nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế t bản Nhà nớc.
Thứ ba, cổ phần hóa là biện pháp duy trì và nâng cao vai trò chủ đạo của
doanh nghiệp Nhà nớc.
Chúng ta chủ trơng cổ phần hóa nhng không phải tất cả các doanh nghiệp
Nhà nớc đều cổ phần hóa mà Nhà nớc chủ trơng giữ lại một số doanh nghiệp, là
các doanh nghiệp hoạt động công ích, các doanh nghiệp mà Nhà nớc độc quyền
kinh doanh. Cùng với một số biện pháp đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc
khác (giao bán khoán, cho thuê ), cổ phần hóa là một biện pháp để giảm bớt, loại
bỏ dần các doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không có hiệu quả. Giảm bớt không có
nghĩa là làm giảm vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc mà ngợc lại bởi
vì khi đó quy mô của các doanh nghiệp Nhà nớc còn lại (tập trung vào các doanh
nghiệp công ích, các tổng công ty và các doanh nghiệp độc lập có ý nghĩa quan
trọng) sẽ tăng lên, hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc nâng lên làm cho kinh tế Nhà
nớc thực sự giữ đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Có một vấn đề cần làm rõ trong quá trình cổ phần hóa là cổ phần hóa có
đồng nhất với t nhân hóa hay không? Theo quan điểm cá nhân thì cổ phần hóa và
t nhân hóa không phải là một, bởi vì về thực chất, cổ phần hóa và t nhân hóa có sự
khác biệt: cổ phần hóa là chuyển doanh nghiệp từ sở hữu Nhà nớc sang sở hữu
nhiều thành phần, trong đó có thể vẫn tồn tại thành phần kinh tế Nhà nớc với t
cách là đồng sở hữu; còn t nhân hóa là chuyển toàn bộ quyền sở hữu cho khu vực
t nhân nắm giữ. Điểm mấu chốt để phân định giữa cổ phần hóa và t nhân hóa
chính là mức độ cổ phần hóa một doanh nghiệp Nhà nớc:
- Thứ nhất, nếu khi cổ phần hóa, Nhà nớc vẫn nắm giữ một số cổ phần nhất
định thì cổ phần hóa hoàn toàn không phải là t nhân hóa.
- Thứ hai, nếu Nhà nớc bán toàn bộ cổ phần cho các cá nhân trong và ngoài
doanh nghiệp, tức là quyền sở hữu tài sản doanh nghiệp đã chuyển từ Nhà nớc
sang cá nhân hoặc các chủ thể kinh tế khác thì cổ phần hóa là t nhân hóa.
Nh vậy có thể thấy: cổ phần hóa hẹp hơn t nhân hóa và cổ phần hóa chắc
chắn không thể đồng nhất với t nhân hóa.
1.2. Sự cần thiết phải thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt
Nam.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta là một tất yếu khách quan xuất
phát từ các nguyên nhân sau:
1.2.1. Vai trò và thực trạng của khu vực kinh tế Nhà nớc.
Trên thế giới, không có nớc nào xóa bỏ hoàn toàn khu vực kinh tế Nhà nớc và
5
vai trò của khu vực này đợc xác định và thay đổi tùy theo thể chế chính trị, trình
độ phát triển và mục tiêu của nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ nhất định. ở
nớc ta, thành phần kinh tế Nhà nớc mà đại diện là các doanh nghiệp Nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo, vô cùng quan trọng, đợc coi nh mạch máu của nền kinh tế, có tác
dụng định hớng, mở đờng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát
triển.
Mặc dù vai trò của thành phần kinh tế Nhà nớc là rất quan trọng nhng trong
một thời gian dài, hệ thống các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động cha thực sự tơng
ứng với vai trò của mình. Trong khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn tồn tai 3 mâu thuẫn
lớn, rất gay gắt cần phải giải quyết để đa các doanh nghiệp Nhà nớc về đúng vị trí
xứng đáng của mình.
Một là, mâu thuẫn giữa việc phải mở rộng hơn nữa quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh cho doanh nghiệp với việc vẫn cha xác định đợc "ông chủ" đích thực,
cụ thể của doanh nghiệp Nhà nớc là ai.
Tính chất "vô chủ" này đã dẫn đến những tác hại nghiêm trọng nh:
- Quyền hạn không tơng xứng với trách nhiệm và thiếu rõ ràng. Giám đóc có
quyền hạn rất lớn nhng không quy định cụ thể trách nhiệm của ngời đứnh đầu
doanh nghiệp nh thế nào (đặc biệt là trách nhiệm vật chất) khi doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc tài sản Nhà nớc bị thất thoát.
- Quyền sở hữu và hành chính với quyền sử dụng và kinh doanh của doanh
nghiệp không đợc tách bạch rõ ràng. điều này dẫn đến tình trạng giám đốc vừa là
ngời đại diện duy nhất của một pháp nhân trong sản xuất kinh doanh, lại vừa là
"thủ trởng" của một đơn vị hành chính, nên không thể có điều kiện để chuyên lo
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mag thờng phải nghĩ để đối phó, "ăn ở"
nh thế nào cho vừa lòng cấp trên để tồn tại. Còn nhiều cấp trên doanh nghiệp thì
luôn luôn có quyền can thiệp, chỉ bảo doanh nghiệp song lại không có trách nhiệm
gì đối với doanh nghiệp.
- Nhiều doanh nghiệp lọi dụng tình trạng "vô chủ" và quyền hạn và trách
nhiệm không rõ ràng đó để đục khoét của Nhà nớc, thu lợi cá nhân.
Hai là, mâu thuẫn giữa việc Nhà nớc đang thiếu vốn trầm trọng với việc các
doanh nghiệp Nhà nớc chỉ trông chờ vào vốn cấp phát từ ngân sách Nhà nớc, trong
khi đó, vốn trong khu vực kinh tế Nhà nớc thì ứ đọng rất lớn, sử dụng vô cùng lãng
phí, hiệu quả thấp, thất thoát nghiêm trọng.
Theo số liệu thống kê của Bộ tài chính, tổng số vốn Nhà nớc tại các doanh
nghiệp Nhà nớc là 70.184 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 11,6 tỷ đồng,
6
chỉ tơng với vốn của một doanh nghiệp loại nhỏ của các nớc trong khu vực nh Thái
Lan, Indonexia, Malayxia. Đến nay vẫn còn 46,1% số doanh nghiệp Nhà nớc có
số lao động dới 100 ngời, 50% số doanh nghiệp có mức vốn dới 1 tỷ đồng, trong
đó gần một nửa có vốn dới 500 triệu đồng. Vốn thực tế hoạt động của doanh
nghiệp Nhà nớc chỉ bằng 80% vốn hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó
đòi, tài sản mất mát kém phẩm chất, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ đ-
ợc Riêng vốn lu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50% là đợc huy đô.ng vào sản
xuất kinh doanh, 50% còn lại thì ứ đọng, không thể giải ngân.
Nh vậy có thể thấy rằng trong khu vực kinh tế Nhà nớc xảy ra tình trạng vừa
thiếu vốn vừa thừa vốn, đó là một nghịch lý cần đợc giải quyết kịp thời, càng sớm
càng tốt.
Ba là, mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo và đóng góp lớn cho ngân sách Nhà n-
ớc với việc làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, chứa đựng nhiều vấn đề tiêu cực.
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nớc nắm giữ phần lớn tài sản quốc gia, mặt
khác, ngân sách Nhà nớc và nền tài chính quốc gia vẫn dựa vào nguồn thu từ kinh
tế Nhà nớc là chính. Trong khi đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp Nhà nớc lại không cao. Cụ thể, ở thời điểm 1/6/1995 chỉ có 47,6% hoạt
động có lãi ở mức dới 8%, khoảng 30% các doanh nghiệp lãi trên 8%, số doanh
nghiệp thua lỗ chiếm 11%, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng mỗi năm,
12% doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, không lỗ cũng không lãi.
Từ thực trạng đó, có thể rút ra 2 kết luận quan trọng:
- Thứ nhất, nếu tiếp tục duy trì thành phần kinh tế Nhà nớc nh hiện tại thì sẽ
có lúc ngân sách Nhà nớc, nền tài chính quốc gia sẽ sụp đổ và chế độ chính trị
cũng khó đứng vững (thực tế ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh điều đó).
- Thứ hai, nếu nóng vội, chủ quan xóa bỏ toàn bộ thành phần kinh tế này, tức
là xóa bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp Nhà nớc thì cũng sẽ đem lại những hậu quả
tơng tự nh trên.
Tóm lại, cả hai cách xử lý nh trên đều không khả thi mà chỉ có câu trả lời duy
nhất là tiến hành cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc vốn đang còn nhiều tồn tại để
nó trở nên vững mạnh, xứng đáng với vị thế và vai trò đáng có của nó. Một trong
những biện pháp cải tạo này là thực hiện cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà n-
ớc.
1.2.2. Tác dụng của cổ phần hóa.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng lớn của Đảng và Nhà n-
ớc. Khi xác định chủ trơng cổ phần hóa, Đảng và Nhà nớc đã định ra các mục tiêu
7
cần phải đạt đợc. Nghị định 44-CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà
nớc thành công ty cổ phần đã ghi rõ: Chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty
cổ phần nhằm các mục tiêu sau:
1. Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,
phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp
Nhà nớc.
2. Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những
ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo động lực
thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc, nâng cao thu
nhập của ngời lao động, góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Các mục tiêu đợc đặt ra mang tính khả thi cao do cổ phần hóa có tác dụng rất
lớn:
- Cổ phần hóa tạo ra sự đan xen quyền sở hữu của Nhà nớc, của ngời lao
động trong doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân ngoài doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau.
- Giúp thực hiện dân chủ hóa và xã hội hóa trong hoạt động kinh tế, thực hiện
nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần - một nội dung quan trọng của đ-
ờng lối đổi mới.
- Cho phép duy trì các quan hệ kinh tế đã có, đồng thời cho phép thu hút
thêm các nguồn vốn trong và ngoài nớc với các hình thức đầu t khác nhau (đầu t
trực tiếp, đầu t gián tiếp), thông qua các "kênh" khác nhau.
- Cổ phần hóa sẽ chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần nên
nâng cao khả năng huy động vốn đầu t phát triển doanh nghiệp; xác lập và nâng
cao quyền làm chủ thực sự của doanh nghiệp và ngời lao động; góp phần chống
tiêu cực, lãng phí, thiếu trách nhiệm trong hoạt động của doanh nghiệp; tạo điều
kiện để Nhà nớc tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực chủ yếu, xây dựng các
doanh nghiệp Nhà nớc chủ lực đủ sức chủ đạo, điều khiển nền kinh tế theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Với những tác dụng rất to lớn nh vậy, cổ phần hóa đã trở thành một giải pháp
cơ bản của quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nớc và là một tất yếu khách quan.
2. Khái niệm giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp trong quá
trình cổ phần hóa.
2.1. Giá trị doanh nghiệp.
8
Theo C.Mác, hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Doanh nghiệp cũng có
giá trị và giá trị sử dụng, vì doanh nghiệp trong bất kỳ nền kinh tế nào, thuộc bất
kỳ thành phần kinh tế nào khi đem bán dới hình thức nào cũng đợc xem nh hàng
hóa. Nhng doanh nghiệp có một đặc điểm cơ bản: đây là hàng hóa đơn chiếc, cá
biệt, không một doanh nghiệp nào giống một doanh nghiệp nào, vì thế giá trị của
nó cũng là giá trị cá biệt của một hàng hóa cá biệt.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là một cơ cấu phức tạp của nhiều yếu tố
có liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động của một doanh nghiệp phụ thuộc vào
nhiều mối liên hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tất cả những cái đó trong
một thể thống nhất tạo nên giá trị doanh nghiệp.
Để có thể đa ra khái niệm giá trị doanh nghiệp một cách chính xác, khi
nghiên cứu cần chú ý tới các đặc điểm của doanh nghiệp và phải trên cơ sở một
phơng pháp luận đúng đắn, đợc xác lập trên các căn cứ căn cứ khoa học và thực
tiễn
Nghị định 44/1998/CP-NĐ ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà nớc
thành công ty cổ phần có quy định:
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà ngời mua và ngời bán cổ phần đều chấp
nhận đợc.
Tuy nhiên, để có thể hiểu khái niệm này cần phải tiếp cận giá trị doanh
nghiệp dới những góc độ cụ thể.
2.1.1. Giá trị thanh lý.
Tài sản là một trong những yếu tố cấu thành doanh nghiệp. Khi xem xét nh
một tập hợp các tài sản thì giá trị thành lý của doanh nghiệp sẽ đợc ớc lợng bằng
số tiền thu đợc từ việc bán tài sản-các khoản nợ. Đối với một doanh nghiệp đang
hoạt động, giá trị thanh lý thờng nhỏ hơn giá trị thực của doanh nghiệp, bởi vì giá
trị doanh nghiệp còn phụ thuộc yếu tố tổ chức của doanh nghiệp. Nói cách khác,
tổng giá trị của tài sản riêng sẽ thờng nhỏ hơn giá trị của tất cả các tài sản đợc kết
hợp theo một cách tổ chức hiệu quả. Giá thanh lý thờng có vai trò quan trọng trong
mặc cả giá - nó đai diện cho giá khởi điểm mức giá tối thiểu mà ngời bán sẵn
sàng chấp nhận bán tài sản đợc đấu giá. Vì vậy, chủ doanh nghiệp sẽ không bán
doanh nghiệp của mình với giá thấp hơn giá trị thanh lý.
2.2.2. Giá trị kiểm kê.
Hoạt động kiểm kê của doanh nghiệp gồm có việc nêu đích danh, đếm số và
9
đánh giá toàn bộ các tài sản của doanh nghiệp, một mặt để xác định các giá trị kế
toán là đúng, mặt khác để đánh giá lại giá trị tài sản thực tế. Giá trị kiểm kê đợc
gọi là giá trị tài sản có ròng đã đợc đánh giá lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có một số
nhợc điểm:
- Một là, các tính toán đều dựa trên giá ban đầu của tài sản đợc thực hiện trên
sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Mặc dù có sự điều chỉnh các giá trị sổ sách theo
giá thị trờng nhng cá giá trị mới này vẫn mang tính chủ quan cao.
- Hai là, phơng pháp tính khấu hao. Vì có nhiều cách phân bổ chi phí khấu
hao đợc sử dụng nên có thể có tình trạng hai doanh nghiệp cùng hoạt động tai
cùng một thời điểm với những tài sản giống hệt nhau nhng giá trị ròng của hai
doanh nghiệp lại khác nhau.
- Ba là, giá trị kiểm kê không đề cập đến giá trị thực của doanh nghiệp, một
giá trị đợc đánh giá dựa trên giá trị sử dụng của nó.
Vì vậy cũng chỉ nên lấy giá trị kiểm kê để làm cơ sở cho giá trị thực tế cũng
nh giá bán của doanh nghiệp.
2.2.3. Giá trị tài chính.
Giá trị kiểm kê của doanh nghiệp chỉ tơng ứng với giá trị doanh nghiệp tại
một thời điểm nhất định. Nó không tính đến điều kiện đã hình thành nên tài sản
của doanh nghiệp qua quá trình hoạt động và vì vậy cũng không tính đến khả năng
sinh lời hoặc các rủi ro có thể gặp trong tơng lai.
Ngời mua chỉ tiến hành mua doanh nghiệp với hy vọng kiếm đợc lợi nhuận
và lợi nhuận siêu ngạch khi bán lại doanh nghiệp. Giá trị tài chính bắt nguồn từ
đó. Nó thờng xuyên dựa vào các tài liệu tham khảo, đặc biệt là của các quản lý
chứng khoán, dựa trên sự định giá của thị trờng chứng khoán.
Giá trị thờng bắt nguồn từ bên ngoài doanh nghiệp và các chuyển dịch trên
chứng khoán đợc thực hiện mà không có ý đồ làm thay đổi việc quản lý cũng nh
kiểm soát doanh nghiệp.
2.2.4. Giá trị kinh tế.
Trong một số trờng hợp, khi yêu cầu định giá doanh nghiệp là bắt buộc thì
giá trị tài chính bộc lộ những hạn chế vì thể hiện sự dánh giá không toàn diện về
giá trị doanh nghiệp. Vì vậy một quan niệm khác về giá trị đã đợc thay vào: giá trị
kinh tế.
Giá trị kinh tế hay giá trị thực của doanh nghiệp đợc xác định bởi quy mô và
mức độ chắc chắn của luồng thu nhập hàng năm trong tơng lai do sự kết hợp các
10
tài sản của doanh nghiệp trong một cơ cấu tổ chức mang lại.
Giá trị kinh tế giả thiết một cuộc chẩn đoán tổng thể của doanh nghiệp, diễn
ra bằng các yếu tố thặng d hoặc thiếu hụt của tài sản bằng việc lợng định các yếu
tố rủi ro hoặc thành công mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong một tơng lai xác
định. Theo nghĩa này, doanh nghiệp đợc tiếp cận nh một dự án, ở đó giá trị doanh
nghiệp tơng ứng với mức vốn đầu t ban đầu có thể chấp nhận khi dự đoán đợc
luồng thu nhập trong tơng lai của dự án cùng với mức độ chắc chắn của luồng thu
nhập đó.
Giá trị kinh tế cũng phản ánh một cái nhìn toàn diện về các nghiệp vụ và cấu
trúc của doanh nghiệp, tức là xem xét giá trị doanh nghiệp dới cả góc độ của ngời
bán và ngời mua.
2.2. Xác định giá trị doanh nghiệp.
ở nớc ta trớc đây xác định giá trị doanh nghiệp cha đợc quan tâm đúng với
vai trò của nó, vấn đề này chỉ mới đợc thực sự đề cập đến từ khi Nhà nớc có chủ
trơng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc.
Tại các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, giá trị doanh nghiệp là mối
quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu t. trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, mọi chiến lợc, mọi quyết định khi
đa ra đều hết sức chú ý đến giá trị doanh nghiệp và vấn đề tăng giá trị doanh
nghiệp. Chính vì vậy xác định giá trị doanh nghiệp trở thành vấn đề thờng nhật của
nền kinh tế. Giá trị xác định đợc là cơ sở để đánh giá chất lợng quản lý, để thơng
lợng trong mua-bán, sáp nhập doanh nghiệp
Thực chất của xác định giá trị doanh nghiệp chính là các hoạt động đi tìm giá
trị kinh tế hay giá trị thực của doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp của bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng là tổng hợp của 3 yếu tố: tài sản, tổ chức và lợi nhuận.
Trong đó tài sản và lợi nhuận có thể lợng hóa thông qua các phơng pháp kỹ thuật,
dự báo trong khi yếu tố tổ chức là yếu tố rất khó có thể lợng hóa chính xác. Ngay
cả khi lợng hóa đợc thì cũng không thể xác định giá trị doanh nghiệp bằng cách
cộng đại số đối với 3 đại lợng này. Vì vậy, có thể thấy định giá là một công việc
rất khó khăn vì phải tính đến nhiều yếu tố tác động lên doanh nghiệp, đồng thời
phải đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau.
Có rất nhiều khái niệm về xác định giá trị doanh nghiệp do các tác giả đứng
trên những góc độ khác nhau để xem xét:
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì: Xác định giá trị doanh nghiệp là việc xác định
tổng giá trị thực tế tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu của doanh
11
nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
Theo giáo s W.Seabrooke và N.Walker, Viện đại học Portsmouth, Vơng quốc
Anh thì : Định giá là một sự ớc tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể
bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích xác định rõ.
Một khái niệm khác cũng đợc nhiều ngời thừa nhận của giáo s Lim Lam
Yuan, Đại học quốc gia Singapore: Định giá là một nghệ thuật hay khoa học về -
ớc tính giá trị cho một mục đich cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm
của tài sản và cũng xem xét các yếu tố kinh tế cơ bản của thị trờng, bao gồm các
loại đầu t lựa chọn.
Trong kinh tế học, giá trị đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. C.Mác định
nghĩa giá trị là sự kết tinh của lao động xã hội cần thiết trong hàng hóa; một số
nhà kinh tế học phơng tây lại định nghĩa giá trị dới góc độ chủ quan, dựa trên giá
trị sử dụng, mức độ khan hiếm, ích lợi của hàng hóa. Hiện nay, ở các nớc phát
triển cho rằng: giá trị gắn liền với lợi ích thực sự của tài sản.
Từ đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì: Xác định giá trị doanh nghiệp là đánh
giá lợi ích thực sự của doanh nghiệp trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về nó trong một
môi trờng xác định.
3. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần
hóa trong nền kinh tế thị trờng.
3.1. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp và các yếu tố
cấu thành giá trị doanh nghiệp.
3.1.1. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp đợc đem trao đổi, mua bán dới bất kỳ hình thức nào thì giá
trị của nó đợc biểu hiện bằng tiền là giá cả. Để xác định giá cả trao đổi trên thị tr-
ờng thì không thể duy ý chí bằng cách thêm bớt, ớc lợng giá trị doanh nghiệp mà
cần phải tính toán một cách chính xác trên cơ sở các quy luật khách quan của kinh
tế thị trờng. Tức là phải xuất phát từ quy luật sản xuất lu thông hàng hóa (quy luật
giá trị và quy luật cung cầu), quy luật cạnh tranh, quy luật lu thông tiền tệ, đặc biệt
là quy luật lợi nhuận của nền kinh tế nhiều thành phần. Phải nghiên cứu sự vận
động, tác dụng của các quy luật này. Trên cơ sở đó, mới có các căn cứ để xác định
giá trị.
Theo quy luật giá trị thì giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội cần thiết
12
kết tinh trong đó quyết định. Vì thế, ngời ta thờng khái quát rất đơn giản và khá
chính xác là theo chất định giá.
Nhng theo quy luật cung cầu hàng hóa và dịch vụ thì khi cung cầu không cân
bằng, không thể "theo chất định giá". Trái lại, một hàng hóa giá trị xã hội cao nh-
ng không mấy ai cần thì giá cả trao đổi phải thấp mới bán đợc. Ngợc lại, một số
hàng hóa khác, giá trị xã hội thấp nhng cung không đủ cầu thì giá cả lên cao, ngời
ta vẫn mua. điều kiện ở đay là tiền tệ ổn định. nhng nếu tiền tệ lu thông rối loạn,
phá vỡ quan hệ cung cầu thì lại khác, không một hàng hóa nào mà giá cả thể hiện
đúng giá trị của nó. Thiếu sức mua trên thị trờng, tức thiếu tiền để lu thông. Thiếu
tiền thì giá cả phải hạ xuống cho phù hợp và ngợc lại sức mua lớn, có nhiều tiền đ-
ợc đa vào lu thông. Khi cung giảm thì giá tăng. Chỉ chừng đó cũng thấy rõ các quy
luật phát huy tác dụng trong kinh tế thị trờng có lúc vân động phù hợp với nhau dù
rất hiếm, nhng lại luôn tồn tại các mặt đối lập của chúng với nhau. Tuy vậy, các
quy luật này không loại bỏ, triệt tiêu nhau mà ngợc lại chúng đều tồn tại trong
điều kiện hoạt động của nền kinh tế thị trờng, nói các khác chúng là những mặt
đối lập trong một nền kinh tế thị trờng thống nhất.
Theo quy luật cạnh tranh, thì doanh nghiệp nào có thế lợi, có thực lực về
công nghệ, về vốn, về đội ngũ lao động lành nghề, về thị trờng tiêu thụ, uy tín với
khách hàng sẽ đánh bại đợc các đối thủ cạnh tranh yếu hơn và khi đem bán sẽ dễ
dàng bán đợc với giá cao.
Trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng thì quy luật lợi nhuận luôn
đợc các nhà đầu t quan tâm. Theo quy luật này thì môi trờng nào, lĩnh vực nào
mang lại lợi nhuận cao thì sẽ đợc quan tâm đầu t vốn và ngợc lại môi trờng, lĩnh
vực đầu t nào kém, không mang lại lợi nhuận hay lợi nhuận thấp thì sẽ không thu
hút đợc các nhà đầ t, thậm chí không đợc quan tâm đến. Trình bày các vấn đề này
để thấy rằng, trong nền kinh tế thị trờng thì quy luật lợi nhuận chi phối các hoạt
động kinh tế và có tác dụng định hớng cho các quy luật kinh tế khác hoạt động.
Việc xác lập một phơng pháp luận cho việc xác định giá trị doanh nghiệp
không thể không quan tâm đến các quy luật khách quan đó và phải lấy đó làm cơ
sở cho việc xác định giá trị doanh nghiệp.
3.1.2. Các yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp.
Giá trị doanh nghiệp là một tổng hợp của các yếu tố cấu thành nên nó. Các
yếu tố này gồm rất nhiều thành phần nhng có thể phân loại các yếu tố cấu thành
giá trị doanh nghiệp nh sau:
a) Giá trị tài sản hiện có, bao gồm tài sản cố định và tài sản lu động.
13
- Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là các t liệu lao động có giá trị lớn,
đợc sử dụng lâu dài tại doanh nghiệp, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Tài sản cố định gồm có tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất
nh văn phòng, nhà kho, phơng tiện vận tải
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp nh: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hóa
Tuy nhiên, tham gia cấu thành nên giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chỉ
gồm các loại tài sản cố định mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng và đợc định giá
trên cơ sở giá trị ban đầu trừ khấu hao và điều chỉnh theo giá hiện hành.
- Tài sản lu động bao gồm vốn bằng tiền, vật t hàng hóa, các khoản phải thu,
giá trị tài sản lu động khác (các khỏan thế chấp, ký quỹ, ký cợc ngắn hạn)
Tài sản lu động tham gia cấu thành nên giá trị doanh nghiệp cũng chỉ gồm
các tài sản mà doanh nghiệp đang dùng mà không tính đến các loại tài sản lu động
mà doanh nghiệp không cần dùng.
b) Giá đất nơi doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh và đất đ-
ợc giao quyền sử dụng nhng cha dùng vào sản xuất kinh doanh.
Theo quy định hiện hành thì giá trị đất không đợc tính vào giá trị doanh
nghiệp mà Nhà nớc chỉ tính giá cho thuê đất đối với các doanh nghiệp, tức là hàng
năm các doanh nghiệp phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nớc. Giá thuê đất đợc Nhà
nớc quy định căn cứ vào vị trí, diện tích đất đợc giao, bao gồm cả phần đất dùng
vào sản xuất kinh doanh và phần đợc giao nhng cha sử dụng vào kinh doanh.
c) Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần giá trị này là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợi thế tạo ra nh: vị trí địa
lý, uy tín mặt hàng. Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn
kinh doanh bình quân 3 năm trớc khi tiến hành cổ phần hóa và chỉ tính tối đa 30%
vào giá trị thực tế của doanh nghiệp.
Tổng hợp các yếu tố trên sẽ hình thành nên giá trị doanh nghiệp để từ đó hình
thành nên giá bán doanh nghiệp trong cổ phần hóa.
3.2. Mục đích, yêu cầu của việc xác định giá trị doanh nghiệp.
ở nớc ta, trong thời gian trớc đây các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động trong
cơ chế cũ, vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp cha đợc quan tâm. Chỉ đến khi
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét