Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius) hại họ rau thập tự và biện pháp phòng chống trong vụ Xuân Hè 2009

Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nghiên cứu trong nước
Theo Hồ Khắc Tín và cộng sự (1980) [7] ở Việt Nam có 4 loại sâu hại
chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, gồm: sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis), bọ
nhảy sọc cong vỏ lạc (P. striolata), sâu khoang (Prodenia litura Fabricius) và
rệp muội hại rau (Aphididae ). Bọ nhảy P. striolata là đối tượng sâu hại
nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự ở Việt Nam hiện nay cũng như nhiều
nước khác trên thế giới. Bọ nhảy thuộc họ ánh kim Chrysomelidae bộ cánh
cứng Coleoptera. Chúng gây hại cho rau ở cả 2 pha phát dục: sâu non và
trưởng thành.
Bọ nhảy trưởng thành có kích thước cơ thể dài 1,8 –2,4mm, hình bầu
dục, toàn thân màu đen bóng. Trên cánh có 2 vân sọc hình vỏ củ lạc màu
trắng. Thời gian sống của trưởng thành bọ nhảy rất dài, có thể tới 1 năm. Giai
đoạn từ khi vũ hoá đến đẻ trứng phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, có
thể từ 15 - 79 ngày.
Sâu non đẫy sức hình ống tròn dài 4mm, màu vàng nhạt. Có 3 đôi chân
ngực rất phát triển. Các đốt đều có u lồi, trên u có các lông nhỏ.
Nhộng hình bầu dục dài khoảng 2mm, màu vàng nhạt, mầm cánh và
mầm chân sau rất dài. Đốt cuối cũng có 2 gai lồi.
Trứng được đẻ ngay trên cây gần sát mặt đất, hình bầu dục dài 3mm,
màu vàng sữa. Trong điều kiện nhiệt độ khoảng 26
o
C trứng phát dục từ 4 - 8
ngày.
Quy luật phát sinh gây hại của họ nhảy có liên quan trực tiếp với một
số yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ và độ ẩm. Nhiệt độ dưới 10
o
C hoặc trên 34
o
C
bọ nhảy ít hoạt động và tìm nơi ẩn náu. Độ ẩm không khí trên 80% là thích
hợp, dưới 80% sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng trứng đẻ và tỷ lệ sâu sống.
5
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Mưa nhiều, bọ nhảy đẻ ít và tỷ lệ nở cũng như tỷ lệ sống sót sâu non
thấp.
Do trưởng thành bọ nhảy sống lâu và đẻ trứng kéo dài nên không tạo
thành lứa rõ rệt. Hàng năm chúng phá hại nhiều trên cây vụ Đông từ tháng 9
đến tháng 4 nhưng gây thiệt hại nặng nhất vào tháng 2 đến tháng 3.
Theo Nguyễn Thị Hoa và cộng sự (2002) [3] sâu hại rau họ hoa thập tự
chủ yếu có 6 loài: sâu tơ, sâu khoang, sâu xám, bọ nhảy, rệp và sâu xanh
bướm trắng. Bọ nhảy phát sinh gây hại quanh năm từ tháng 1 đến tháng 12.
Trong năm 2000, trên cây cải ngọt bọ nhảy phát sinh mạnh vào tháng 5 và
tháng 10, mật độ từ 100 - 135 con/m
2
. Nhưng năm 2001 bọ nhảy phát sinh
mạnh vào tháng 3, mật độ trưởng thành bọ nhảy là 107,5 con/m
2
. Bọ nhảy gây
hại nặng trên cải xanh, cải củ hơn ở cải bắp, xu hào. Vùng chuyên canh bị bọ
nhảy hại nặng hơn vùng xen canh. Mật độ bọ nhảy bị giảm mạnh khi có mưa
lớn, mưa kéo dài.
Kết quả khảo nghiệm hiệu lực trừ bọ nhảy của một số thuốc trừ sâu
Nguyễn Thị Hoa (2002) [3] cho thấy thuốc Regent 800 WG, nồng độ sử
dụng là 0,01% có hiệu lực trừ bọ nhảy cao nhất 98,2% tại thời điểm sau phun
5; 7 ngày. Tiếp đến là Padan 95 SP với nồng độ sử dụng là 0,25%, hiệu lực
trừ bọ nhảy trưởng thành từ 86,2 - 88,2%. Thuốc trừ sâu sinh học Delfin WG
với nồng độ sử dụng 0,1% hiệu lực trừ trưởng thành bọ nhảy thấp đồng thời
tác động của thuốc rất ngắn. Sau khi phun thuốc 1; 3 ngày hiệu lực trừ trưởng
thành bọ nhảy của thuốc là 46,5; 47,0% nhưng đến 5; 7 ngày sau phun hiệu
lực giảm còn 41,8% và 40,9%.
Bọ nhảy chủ yếu gây hại trên cây rau họ hoa thập tự nên việc dọn sạch
tàn dư, luân canh cây trồng hợp lý là biện pháp phòng trừ bọ nhảy có hiệu quả
cao đồng thời giảm được chi phí bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường,
đặc biệt là giảm được tồn dư thuốc trừ sâu trong sản phẩm.
Theo Phạm Thị Nhất (1993) [4], trưởng thành bọ nhảy có chiều dài từ 2
6
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
- 4 mm, có tính giả chết, ưa thời tiết khô, ấm. Bọ nhảy xuất hiện quanh năm,
nhưng phá hại mạnh nhất vào tháng 3 trên cây họ hoa thập tự. Mật độ trưởng
thành trên đồng ruộng có sự giao động rất lớn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, có khi mật độ lên tới 1000
con/m
2
, làm giảm năng suất chất khô, giảm năng suất thương phẩm thậm chí
làm thất thu hoàn toàn cho người trồng rau.
Theo Vũ Thị Hiển (2002) [2] thành phần sâu hại rau cải xanh ngọt vụ
Đông Xuân 2001 vùng Gia Lâm - Hà Nội gồm 7 loài gây hại chính thuộc 5 họ
và 3 bộ khác nhau trong số đó bọ nhảy P. striolata là loài gây hại nghiêm
trọng nhất. Bọ nhảy gây hại ở cả hai pha phát dục: sâu non và trưởng thành,
thời gian phát dục trung bình của các pha trứng, sâu non, nhộng ở 25
o
C là 6,5
- 15,24 - 10,07 ngày. Thời gian sống trưởng thành trung bình là 26,86 ngày
(25
o
C). Theo tác giả khi phun thuốc Sevin 85 WP (0,15%) và rắc Vibasu 10H
(0,7 kg/sào) xử lý đất có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy cao nhất đạt 72,26 và
76,51% sau khi xử lý 7 ngày. Padan 95SP (0,25%) có hiệu lực trừ trưởng
thành bọ nhảy cao nhất đạt 98,89% ngay sau khi phun 3 ngày với thí nghiệm
trong phòng và 82,83% với thí nghiệm ngoài đồng.
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001) đã qui
định mật độ sâu, tỷ lệ bệnh để thống kê diện tích nhiễm sâu bệnh (10TCN224
- 1995).
Đối với bọ nhảy hại rau họ hoa thập tự (trong cả giai đoạn sinh trưởng)
mật độ và tỷ lệ dịch hại dự thảo là 20 con/m
2
.
Diện tích nhiễm nhẹ: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ 50 -
100% mức qui định.
Diện tích nhiễm trung bình: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ
100 - 200% mức qui định
Diện tích nhiễm nặng: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh trên 200%
mức qui định.
7
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Diện tích mất trắng: là tổng số diện tích bị hại giảm trên 70% năng
suất. Nhìn chung, những nghiên cứu về bọ nhảy ở Việt Nam chưa có nhiều,
đặc tính sinh vật học, sinh thái học chưa được chú trọng. Cách phòng chống
bọ nhảy chưa được giải quyết. Hiện nay, các nghiên cứu vẫn chú trọng nhiều
đến việc áp dụng thuốc hoá học chưa có sự phối hợp với các biện pháp khác.
Ở nước ta, tại trung tâm đấu tranh sinh học (Viện bảo vệ thực vật) đã
nghiên cứu sản xuất nấm Metarhizium. sp để phòng trừ một số đối tượng sâu
hại cây trồng như: rầy nâu hại lúa, châu chấu hại ngô, sâu đo xanh hại đay
trong khoảng 5 năm nay bước đầu đã thu được kết quả nhất định.
Từ năm 1992, Phạm Thị Thuỳ và cộng sự thuộc Viện Bảo vệ thực vật
đã phân lập, nuôi cấy và thử nghiệm các chủng Metarhizium.sp thuộc 2 loài
Metarhizium anisopliae và Metarhizium flavoviride để phòng trừ cho các loại
sâu bọ hại cây nông, lâm nghiệp bằng phương pháp phun trực tiếp bào tử
Metarhizium.sp trên đồng ruộng. Kết quả cho thấy hiệu lực diệt sâu xanh của
M. anisopliae ở nồng độ 7,4 x 10
11
bt/ml là 78,31% sau 7 ngày phun, tuy nhiên
cũng với nồng độ này khi thử nghiệm trên rầy nâu chỉ đạt 30% sau 10 ngày
phun. Vào năm 1993, các tác giả lại thử nghiệm chế phẩm M. anisopliae trên
rầy nâu Nilaparvata lugen Stal tuổi 3, kết quả cho thấy ở mật độ 6,8 x 10
8
bt/ml hiệu quả phòng trừ đạt 89,93% sau 10 ngày phun. Đối với sâu đo hại
đay Anomis flava, các tác giả đã dùng mật độ 7,5 x 10
8
bt/ml để phòng trừ, kết
quả đạt 76,92% sau 7 - 10 ngày thí nghiệm.
Năm 1996, Tạ Kim Chỉnh thử nghiệm M. anisopliae trên mối
Coptotermes formosanus và cho biết mối chết do nấm sau 3 ngày là 91,35% ở
mật độ 18 x 10
7
bt/ml. Ngoài ra tác giả còn thử nghiệm trên châu chấu di cư
(Locusta mirgratioria) và hiệu quả đạt tới 92,2%.
Năm 1997, Viện Bảo vệ Thực vật đã phối hợp với lâm trường Lương
Sơn, tỉnh Hoà Bình sử dụng M. anisopliae để diệt châu chấu mía (Hierogliphus
tonkinensis) hại luồng. Hiệu quả đạt 76,2% sau 2 tuần và 94,4% sau 3 tuần phun.
8
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Ở nước ta thu thập và phân lập, tuyển chọn được 28 chủng (10 chủng
Bauveria bassiana, và 18 chủng (Metarhizium anisopliae) trên các loài sâu hại
khác nhau ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Vừa qua trung tâm sinh học (Bảo
vệ thực vật) đã sản xuất được 2,355 kg Bauveria bassiana và 3,275 kg
Metarhizium anisopliae sử dụng trừ sâu keo da láng, sâu khoang ăn lá đậu
tương và sâu xanh đục quả đậu xanh với hiệu quả là 68,2 - 72,3% (Bauveria
bassiana), 69,2 - 75,1% (Metarhizium anisopliae), trừ bọ dừa đạt 63,63 -
81,42% (Metarhizium anisopliae) còn viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã
sản xuất được 32175 kg chế phẩm Metarhizium anisopliae và 1265 kg
Bauveria bassiana để phòng trừ sâu hại lúa, cây ăn quả và cây công nghiệp
với hiệu quả phòng trừ đạt 70 - 80%. Đã đăng ký được 2 chế phẩm vào danh
mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.
Tại các tỉnh phía Nam, hiệu lực của các chế phẩm này trong nhà lưới
nhìn chung đạt cao hơn trên đồng ruộng (chẳng hạn Bauveria bassiana đạt
hiệu lực 85,56 - 91% đối với bọ cánh cứng hại dừa khi thực hiện trong nhà
lưới. Còn Metarhizium anisopliae có hiệu lực 69 - 91% đối với côn trùng
chích hút trên đồng ruộng và thực tế cho thấy đối với sâu non của côn trùng
cánh vảy thì Bauveria bassiana có hiệu lực hơn Metarhizium anisopliae,
nhưng đối với côn trùng chích hút, mối và bọ cánh cứng hại dừa thì hiệu quả
phòng trừ chưa cao.
Đối với các tỉnh phía Bắc trong phòng thí nghiệm, hiệu lực của chế phẩm
này trên sâu xanh hại bồ đề đạt 68,5% sau 10 ngày thí nghiệm. Trên bọ xít
nhãn vải 81,7% sau 12 ngày thí nghiệm. Nhưng hiệu lực của chế phẩm này lại
đạt khá cao khi thực hiện ở ngoài đồng ruộng. Cụ thể là hiệu lực với sâu xanh
hại bồ đề Yên Bái 88% sau 10 ngày thí nghiệm (Bauveria bassiana) và 89,7%
sau 10 ngày thí nghiệm (Metarhizium anisopliae).
Trong chi Metarhizium có 2 loại nấm được xác định nhiều trong việc gây
bệnh trên côn trùng là: Metarhizium anisopliae Sorok.(Ma), 1883,
9
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Metarhizium flavoviride Gams, 1973, Metarhizium anisopliae Sorok, (Ma),
1883 vì nấm có mầu xanh lục hay màu lục gọi là nấm lục cương.
2.3. Nghiên cứu ngoài nước
2.3.1. Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ của Phyllotreta striolata
Phân loại côn trùng là yêu cầu cơ bản để nghiên cứu đặc điểm hình
thái, sinh vật học và tác hại của chúng. Đồng thời tiến hành các công tác kiểm
dịch thực vật và có các biện pháp phòng chống thích hợp.
Tổ chức C.A.B.I (1999) đã xác định vị trí phân loại của P. striolata
như sau:
Vị trí phân loại:
- Giới (Kingdom): Animalia
- Ngành (Phylum): Arthropoda
- Lớp (Class): Insecta
- Bộ (Order): Coleoptera
- Họ (Family): Chrysomelidae
- Họ phụ (Sub family): Aticinae
- Giống (Genus): Phyllotreta
2.3.2. Tác hại của Phyllotreta striolata
Theo Kalshoven (1981) [23] P. striolata là loài dịch hại chính của rau
họ hoa thập tự đặc biệt là ở giai đoạn cây giống trong vườn ươm vùng Java
Indonexia. Chúng xuất hiện phổ biến ở đồng bằng và trung du, nhưng
hiếm khi tìm thấy chúng ở độ cao trên 1200 m. Trưởng thành hoạt động
vào giờ nóng trong ngày và nhảy bật lên khi bị khua động.
Cây cải củ vụ sớm ở miền tây Kansas thường bị bọ nhảy phá hại rất
nặng. Bọ nhảy chủ yếu gây hại ở phần trên bề mặt lá, phần thân mọng
nước đây là nguyên nhân gây ra héo lá, lụi cây. Khi cây cao 1 inch bộ lá bị
tấn công mạnh theo Jee (1994) [22].
10
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Theo Burgeess (1981) [11] cho rằng ở Canada thiệt hại lớn nhất đối với
cây cải lá là do bọ nhảy trưởng thành quá đông gây ra trên cây giống vào mùa
xuân. Sự di chuyển của trưởng thành bằng phương thức bay, nhảy đã chuyển
từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng một cách nhanh chóng.
Hoạt động ăn mạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành khi gặp thời tiết thuận lợi:
nắng, ấm và hanh khô.
Theo Osipov (1985) [27] bọ nhảy là một trong 3 loài côn trùng gây hại
nặng nhất cho cây cải dầu mùa hè ở Belarut, con trưởng thành ăn thủng lá,
làm chết cây con trong điều kiện nóng, khô vào mùa xuân.
Theo Eddy (1938) [15] thì ở Louiisana và Texas Gulf Mỹ, Phyllotreta
striollata Fabr được coi là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa
thập tự nhất là cây cải xanh ngọt, cải đắng giai đoạn cây giống trong vườn
ươm. Ngoài đồng ruộng, cây rau thường bị hại ở bộ lá làm giảm năng suất,
giảm giá trị thương phẩm của rau nên làm giảm hiệu quả kinh tế của người sản
xuất.
Bọ nhảy trưởng thành ở Pensylvania, Mỹ đã làm giảm rõ rệt chất lượng
cây giống dẫn đến làm giảm kích thước của cây, giảm hàm lượng chất khô
trong sản phẩm nhất là vào tháng 8 hàng năm (Reed và Byer, 1981) [29].
Ở Manitoba, Canada trồng suplơ vụ sớm làm cho tỷ lệ cây bị chết do
bọ nhảy gây ra rất cao. Trồng cây con quá nhỏ cũng làm cho bọ nhảy trưởng
thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã có đủ từ 6 - 8 lá (Soroka
và Pritchard, 1987) [31].
2.3.3. Đặc điểm sinh vật học của Phyllotreta striolata
Theo Chen và cộng sự (1990) [13] P. striolata Fabricius là loài côn
trùng gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ cải xanh ngọt ở Đài Loan. Trưởng
thành cái đẻ trứng vào cuống lá hoặc trong đất. Đôi khi trứng được đẻ từng
quả riêng lẻ nhưng thường đẻ thành cụm từ 4 - 5 quả trong đất ở độ sâu 2 -
11
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
3cm. Ở Đài Loan tuổi thọ của trưởng thành đa dạng, dài nhất là trên cây cải
bao (33 ngày).
Harukawa và Tokunaga (1938) [18] cho rằng trứng của P.striolata hình
ovals, chiều dài khoảng 0,42mm, chiều rộng khoảng 0,27mm, chúng chuyển
từ màu trắng sữa hoặc trắng vàng ngay sau đẻ đến màu trắng trong suốt do sự
tiêu huỷ lòng đỏ trứng trong quá trình phát triển. Những quả trứng được phủ
một màng mỏng chất nhờn. Màng đệm có đường vân đẹp với bề mặt nhiều
cạnh nhỏ. Trứng nở sau khi đẻ khoảng 7 - 10 ngày.
Sâu non P. striolata hình trụ, mập, màu trắng, đầu có màu nâu. Phần
ngực và bụng được phủ một lớp lông thưa, ngắn, cứng màu vàng nhạt, trên lỗ
thở được phủ lớp lông màu nâu nhạt. Miệng, mảnh cứng của đôi chân ngực có
màu nâu nhạt. Hàm trên, hai bên đầu, móc đệm của chân đều có màu đen. Sâu
non P. striolata có ba đôi chân ngực phát triển. Phần cuối của bụng được chia
thành hình oval mỏng ở phía trước và cơ quan hậu môn hình trụ phía sau. Sâu
non có ba tuổi, hình thái ở ba tuổi đều giống nhau, nhưng khác nhau về kích
thước. Sau khi nở sâu non dài khoảng 0,84mm sau đó phát triển đến khoảng 4
- 5mm sâu non đẫy sức. Thời gian phát dục của sâu non từ 23 - 34 ngày.
Sự hoá nhộng diễn ra trong đất, ở độ sâu 2 - 5cm. Nhộng có râu đầu,
mầm chân, mầm cánh đều lộ rõ. Đốt cuối có hai gai lồi, ở giai đoạn nhộng có
sự thay đổi màu từ màu trắng hoặc vàng nhạt đến nâu vàng. Đầu, ngực, bụng
có những lông cứng, thưa ở những vị trí xác định. Phần bụng thon cho đến đốt
bụng thứ 4 và có thể được chia thành: 7 đốt trước lớn, 2 đốt sau nhỏ. Các lỗ
thở ở các đốt ngực giữa và ở 7 đốt bụng đầu tiên của nhộng. Con nhộng cái
dài khoảng 1,9mm và rộng khoảng 0,8mm; con đực dài khoảng 1,7mm, rộng
0,7mm. Đốt cuối có gai lồi.
Theo Chen và cộng sự (1991) [13] trong điều kiện phòng thí nghiệm có
11 thế hệ kế tiếp nhau trong một năm. Ở Đài Loan tuổi thọ của trưởng thành
trong mùa thu là 40 - 52 ngày, 20 - 23 ngày vào mùa hè. Trong khoảng từ
12
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
tháng 11 đến tháng 1 năm sau một thế hệ mới được hoàn thành trong vòng 60
đến 67 ngày và từ 33 - 38 ngày trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8.
Bọ nhảy P. striolata không thể sống sót trong điều kiện nhiệt độ nhỏ hơn
16
o
C, chúng phát triển mạnh ở ngưỡng nhiệt độ >20
o
C. Tỷ lệ chết cao khi
nhiệt độ > 32
o
C và nhỏ hơn 20
o
C.
Ở Đài Loan, P. striolata xuất hiện quanh năm nhưng mật độ cao nhất
vào mùa khô (nhiệt độ thích hợp nhất cho bọ nhảy là từ 20 - 28
o
C). Sự tăng
trưởng của bọ nhảy bị ảnh hưởng bởi mưa lớn hoặc mưa kéo dài và nhiệt độ
cao. Qua quan sát hai thế hệ bọ nhảy trên một vụ cải củ người ta nhận thấy:
mật độ quần thể ở thế hệ thứ hai cao hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất, do vậy
cây cải củ ở thời kỳ đầu của vụ sau bị hại ngiêm trọng. Trong 107 mẫu đất
được thu thập định kỳ hàng tuần vào những năm 1989 - 1991 trung bình có
161 sâu non và nhộng trên một m
2
đất, mật độ cao nhất lên tới 1310 con/m
2
.
2.3.4. Các biện pháp phòng chống
* Biện pháp sử dụng giống chống chịu sâu bệnh
Sử dụng giống chống chịu sâu bệnh là công việc mới và có hiệu quả
trong phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp nói chung, cây rau nói riêng.
Theo Lamb và cộng sự (1993) một số dòng cải dầu Brassica napus có
tính kháng với bọ nhảy rất cao như L19, M12 và đã được sử dụng phổ biến
trong sản xuất ở Manitoba, Canada.
Pivnick và cộng sự (1992) [28] đã kết luận rằng giống rau cải Brassica
khi điều chỉnh lượng Iosthiocyanate trong cây sẽ tạo nên giống chống hoặc
giống mẫn cảm với bọ nhảy P. striolata.
Cũng theo Picvick và cộng sự bẫy dầu cải đã được sử dụng ở Manitoba,
Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng. Chất
Nitriles trong thành phần sinh hóa của cây cải có mùi thơm và khả năng thoát
mùi cao đã có tác dụng quyến rũ bọ nhảy.
13
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Ngoài ra, việc sử dụng lưới chắn để khống chế số lượng bọ nhảy hại
cây con giống họ cải đã được Palaniswamy và cộng sự (1992) tiến hành có
hiệu quả cao ở Canada.
Một số giống súp lơ được tạo ra bằng lai tạo có khả năng chống bọ
nhảy rất cao, ngược lại một số giống rất mẫn cảm với bọ nhảy như giống Broc
5 và giống Glossy, theo Stoner (1992).
* Biện pháp vật lý, kỹ thuật trồng trọt
Theo Picvick, Lamb và Reed (1992) bẫy dầu cải đã được sử dụng ở
Manitoba, Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng.
Chất Nitriles trong thành phần sinh hóa của cây cải có mùi thơm và khả năng
thoát mùi cao đã có tác dụng quyến rũ bọ nhảy.
Eddy (1938) [15] cho rằng việc dọn sạch những tàn d ư sau thu hoạch
cũng góp phần ngăn chặn sự tái sinh sản của bọ nhảy trên đồng ruộng. Vun
xới đúng thời điểm, đúng kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp làm
giảm số lượng sâu non bọ nhảy trên đồng ruộng, lại không gây ô nhiễm môi
trường sống.
Không xử lý cỏ dại khi gieo cải lá vào cuối tháng 7 đã làm giảm rõ rệt
năng suất chất khô so với việc dọn sạch cỏ cùng tàn dư cây trồng. Bởi bọ
nhảy sinh sản nhanh, tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ
dại và các thực vật trên đồng ruộng theo Reed và Byers (1981) [29].
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cây đến mật độ bọ nhảy
đã được Dosdal và cộng sự (1998) [14] trung tâm Alberta, Canada tiến hành
tại Polish và Arrgentina Canola trên 2 loại rau cải Brassica rapa L. và
Brassica napus L. Kết quả thí nghiệm cho thấy khoảng cách (cây x cây) hợp
lý nhất làm giảm mật độ bọ nhảy, đối với Brassica napus L. là 14cm và đối
với Brassica rapa L. là 30cm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét