Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại và kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài:
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp đặc biệt, là trung gian
tài chính của nền kinh tế. Nó thực hiện huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế
và sử dụng các nguồn vốn huy động này để thực hiện cung ứng vốn tín dụng cho
nền kinh tế và các dòch vụ ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận. Trong các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng
nhất của NHTM vì nó giúp quay vòng nguồn vốn huy động đầu vào và tạo ra lợi
nhuận cao nhất cho NHTM. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao
nhất. Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không trả được nợ gốc
và lãi vay cho ngân hàng đúng hạn như đã cam kết. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro
nguy hiểm nhất đối với NHTM vì nó kéo các loại rủi ro khác cũng phát sinh theo
và có thể dẫn đến sự phá sản của NHTM vì mất khả năng thanh toán các khoản
huy động đầu vào do không thu hồi được vốn đã sử dụng để cho vay. Để hạn chế
và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng thì
việc thiết kế một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả của NHTM đối với nghiệp
vụ tín dụng sẽ góp phần rất quan trọng trong việc kiểm soát và giám sát rủi ro tín
dụng, hạn chế được sự thất thoát vốn tín dụng cho ngân hàng.
Kể từ khi thực hiện chuyển hệ thống ngân hàng một cấp sang mô hình ngân
hàng hai cấp, hệ thống NHTM Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển lớn
mạnh, đa dạng về loại hình. Tuy nhiên, quy mô của các NHTM Việt Nam còn nhỏ
bé, năng lực quản trò, điều hành chưa cao và trình độ nghiệp vụ còn thấp. Mặc dù
chất lượng hoạt động của các NHTM Việt Nam đã được cải thiện đáng kể sau quá
trình thanh tra, tái cơ cấu, chấn chỉnh và sắp xếp lại nhưng vẫn còn tồn tại những
yếu kém và các rủi ro tiềm ẩn do môi trường kinh doanh không ổn đònh, tạo nhiều
sơ hở cho sự lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng, do hành lang pháp lý bất cập
và do sự thiếu tôn trọng đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ nghiệp vụ và một số
lãnh đạo NHTM đã gây ra các sai phạm về những quy tắc hoạt động ngân hàng.
Các sự kiện có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam trong
những năm gần đây cho thấy chất lượng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam
chưa cao, khả năng quản lý rủi ro tín dụng còn yếu kém. Từ đó có thể thấy rằng,
trong điều kiện môi trường kinh doanh nhiều bất lợi cộng với bản chất rủi ro tiềm
tàng của hoạt động tín dụng ngân hàng đòi hỏi các NHTM Việt Nam không ngừng
nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng – đặc biệt phải xây dựng hệ thống kiểm
soát nội bộ hữu hiệu nhằm giảm thiểu và kiểm soát rủi ro.
6
Từ trước đến nay, các NHTM Việt Nam chỉ chú trọng đến việc thiết lập các
chính sách tín dụng phù hợp với mục tiêu phát triển của từng ngân hàng, sự phát
triển của các ngành kinh tế và tính an toàn trong cho vay và thiết kế các quy trình
tín dụng phù hợp với các quy đònh của pháp luật về hoạt động tín dụng nhưng chưa
chú trọng hoàn thiện kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng. Chính sự khiếm
khuyết này đã tạo ra sơ hở cho các sai phạm về nghiệp vụ và đạo đức của những
người làm công tác tín dụng và không tạo ra sự cảnh báo kòp thời về các khoản tín
dụng có vấn đề cho các cấp lãnh đạo của ngân hàng. Chính vì thế, cần phải có sự
nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng của các NHTM Việt
Nam để đánh giá và khắc phục những tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ trong
vai trò kiểm soát và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Mặt khác, trong điều kiện ngày nay, khi nền kinh tế thế giới đã và đang
trong quá trình toàn cầu hóa, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách
quan đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với các NHTM Việt Nam nói
riêng. Hội nhập đòi hỏi các NHTM phải nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực
quản lý và đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả. Vì vậy, một trong các giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động của các NHTM Việt Nam là hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ ngân hàng, đặc biệt là đối với nghiệp vụ tín dụng nhằm đảm bảo
sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
2. Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đáùnh giá các ưu điểm và tồn tại của hệ
thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các NHTM Việt Nam nói
chung. Từ các ưu – nhược điểm được rút ra này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại các NHTM
Việt Nam.
3. Phương pháp luận nghiên cứu:
Để nắm một cách đầy đủ thực trạng, tác giả phải tiến hành thực hiện các
cuộc khảo sát như sau:
• Sử dụng Bảng câu hỏi về Hệ thống kiểm soát nội bộ để khảo sát thực
trạng kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại một số NHTM tiêu biểu của
Việt Nam. Đó là những ngân hàng có quy mô lớn và có tỷ trọng dư nợ tín dụng cao
trong tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành ngân hàng.
7
• Thảo luận với một số nhà quản lý, kiểm toán viên nội bộ và một số cán
bộ tín dụng tại một số ngân hàng thương mại quốc doanh và cổ phần của Việt Nam
về các vấn đề về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, các biện
pháp kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng hiện đang áp dụng và hạn chế
của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam.
• Tổng hợp và phân tích các bài viết, các báo cáo về một số vụ án liên
quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng mà nguyên nhân chủ quan do sự yếu kém
của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng.
• Phỏng vấn các kiểm toán viên độc lập có kinh nghiệm kiểm toán lónh
vực ngân hàng và đã từng tham gia các cuộc kiểm toán chuyên đề về tín dụng.
Thông qua đánh giá của các chuyên gia ngân hàng về chất lượng tín dụng và năng
lực quản trò, điều hành của các NHTM Việt Nam và kết quả thu thập được từ các
cuộc khảo sát, tác giả rút ra các rút ra những ưu điểm và tồn tại của kiểm soát nội
bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các NHTM Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi giới hạn của đề tài này là nghiên cứu vấn đề kiểm soát nội bộ đối
với nghiệp vụ tín dụng trong các NHTM Việt Nam nói chung.
5. Ý nghóa của việc nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng
trong NHTM là đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát và những yếu kém,
nhược điểm của nó làm cho hệ thống không phát hiện, không hạn chế được các
gian lận và sai sót dẫn đến rủi ro tín dụng. Từ đó, nghiên cứu các giải pháp khắc
phục các nhược điểm của hệ thống nhằm đem lại khả năng kiểm soát tối ưu của
NHTM về hoạt động tín dụng. Vì hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ
yếu đem lại nguồn thu nhập cao nhất cho các NHTM và cũng là hoạt động rủi ro
cao nên nếu kiểm soát tốt hoạt động này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt
động của NHTM và đem lại hiệu quả sử dụng vốn cho NHTM.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghóa quan trọng như sau:
Đối với Nhà nước: Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tư liệu để Nhà
nước hoàn thiện hơn các chính sách, các quy đònh pháp luật về hoạt động tín dụng
8
của các NHTM và có những biện pháp giám sát thích hợp đối với các NHTM về
hoạt động tín dụng nói riêng và đặt ra vấn đề về đánh giá rủi ro của các NHTM nói
chung.
Đối với các NHTM: Giúp các NHTM Việt Nam soi rọi lại các tồn tại,
yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ về hoạt động tín dụng của mình. Các
kiến nghò của đề tài có ý nghóa đối với các NHTM trong việc hoàn thiện môi
ttrường kiểm soát nội bộ nói chung và KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng nói riêng
đồng thời thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn.
Đối với các nghiên cứu tiếp theo: Kết quả của đề tài góp phần tạo thêm
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
của các NHTM và quản lý rủi ro tín dụng.
6. Nội dung của đề tài:
Với mục tiêu và phương pháp luận trình bày ở trên, nội dung của đề tài được
chia làm 03 chương lớn:
Chương 1: Khái quát quá trình hình thành các lý luận về hệ thống kiểm soát
nội bộ nói chung và hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng nói riêng. Trong
chương này, tác giả cũng giới thiệu Báo cáo của y ban Basle về các tiêu
chuẩn đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng. Cuối cùng,
bàn về hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm vai trò của nghiệp vụ tín
dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng và kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín
dụng ngân hàng.
Chương 2: Trong chương này, tác giả giới thiệu quá trình hình thành, phát
triển và các đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
Trọng tâm của chương 2 là nhận đònh và phân tích các nguyên nhân gây ra
rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam và đánh giá các ưu và nhược điểm
của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các NHTM Việt Nam
từ kết quả các cuộc khảo sát về KSNB trong các NHTM Việt Nam.
Chương 3: Nêu ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
đối với nghiệp vụ tín dụng trong các NHTM Việt Nam.
9
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI
VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG
1.1.1 Lòch sử phát triển của hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ trong ngân
hàng:
1.1.1.1 Lòch sử phát triển của hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ nói chung:
Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ
thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, đặc biệt có liên quan mật thiết
đến vấn đề quản trò doanh nghiệp. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát
nội bộ đã dẫn đến các đònh nghóa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống
này. Đến nay, đònh nghóa được chấp nhận khá rộng rãi là:
1
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trò, các
nhân viên của đơn vò chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp
lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
Các luật lệ và quy đònh được tuân thủ.
Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”
Đònh nghóa trên được đưa ra bởi COSO
2
trong báo cáo của COSO có tựa đề
là “Kiểm soát nội bộ:Khuôn khổ hợp nhất” được công bố lần đầu tiên vào năm
1992.
Trước khi báo cáo của COSO về kiểm soát nội bộ ra đời, đã có rất nhiều lý
luận khác nhau về kiểm soát nội bộ nhưng chưa hoàn chỉnh và thống nhất.
1
Nguồn: Internal Control:Intergrated framework – COSO, September 1992
2
COSO (Committee of Sponsoring Organizations) là một Uỷ ban của Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống
gian lận về báo cáo tài chính(National Commission on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway
Commission). Uỷ ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp
hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội quản trò viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA),
Hiệp hội kế toán viên quản trò (IMA).
10
Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ
đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu kiểm soát
nội bộ trong các cuộc kiểm toán.
Đến giữa thập niên 1970, kiểm soát nội bộ đđđược quan tâm đặc biệt trong
các lónh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến
hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống
hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977 (Foreign Corrupt Practices Act of 1977), các báo
cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executives Institute) đều đề cập đến
việc hoàn thiện hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ. Ủy ban chứng khoán Hoa
Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trò phải báo cáo về hệ
thống kiểm soát nội bộ của tổ chức
3
. Năm 1979, Hiệp hội Kế toán viên công chứng
Hoa Kỳ – AICPA đã thành lập một Uỷ ban tư vấn đặc biệt về kiểm soát nội bộ
nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống kiểm soát nội
bộ.
Hưởng ứng với Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977, Viện
Nghiên cứu tài chính (Financial Executives Research Foundation – FERF) đã tiến
hành một cuộc khảo sát về phương pháp kiểm soát nội bộ trong các công ty Hoa
Kỳ. Đóng góp chủ yếu của kết quả nghiên cứu này là ấn phẩm xuất bản năm 1980
4
- liệt kê các đặc tính của kiểm soát nội bộ, các điều kiện, thủ tục và sự nhận thức
một loạt các quan điểm đa dạng, rộng rãi liên quan đến đònh nghóa, bản chất, mục
đích của kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ cần phải đạt đến sự hiệu quả như
thế nào.
Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985 đã chỉ ra sự phát triển và sự sàng lọc của
các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến kiểm soát nội bộ thông qua các lần ban
hành và sửa đổi của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ về các chuẩn mực
về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về kiểm soát nội bộ và báo cáo về kiểm
soát nội bộ
5
. Hiệp hội Kiểm toán nội bộ (Institute of Internal Audit – IIA) cũng ban
hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và
vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ
6
.
3
Báo cáo của nhà quản lý về hệ thống kiểm soát kế toán nội bộ (SEC Release No.34-15772, 1979).
4
Internal Control in U.S Corporations:The State of Art (New York:Financial Execuitves Research
Foundation, 1980).
5
Statement on Auditing Standards No.30, Reporting on Internal Accounting Control (New York, AICPA,
1980); Statement on Auditing Standards No.43:Omnibus Statement on Auditing Standards (New York,
AICPA, 1982.
6
Statement on Internal Auditing Standards No.1: Control:Concepts and Responsibilities (Altamonte Springs
FL: The Institute of Internal Auditors, Inc, 1983).
11
Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm tập trung vào kiểm soát nội bộ thể hiện với
cường độ mạnh mẽ hơn. Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính
(National Commission on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway
Commission) được thành lập năm 1985. Hoạt động của Hội đồng này là nhằm mục
tiêu xác đònh các yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính và đưa ra các đề xuất để
giảm thiểu phạm vi ảnh hưởng của chúng. Hội đồng này cũng đã đưa ra một loạt
các vấn đề về kiểm soát nội bộ. Nó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường
kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Uỷ ban Kiểm toán và chức năng của kiểm
toán nội bộ. Vì thế, Uỷ ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO – Committee of
Sponsoring Organizations) của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài
chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là:
-
Thống nhất đònh nghóa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của
các đối tượng khác nhau.
-
Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vò có thể đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ để tìm giải pháp để hoàn thiện.
Đến năm 1992, sau quá trình xây dựng, hoàn chỉnh lý luận về kiểm soát nội
bộ, Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề: Kiểm soát nội bộ – Khuôn khổ
hợp nhất (Internal Control – Integrated Framework). Nội dung của báo cáo này đề
cập đến các vấn đề sau:
a. Đònh nghóa về hệ thống kiểm soát nội bộ (đã nêu ra ở phần trên).
b. Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ:
Theo COSO, dù đặc điểm hoạt động của mỗi tổ chức có khác nhau thì vẫn
có 05 bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm
7
:
• Môi trường kiểm soát
• Đánh giá rủi ro
• Hoạt động kiểm soát
• Thông tin và truyền thông
• Giám sát.
c. Các hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ:
Hệ thống kiểm soát nội bộ không thể bảo đảm tuyệt đối mà chỉ bảo đảm
hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của mình vì nó luôn tồn tại các hạn chế
tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
7
Xem phần Phụ lục 1. Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO.
12
Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự bất cẩn, vô ý …;
Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các
bộ phận bên ngoài tổ chức;
Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các ngiệp vụ thường xuyên
phát sinh mà ít chú ý những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm
trong các nghiệp vụ này thường hay bò bỏ qua;
Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho
hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trò thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận
gây ra;
Luôn có khả năng là các cá nhân chòu trách nhiệm kiểm soát đã lạm
dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng;
Điều kiện hoạt động của tổ chức thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm
soát không còn phù hợp.
d. Vai trò và trách nhiệm của các bên có liên quan trong hệ thống kiểm soát nội
bộ:
Báo cáo COSO cho rằng mỗi thành viên trong tổ chức đều có một số vai trò
và trách nhiệm nhất đònh đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, trong đó:
Các nhà quản lý cấp cao chòu trách nhiệm chính đối với hệ thống kiểm
soát nội bộ của tổ chức.
Các chuyên viên tài chính, kế toán là trung tâm để thực thi kiểm soát, và
thông qua từng cấp quản lý đóng vai trò quan trọng việc kiểm soát các hoạt động
của từng đơn vò.
Kiểm toán nội bộ góp phần cho sự hiệu quả liên tục của hệ thống kiểm
soát nội bộ nhưng họ không chòu trách nhiệm chính trong việc thiết lập cũng như
duy trì nó.
Hội đồng quản trò và Ủy ban Kiểm toán quy đònh sự giám sát quan trọng
đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.
Một số các đối tượng bên ngoài tổ chức, chẳng hạn như các kiểm toán
viên độc lập cũng góp phần cho việc đạt đến các mục tiêu của tổ chức và cung cấp
các thông tin hữu ích cho việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng không
chòu trách nhiệm về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và không phải là
một bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Báo cáo COSO về kiểm soát nội bộ đã đóng góp hết sức to lớn trong việc
tạo ra khuôn khổ chung về kiểm soát nội bộ và nó đã được vận dụng linh hoạt tại
13
nhiều quốc gia trên thế giới. Đó cũng là công cụ để các kiểm toán viên độc lập
đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ khi tiến hành các cuộc kiểm toán. Từ nền tảng
báo cáo của COSO, người ta đã phát triển thêm các lý luận khác về kiểm soát nội
bộ ở cấp độ nâng cao hơn như kiểm soát nội bộ trong môi trường tin học, kiểm soát
nội bộ ngân hàng, công ty chứng khoán …
1.1.1.2 Sự hình thành hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương
mại:
a. Khái niệm ngân hàng thương mại:
“Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dòch trực tiếp với các tổ chức
kinh tế và cá nhân bằng cách huy động vốn rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết
khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dòch vụ ngân hàng cho các
đối tượng nói trên”
8
.
b. Sự cần thiết khách quan về hệ thống lý luận kiểm soát nội bộ của ngân hàng
thương mại:
Mặc dù, theo như báo cáo của COSO về kiểm soát nội bộ, bất kỳ tổ chức
nào dù khác nhau về quy mô, đặc điểm hoạt động thì cũng đều tồn tại năm yếu tố
cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ và báo cáo COSO đã tạo ra một khuôn khổ
chung về kiểm soát nội bộ nhưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
lại có những đặc điểm đặc thù đòi hỏi phải có thêm những tiêu chuẩn khác về
kiểm soát nội bộ dành riêng cho nó.
Xét dưới góc độ ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, hoạt động kinh
doanh của NHTM có những điểm khác biệt đối với các doanh nghiệp khác. Trước
hết, đó là lónh vực kinh doanh của NHTM bao gồm tiền tệ, tín dụng và dòch vụ
ngân hàng, những lónh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đời
sống kinh tế – xã hội. Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lónh vực rất “nhạy cảm” nên
nó đòi hỏi một sự thận trọng trong hoạt động điều hành ngân hàng để tránh những
thiệt hại cho nền kinh tế xã hội. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà
tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vó mô nền kinh tế, nó
quyết đònh đến sự phát triển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó nó được
Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ.
9
8
Quản trò Ngân hàng thương mại, TS.Trần Huy Hoàng – NXB Thống kê – năm 2003 (trang 5).
9
Quản trò Ngân hàng thương mại, TS.Trần Huy Hoàng – NXB Thống kê – năm 2003 (trang 7)
14
Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của
hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ như
sau
10
:
NHTM thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dòch trực tiếp bằng
tiền mặt, chứng từ có giá. Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản và gian lận
cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dòch. Do đó, các ngân hàng
thường thiết lập những quy trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạn chế quyền
hạn cá nhân và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu;
NHTM thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dòch cả về số lượng
và giá trò. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập hệ thống kế toán và kiểm
soát nội bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử
lý nghiệp vụ;
NHTM thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chi nhánh và
phòng giao dòch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt đòa lý. Điều này đòi hỏi việc
phân cấp trách nhiệm và quyền hạn lớn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng
vẫn đảm bảo tuân thủ hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất. Ngoài ra, đặc
điểm này cũng ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toàn
hệ thống của ngân hàng;
Các NHTM thường phải tuân thủ chặt chẽ các quy đònh về pháp lý trong
hoạt động. Các quy đònh này cũng thường xuyên được thay đổi và điều chỉnh.
Ngoài ra, NHTM thường gặp phải nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Các loại rủi ro gắn liền với hoạt động của NHTM có thể kể đến như: rủi ro tín
dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro hoạt động ngoại
bảng và rủi ro tác nghiệp bao gồm rủi ro an toàn chung, rủi ro giao dòch, rủi ro lạm
dụng thông tin, rủi ro kiểm soát, rủi ro do các nhà quản lý không nhận được đầy đủ,
chính xác, kòp thời các thông tin, rủi ro nhân sự, rủi ro hệ thống công nghệ thông
tin, rủi ro thay đổi bộ máy quản lý …
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy rằng hệ thống KSNB đối với ngân
hàng thương mại cần đặc biệt chú trọng đến những vấn đề sau:
o Bảo đảm an toàn tài sản của ngân hàng, hạn chế tối đa sự biển thủ tiền
và tình trạng thất thoát vốn tín dụng thông qua cơ chế phân công, phân nhiệm độc
lập trên phạm vi rộng và một loạt các thủ tục kiểm soát chặt chẽ quá trình xử lý
10
Giáo trình Kiểm toán Ngân hàng – Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM, năm 2003 (trang 37).
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét