lệ di
cư thời kỳ 2000-2007 ở mức vừa phải. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội gần đây không còn đưa ra mức dự báo
thấp, mà dự báo tốc độ tăng dân số trên 3,62% thời kỳ 2007- 2015 và 4,78% thời kỳ 2015 - 2020. Theo dự báo này
thì đến năm 2020 dân số Đà Nẵng sẽ đạt 1,4 triệu người. Nếu tính cả 20% dân nhập cư không thống kê, dân số hiện
tại có thể đạt 1 triệu người và đến năm 2020 đạt khoảng 1,6 triệu người. Số liệu dự đoán cũng cho thấy: (i) dân số
Đà Nẵng sẽ tăng trưởng cao, và (ii) phần lớn số tăng này là tăng cơ học vào Đà Nẵng.
3. Tỷ lệ tăng dân số bao gồm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ nhập cư. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dự đoán sẽ
giảm từ mức hiện nay khoảng 12% xuống khoảng 10% vào năm 2010, tỷ lệ nhập cư có thể tăng nhanh. Hiện tại, tỷ
lệ nhập cư ước khoảng 0.51% (dân nhập cư trung bình khoảng 4.000) thời kỳ 2000 - 2007. Con số này dĩ nhiên là
quá thấp do không tính những người nhập cư không kê khai. Tuy nhiên, theo ước tính trong quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội cho thấy tỉ lệ nhập cư khoảng 2.6% đến năm 2015, tăng lên 3.8% vào các năm từ 2015 đến 2020.
Những con số này vượt số liệu dự đoán chính thức trước đây và chắc chắn cao hơn so với quốc tế. Dường như
người ta cũng cố gắng đưa số liệu dân số nhập cư không kê khai vào dự đoán dân số, tuy nhiên vấn đề này không
thấy đề cập trong tài liệu.
Phân bố dân cư theo độ tuổi
1. Hình từ 3.2.1 đến 3.2.4 cho thấy phân bố dân cư của TP Đà Nẵng, Hà Nội và TPHCM. Số liệu cho thấy Đà
Nẵng và Hà Nội có hai độ tuổi chiếm dân số cao nhất. Dân số trong độ tuổi từ 15 đến 24 và từ 35 đến 44 tuổi chiếm
tỷ lệ cao tại Đà Nẵng. Dân số trong độ tuổi từ 15 đến 24 và từ 40 đến 49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất tại Hà Nội. Dân
số trong độ tuổi từ 20 đến 34 chiếm tỷ lệ cao nhất tại TPHCM. Mũi tên theo chiều dọc thể hiện giai đoạn chiến
tranh Việt nam, từ 1960 đến 1975, khi đó cả 3 thành phố có giai đoạn bùng nổ dân số sau chiến tranh. Ở thành phố
Đà Nẵng, tỷ lệ nhóm dân số trẻ nhất, dưới 15 tuổi, chiếm khoảng 25% dân số, cao hơn Hà Nội và TPHCM. Điều
này cho thấy tỷ lệ sinh của Đà Nẵng cao hơn 2 thành phố chính của Việt Nam.
Số lượng và quy mô hộ gia đình
Khảo sát mức sống hộ gia đình Viêt Nam năm 2004 cho thấy quy mô hộ gia đình trung bình tại Đà Nẵng là 4,6
người. Tuy nhiên, điều tra phỏng vấn hộ gia đình của dự án DaCRISS đưa ra số liệu thấp hơn, khoảng 3,95 người.
Kết quả điều tra cho thấy năm 2008 Đà Nẵng có khoảng 204.000 hộ gia đình. Sự chênh lệch này có thể do điều tra
phỏng vấn hộ gia đình tính cả số người nhập cư vào và di cư khỏi Đà Nẵng, việc này làm giảm quy mô trung bình
của hộ gia đình. Về cơ cấu hộ gia đình theo số liệu điều tra phỏng vấn hộ gia đình thì chỉ có 30% số hộ có 5 thành
viên trở lên, 34% có 4 thành viên, 20% có 3 thành viên, 12% có 2 thành viên và chỉ 4% có 1 thành viên. Trong
tương lai, quy mô hộ gia đình có thể tiếp tục giảm do số lượng di cư tăng và sự thay đổi về tập quán xã hội.
Di cư
1. Biến động dân số là vấn đề trung tâm quyết định tốc độ phát triển của thành phố. Dự đoán hiện tại trong kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội cho thấy dân số tăng nhanh là do người nhập cư vào thành phố. Dự đoán dân số
không chính thức cũng cho thấy thành phố có nhiều dân nhập cư không đăng ký và số liệu dân số chính thức
thường ước tính dân số nhập cư thấp hơn thực tế.
2. Kết quả điều tra phường/xã và điều tra phỏng vấn hộ gia đình cho thấy hầu hết người nhập cư đến Đà Nẵng là
từ các tỉnh lân cận, đông nhất từ Huế, Quảng Nam; cũng có một số lượng lớn dân nhập cư đến từ Quảng Ngãi và
Quảng Trị, một số ít từ Bình Định. Ngoài ra có dân từ các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải bắc trung bộ nhập cư vào
Đà Nẵng.
3. Di cư là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp. Qua tìm hiểu được biết một số nguyên nhân chính dẫn đến di cư từ
nông thôn ra thành thị ở Việt Nam1. Kinh tế là yếu tố chủ yếu đầu tiên nhất dẫn đến di cư. Cũng do khu vực nông
thôn thường nghèo và ít việc làm nên trong những năm gần đây di cư trở nên thường xuyên và dễ dàng hơn - nhờ
điều kiện giao thông được cải thiện và vấn đề di cư không bị quá thắt chặt. Thứ ba, liên hệ giữa những người thân
và cộng đồng cũng là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến di cư. Người nhập cư thường phải hòa nhập với cộng đồng
những người nhập cư. Liên hệ này rất quan trọng, giúp tìm việc và chỗ ở cho những người nhập cư mới. Việc xây
dựng cộng đồng những người nhập cư ở thành phố tạo điều kiện thuận lợi cho việc di cư kế tiếp .
4. Trao đổi với cán bộ hành chính tìm hiểu một số đặc điểm chính của người nhập cư: (i) là những người tương
đối trẻ; (ii) thường là những người độc thân hoặc sống trong gia đình nhỏ; (iii) rất đông người di cư ra thành phố
tạm thời khi có sẵn công việc ở thành thị và khi điều kiện công việc ở quê cho phép. Chẳng hạn, nhiều người nhập
cư tạm thời sẽ quay về nông thôn để thu hoạch và trồng trọt mùa vụ khi công việc yêu cầu; và (iv) hầu hết người
nhập cư có người thân, bạn bè ở thành thị nơi họ chọn đến.
5. Ngoài những yếu tố quyết định chính ấy, còn có yếu tố như phát triển kinh tế và quan niệm thành thị có cơ hội
việc làm tốt hơn. Điều này cho thấy có mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, nhu cầu lao động ở thành thị và di cư.
Tuy nhiên, mối quan hệ này không chặt chẽ lắm vì mặc dù nhu cầu lao động tăng lên là quan trọng, nhưng đấy
không phải là yếu tố quyết định đến tỷ lệ di cư. Ngay cả khi tăng trưởng kinh tế thấp thì di cư từ nông thôn ra thành
thị vẫn không giảm. Điều này là vì một số lý do sau:
(i) Nông thôn có thể bị tác động bất lợi trong tình trạng kinh tế suy giảm, và
(ii) Nhu cầu lao động thực tế ở thành thị có như thế nào đi nữa và nếu những người sắp di cư quan niệm thành thị
là nơi có việc làm tốt hơn nông thôn, thì việc di cư vẫn có thể tiếp tục diễn ra. Do đó, có bằng chứng cho thấy di cư
từ nông thôn ra thành thị và đô thị hóa nói chung là vấn đề tất yếu chứ không phải là việc thay đổi chính sách. Di cư
trở nên là một lựa chọn tốt hơn cho vấn đề kinh tế nhưng có lẽ nhiều lơn là vì những lý do xã hội (sự hỗ trợ của
cộng đồng tại đô thị họ đến, giao thông cải thiện, và sự nới lỏng trong kiểm soát dân số dân số động và dân số tĩnh).
Vì vậy, di cư có thể tăng lên. Vấn đề di cư gia tăng phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế và nhu cầu lao động tại thành
phố, nhưng không thể là không diễn ra.
6. Các vấn đề của thành phố cần được xem xét: (i) Nhu cầu nhà ở giá rẻ có thể sẽ tăng, đặc biệt là nhà nhỏ phù
hợp với người độc thân hoặc gia đình nhỏ; (ii) số người nhập cư trẻ có thể làm tăng tỉ lệ tăng dân số tự nhiên; và
(iii) khả năng nhiều người nhập cư không có việc làm hoặc không đủ việc làm sẽ cao hơn trong trình trạng kinh tế
suy giảm.
7. Điều tra phỏng vấn cho thấy di cư từ thành phố vào Vùng Đông Nam Bộ và một số ít ra Vùng đồng bằng sông
Hồng cũng là vấn đề đáng lưu tâm. Mặc dù có dân nhập cư vào thành phố, nhưng cũng có rất nhiều người xuất cư.
Không giống như những người nhập cư tay nghề thấp từ nông thôn ra thành thị để tìm việc, dân nhập cư từ thành
phố này đến thành phố khác để tận dụng tối đa cơ hội tăng thu nhập. Trao đổi với cán bộ một trường đại học được
biết rất đông người tốt nghiệp đại học đi khỏi thành phố để tìm việc làm tốt hơn, chủ yếu là vào khu vực đông nam
bộ. Các chủ sử dụng lao động phỏng vấn lao động tại chỗ cho biết thành phố thiếu lao động tay nghề. Điều này có
nghĩa họ phải kiếm lao động tay nghề từ các vùng kinh tế phía bắc hoặc phía nam và trả lương ngang với những
người ở Đà Nẵng. Ngoài ra, đối với những lao động có tay nghề sắp di cư ở địa phương khác trong vùng kinh tế
trọng điểm miền trung thì thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến hấp dẫn hơn Đà Nẵng, mặc dù Đà Nẵng gần hơn
8. Nghiên cứu sự phát triển đô thị ở các địa phương khác tại Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ qua cho thấy tỉ lệ
nhập cư khoảng 2,5% là khả quan, tỉ lệ 3,8% từ năm 2015 dường như là cao. Cần lưu ý rằng, Đà Nẵng không phải
là trung tâm đô thị chính như thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội; vì vậy, không thể hy vọng tỷ lệ phát triển ngang
với các trung tâm đô thị lớn này. Vấn đề đặt ra ở đây là với điều kiện kinh tế nào đi nữa thì tỉ lệ di cư vẫn luôn ở
mức tương đối cao và phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đồng thời
cũng liên quan đến sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và phía Nam.
9. Hình 3.2.5 thể hiện tình hình di cư từ Đà Nẵng đến các khu vực khác trong cả nước. Hình này cho thấy trong
những năm gần đây số người di chuyển trong vùng thành phố Đà Nẵng đã giảm từ hơn một nửa tổng dân số nhập
cư thời kỳ 1999-2005. Trong giai đoạn này, nhiều người di cư đến các tỉnh trong Vùng KTTĐ phía Nam, chủ yếu là
đến TPHCM để làm việc, học tập và để có cuộc sống tốt hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, người dân di
cư đến nhiều nơi hơn, có nhiều người di cư đến những nơi khác trong nước hơn. Số người di cư đã tăng rất mạnh
trong những năm vừa qua.
Tình hình xã hội TP Đà Nẵng
3.1. Tổng quan
Đặc điểm xã hội của thành phố Đà Nẵng có thể được tóm tắt như sau:
(i) Tăng trưởng GRDP đầu người tại Đà Nẵng vượt xa con số bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung và cả nước;
(ii) Phân bố thu nhập có sự chệnh lệch giữa khu đô thị và vùng ven thành phố (Hoà Vang, Liên Chiểu, Cẩm Lệ
và Ngũ Hành Sơn) cho thấy tỉ lệ lớn các hộ gia đình có thu nhập thấp (dưới 3,5 triệu đồng/năm), trong khi mức thu
nhập tại khu vực trung tâm (Hải Châu, Thanh Khê) cao hơn nhiều. Quận Sơn Trà có thu nhập trung bình trong số
các quận.
(iii) Khoảng 50% lao động làm việc trong ngành nông lâm nghiệp thuộc nhóm thu nhập thấp nhất, trong khi 66-
81% tổng số lao động trong ngành tài chính và ngân hàng, các hoạt động khoa học và kỹ thuật, ngành bất động sản,
ngành y tế và xã hội có thu nhập cao hơn;
(iv) Các khu vực nông thôn và vùng ven có mức sở hữu hàng hoá bền vững thấp hơn, trong khu nội thị có mức
sở hữu cao hơn, đặc biệt số lượng máy điều hòa, máy giặt, tủ lạnh và máy vi tính là các chỉ số về mức thu nhập.
(v) Khoảng 52–69% dân số ở 7 trong số 8 quận của thành phố có các hộ gia đình sở hữu từ hai xe máy trở lên.
Chỉ có huyện Hòa Vang có tỷ lệ này thấp hơn, 38%; tuy vậy, tỷ lệ các hộ gia đình có xe máy vẫn chiếm 83% dân
số; và
(vi) Nếu áp dụng chuẩn nghèo mới của Sở LĐ-TB-XH, thành phố có 5,7% hộ nghèo theo Kết quả khảo sát hộ
gia đình của DACRISS.
3. 2. Việc làm
3.2.1. TP Đà Nẵng có dân số trẻ và số người trong độ tuổi lao động cao. Hiện tại 45% dân số làm việc trong
ngành công nghiệp. Bảng 3.3.1 cho thấy tỷ lệ người lao động chuyên nghiệp/ kỹ thuật sống tại các quận thành thị
như Hải Châu và Thanh Khê. Tỷ lệ lớn công nhân lành nghề sống ở quận Liên Chiểu, quận có khu công nghiệp
Hòa Khánh. Lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu ở huyện Hòa Vang.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét